intTypePromotion=1

Nguyên nhân và biến chứng bệnh kiết lỵ

Chia sẻ: Pham Ngoc Linhdan | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
75
lượt xem
5
download

Nguyên nhân và biến chứng bệnh kiết lỵ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bệnh kiết lỵ là tình trạng nhiễm trùng ở ruột già do Entamoeba histolyca hoặc do vi khuẩn Shigella. Hầu hết nhiễm trùng ở dạng mang mầm bệnh không triệu chứng, một số biểu hiện ở dạng tiêu chảy nhẹ kéo dài, hoặc trầm trọng hơn là lỵ tối cấp. Biểu hiện lâm sàng ngoài ruột thường là áp xe gan, có thể vỡ vào màng bụng, màng phổi, màng ngoài tim. Nguyên nhân gây bệnh kiết lỵ

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nguyên nhân và biến chứng bệnh kiết lỵ

  1. Nguyên nhân và biến chứng bệnh kiết lỵ Bệnh kiết lỵ là tình trạng nhiễm trùng ở ruột già do Entamoeba histolyca hoặc do vi khuẩn Shigella. Hầu hết nhiễm trùng ở dạng mang mầm bệnh không triệu chứng, một số biểu hiện ở dạng tiêu chảy nhẹ kéo dài, hoặc trầm trọng hơn là lỵ tối cấp. Biểu hiện lâm sàng ngoài ruột thường là áp xe gan, có thể vỡ vào màng bụng, màng phổi, màng ngoài tim. Nguyên nhân gây bệnh kiết lỵ Đó là do vi khuẩn shigella gây viêm toàn bộ đại tràng và trực tràng. Bệnh thường lây truyền qua phân. Người thân trong gia đình bị bệnh, đi cầu không rửa tay, lấy thực phẩm cho bé ăn hoặc mua thực phẩm đường phố có nhiễm shigella. Cũng có thể trong nhà nuôi chó, mèo, phân chó, mèo cũng chứa vi khuẩn gây bệnh. Trẻ thích chơi với súc vật, sờ vào lông, bò ra nền nhà rồi 1
  2. đưa tay vào miệng…Trong nhà có ruồi, ruồi bu vào phân người chứa vi khuẩn rồi bu trên thức ăn… Theo Y Học Hiện Đại: Do Amip (Dysenteric Amibienne), một loại trùng do bác sĩ Loesh và Kartulis tìm ra năm 1875. Do trực khuẩn ngắn không di động, gam âm, gây ra. Có thể do: + Shigella Amigua hoặc trực khuẩn Schmitz. + Shigella Dysenteriae hoặc trực khuẩn Shiga. + Shigella Paradysenteriae hoặc trực khuẩn Flexner. + Shigella Sonnei hoặc trực khuẩn Sonne. Theo Y Học Cổ Truyền: Sách “Nội Khoa Học Thượng Hải và Thành Đô” ghi: Nguyên nhân gây ra Bệnh lỵ: a/ Thấp Nhiệt: Lúc giao tiếp giữa mùa hè và thu, nhiệt tà bị uất, thấp khí bị ứ trệ cùng với nhiệt độc kết hợp với nhau hóa thành máu và mũi, gây ra Lỵ. + Thấp Nhiệt gọi là Bạch Lỵ. + Nhiệt nhiều gọi là Xích Lỵ. 2
  3. b/ Ăn uống không điều độ hoặc thức ăn không sạch, ăn nhiều thức ăn béo (cao lương mỹ vị) làm hại Tỳ Vị, Tỳ Vị hư không thắng nổi Thấp làm cho Thấp ủng trệ bên trong nung đốt tạng phủ, khí huyết ngưng trệ sinh ra máu và mũi. Người hay ăn các thức ăn sống, lạnh, hàn thấp tích trệ ở trong kèm theo ăn uống không cẩn thận, hàn thấp làm tổn thương (hại) Tỳ Vị, khí của Đại Trường bị trở ngại làm tổn hại đến doanