
Người ơi Lê Thị Hoài
Nam
Vy đ
ứ
ng trên sân ga, tay xách nách mang nh
ấ
p nh
ỏ
m ch
ờ
tàu
đến. Người đàn bà đứng cạnh Vy làu bàu: “Tàu với chả bè”,
rồi trút tiếng thở dài. Vy nhìn đồng hồ, chợt nhớ đến cái bảng
thông báo giờ tàu đến 16 giờ 34 phút. Chậm đúng nửa tiếng.
Thường cái gì chính xác quá lại không chính xác.
“Tàu đến”, ai đó nói như reo. Ga Huế náo nhiệt hẳn lên bởi tiếng gọi, tiếng
kêu của đám người đông kịt, tiếng mời chào dẻo quánh của các cô gái bán
hàng rong. Hành khách kẻ lên người xuống, kẻ đón người đưa bu kín cả thành
tàu. Vất vả lắm Vy mới đu người được lên tàu.
Lách mãi Vy mới đến được khoang của mình. Mọi người đã ngồi kín, hình
như họ lên ga từ trước. Thu xếp xong hành lý, Vy thở phào, áp mặt ra cửa tàu
có chắn tấm lưới bảo hiểm đón gió. Bức quá! Mồ hôi ướt rỏng lưng. Chắc là
sắp có giông, mây đen nhuộm xám cả bầu trời thế kia. Vy hắt hơi mấy cái
liền, có lẽ trong nhà đang nhắc mình đấy. Giờ này chắc đông đủ cả, nghe đâu
vợ chồng anh chị Biên từ Hà Nội cũng bay vào hôm qua.
Thật ra Vy đã thấp thỏm về chuyến đi này cả tuần lễ rồi. Nhưng kẹt, sáng qua
cô mới thi lấy chứng chỉ C Anh văn nên không thể vào sớm hơn được. Cách
đây hơn tháng, mẹ đã viết thư nhắc nhẹ, có cả trách móc: “Hồi trướ
c U thương
con nhất vậy mà dăm ba lần kỵ vẫn không thấy mặt mũi đâu”. Quỳ, em út Vy
cũng xin vài dòng tái bút chua lét : “Chị Vy ơi vào mà xin U phù hộ độ trì cho
để kiếm tấm chồng không thì ê sắc đấy”. Con Quỳ chỉ được cái lếu tếu nhất
nhà, ai nó cũng đùa được.
Hình như một lần, mẹ cũng bảo Vy như thế. Vy mới ngoài hai mươi tuổi mà
mẹ đã có lý do “Cứ làm như thời mẹ không bằng”. Nhưng nghĩ lại chỉ thấy

thương m
ẹ
. Th
ử
h
ỏ
i trong nhà có đ
ế
n b
ả
y cô gái, b
ả
y qu
ả
bom n
ổ
ch
ậ
m m
ẹ
không lo sao được. Rồi nghĩ ngợi “Chả lẽ chuyện chồng con lại quan trọng
vậy sao”.
Chả biết U có linh hiển hay không mà từ ngày U mất trong nhà hễ có chuyện
lễ lược, cưới xin chuyện làm ăn, chuyện đi Tây, chuyện thăng quan tiến chức
là mẹ lại dâng lễ cầu xin U. Thực hư thế nào Vy không tường nhưng huyền
thoại về U cứ nối dài ra mãi.
Bắt đầu là cái gia sản kếch xù của anh Chỉnh. Anh Chỉnh là anh cả Vy, chưa
đầy 30 tuổi đã là tay có máu mặt ở thành phố. Ở Sài Gòn phồn hoa đô hội mà
nhà mặt tiền phố chính, cái để ở, cái cho doanh nghiệp nước ngoài thuê, cái
nào cũng chót ngót ba bốn tầng; xe hơi đời mới loại xịn, trong nhà bội thực
tiện nghi cùng cô vợ xinh đẹp không kém gì người mẫu thời trang.
Nhiều lần mẹ giảng giải với con cháu rằng: “Hồi Mậu Thân pháo kích từ biển
nã vào thành phố mù trời. U bị sập hầm, chính thằng Chỉnh đã phát hiện ra và
đào bới cứu được U. Rồi khi U ốm đau nó chăm sóc U tử tế lắm. Sau này U
mất, công việc bề bộn thế mà nó vẫn bỏ cả tuần lễ ra Huế bốc mộ U đưa vào
Sài Gòn hỏa tang rồi gửi chùa. Nó bảo: “Như thế không lẫn, không mất mà
tiện bề hương khói”. Rồi mẹ kết luận: “Nó sống trước sau tình nghĩa thế nên
giờ U mới phù hộ độ trì cho nó ăn nên làm ra”. Con Quỳ cãi: “Mẹ chỉ được
cái mê tín, anh Chỉnh giàu là vì anh ấy buôn lậu xuyên quốc gia. Máu liều như
anh ấy tháng kiếm vài ngàn đô là thường”. Rồi nó nheo mắt tặc lưỡi: “Mà
cũng coi chừng của thiên lại trả địa”. Mẹ xén ngang: “Nói chi vô hậu, phải
biết kiêng mồm kiêng miệng, mê tín là thế nào, toàn chuyện nhỡn tiền cả đấy
thôi, đâu chỉ có chuyện của thằng Chỉnh”.
Dường như để khẳng định thêm sự linh nghiệm, mẹ lại kể chuyện chị
Trang đi
thi đại học. Vừa nhìn thấy đề thi đã bủn rủn chân tay, chị khẩn cầu U hãy giúp
đỡ chị. Thế là như có người mách bảo, chị Trang cứ thế viết liền một mạch
không phải nghĩ ngợi gì cả. Quỳ lại chích: “Mẹ nói chi lạ, U đâu có biết chữ

mà đ
òi gi
ả
i toán đ
ạ
i h
ọ
c đư
ợ
c? M
ẹ
không bi
ế
t đ
ấ
y thôi, ch
ị
Trang nhà mình có
bằng quay ca-mê-ra hạng siêu đấy mẹ ạ”. Vớt vát mẹ bảo: “Thần thánh cần gì
phải học mới biết, thế chuyện chị Tâm mày lấy chồng bảy tám năm trời không
đẻ đái gì, nếu không dâng lễ hậu cầu xin U thì bây giờ có cu Tuấ
n không? Còn
đời cô đấy!”. Quỳ lắc đầu, biết nói với mẹ cũng vô ích. Nó hét to: “dxet – xờ”.
Từ tảng sáng, mẹ đã giục rối cả nhà thức dậy chuẩn bị làm cỗ. Mẹ là dâu cả.
Từ ngày cha mất mọi việc kỵ giỗ, lễ lược đều mình tay mẹ đứng ra sắp đặt rồi
mời chú của Vy đứng ra làm chủ lễ. Mỗi năm nhà thường có năm bảy đợt kỵ,
có lễ mẹ phải chuẩn bị cả tháng ròng.
Giỗ U năm nay mẹ làm lớn, kể cả đám con cháu dâu rể, khách mời ngót nghét
cả trăm. Nhưng mẹ không làm cỗ mặn, nhà Vy có truyền thống giỗ kỵ thế nào
cũng chỉ cỗ chay. Trước đây U nổi tiếng là người nấu món chay vừa ngon vừa
khéo. Nghe đâu U được bà nội truyền cho công kỹ lắm. Soạn cỗ chay mà giao
cho U là mẹ không phải lo lắng gì nữa. Thật ra dân theo đạo Phật ở Huế nhiề
u,
nhà nào cũng ăn chay định kỳ vào ngày rằm, mồng một nên hầu như ai cũng
biết nấu món chay, nhưng để được gọi là nghề thì ít ai dám tự khẳng định.
Nhìn U gọt tỉa rau củ sắp đặt mâm cỗ là Vy cứ mê đi như được ngắm một
thảm hoa ngũ sắc. Vật liệu soạn cỗ chay đi lại cũng chỉ khuôn đậu, nấm, phù
chúc, rau quả, tương chao không thịt cá gì mà mâm cỗ vẫn thịnh soạn, người
lạ nhìn vào không phân biệt được chay mặn. Đã nhiều lần Vy chứng kiến
khách khứa đến dùng cỗ, nhìn mâm cỗ cứ trầm trồ khen ngợi, thán phục, nửa
muốn xăm đũa, nữa lại không nỡ như sợ làm hỏng một tác phẩm nghệ thuật.
Có lần U đang loay hoay xếp ghép cho ra hình con công xòe đuôi, thấy Vy U
hỏi: “Con coi đã giống chưa?”. Dạ rồi, rất đẹp ạ, “nhưng mà…”, “nhưng mà
chi”; Nhưng mà U làm cỗ chay tại sao cứ muốn cho nó giống cỗ mặn. Làm thế
có khác gì “hồn Trương Ba da hàng thịt không hở U?”. U bảo: “Cho nó đẹp”.
Vy cãi: “Nhưng hoa lá cũng đẹp chứ sao”. U thở dài: “Có ai bỗng dưng mà trở
thành thánh đâu con”. Vy không hiểu được những ẩn ý trong lời nói của U
nhưng cũng không gặng hỏi thêm.

Đ
ã nhi
ề
u l
ầ
n Vy g
ạ
g
ẫ
m: “U bày cho con n
ấ
u món chay v
ớ
i nghe”. U nhìn Vy
lạ lẫm: “Chà con gái tân tiến, sắp ăn cơm hộp đến nơi cần chi phải học mấy
thứ lẩm cẩm ni, định cướp nghề của U hở?”. Vy năn nỉ: “Con thích thật mà U,
có cơm hộp rồi lại càng phải học. Bộ bữa ni có máy vi tính rồi là không cần
tập viết nữa sao”. “Chà lý sự dữ hè, biết cái chi cực cái đó con ơi, cứ có ăn
ngon là được rồi, dại chi dại rứa”. “Nhưng nhỡ U…”, Vy biết mình lỡ lời. U
cười “trù tui hả”, rồi cũng chỉ vẽ cho.
Trước khi vào chính lễ, ông chú Vy áo dài khăn đóng, bê một chiếc khay trên
đó mẹ Vy đã chuẩn bị một ly nước trong, miếng trầu, chén rượu, hoa quả, giấ
y
vàng bạc và hai tờ tranh in bằng gỗ hình hai vị môn thần đặt ở cổng rồi thắp
hương khấn vái, nói là để cầu xin nhị vị môn thần cho phép vong linh vào
cổng, vào nhà hưởng lễ cúng.
Sau lễ nhập môn, cả nhà lục tục lên gác để vào chính lễ. Mấy hôm trước mẹ
bảo anh Chỉnh lên chùa thỉnh thầy về tụng kinh. Anh Chỉnh mời được hai
thầy. Thầy có tuổi là Thượng tọa, mẹ gọi ông xưng con. Đệ tử của thầy chỉ
bằng tuổi con cháu, mẹ vẫn một tiếng thưa thầy, hai tiếng thưa thầ
y thành kính
lắm. Vy lẩn trong đám con cháu đứng lố ngố phía sau, tay chắp trước ngực,
mắt ngó trộm thầy đệ tử. Đẹp trai chi lạ, mặt mũi cứ như diễn viên Hồng
Kông, mày ngang, mũi thẳng, mắt sáng, đôi môi dày đỏ mọng trông mới gợi
cảm làm sao. Con Quỳ đứng cạnh cũng rỉ vào tai Vy: “Chao ơi thầy tu chi
uổng rứa, chắc cũng được vài năm là hết chịu nổi cho coi”. Vy lườm: “Đồ con
yêu bánh nậm”, nhưng lại nghĩ “nó nói phải”. Khi thầy tụng niệm, cặp mắt
sáng nhìn ngay kim thân Đức Phật, tay đưa hương ngang trán “Ấn lan tỏa ha,
ấn tap ha bà ha. Bà phạ trật độ bám; nguyện thử diệu hương vân…” Giọng
thầy hòa trong tiếng mõ, tiếng chuông tạo thành tấu khúc không du dương
trầm bổng nhưng thanh thản thành kính, đầy lòng tin cậy. Con Quỳ lại lắc đầu
bấm tay Vy rồi hướng lên bàn thờ nhẩm tụng không nói gì thêm nữa.
Trong khi hai thầy thay phiên nhau tụng niệm, mẹ Vy quỳ trước bàn Phật,
chắp tay sụp lạy. Sau hơn tiếng đồng hồ mà lễ vẫn chưa dứt, đám con cháu đã

m
ỏ
i m
ệ
t,
ủ
ê, m
ấ
t h
ế
t kiên nh
ẫ
n. Anh Ch
ỉ
nh thôi không ch
ắ
p tay n
ữ
a, l
ầ
n túi
tìm thuốc như một quán tính. Chị Biên cũng tìm cớ chuồn xuống bếp nói là để
trông coi việc nấu nướng. Vy cũng cảm thấy tê dại cả đôi chân, chuyển đổi tư
thế liên tục. Vy chỉ ngạc nhiên về mẹ, “Ngày thường ngồi lâu mẹ vẫn kêu
nhức mỏi, chóng mặt; vậy mà bây giờ gương mặt mẹ xem ra không có vẻ gì
ốm đau bệnh tật. Điều gì đã làm mẹ dẻo dai thế, đức tin chăng?”.
Buổi chiều, Vy rủ Quỳ lên chùa thắp hương cho U. Quỳ ô-kê ngay. Hai chị
em
phóng xe ngay trong cơn mưa chiều chợt đến, chợt đi. Xa lộ dẫn về phía Tây
thành phố chìm trong biển mưa. Hình như người Sài Gòn ít có thói quen trú
mưa, trong mưa xe lớn, xe nhỏ vẫn rú ga phóng văng mạng. Dù, áo mưa đủ
màu, đủ kiểu xòe ra như nấm. Cả Sài Gòn rùng rình như trong cơn địa chấn.
Thật khó hình dung cách xa lộ chừng vài trăm mét ngoặt về phía phải là một
thế giới khác xa lạ và chết chóc. Đó là tháp Phổ Đồng, một nghĩa địa lộ thiên
với hàng ngàn hài cốt trần trụi giữa một vùng đất rộng.
Tháp được xây cất trong khuôn viên chùa Huệ Nghiêm. Có lẽ tuổi chùa chưa
được bao nhiêu nên kém phần u tịch. Tháp cao bảy tầng, hình tứ giác, được
quét phủ màu ghi xám. Tầng một dùng để tiếp khách và thờ Phật địa tạng. Từ
tầng hai trở đi là nơi bảo trì việc tế tự hài cốt.
Quen lối nhưng Vy vẫn dè dặt bước. Hai chị em Vy rón rén bước trong im
lặng. Vy men theo chiếc cầu thang bằng đá lạnh ngắt, tối om. Trên mảng
tường ghi xám có những ô cửa nhỏ. Ánh sáng le lói lọt vào trông như những
lỗ thông hơi. Vy liếc mắt nhìn ra. Ngoài kia là nắng, là trời xanh cây cỏ, là
cuộc sống trần thê quay cuồng hối hả, còn ở đây là chốn thâm u mờ ảo giăng
đầy sương khói. Trầm hương phả nhẹ xua tan trong Vy nỗi sợ hãi phi lý
truyền kiếp. Có vài người cùng xách đồ lễ lên tháp, không ai nói gì, có lẽ họ
cũng như chị em Vy, thăm viếng, tưởng nhớ và kết thúc ở cầu xin.
Kệ tháp ken dầy các hũ cốt. Đó là những bình gốm cao thấp, vuông tròn với
hoa văn đủ kiểu. Ánh sáng nhòa nhạt hắt ra từ chiếc đèn nê-ông quyện trong

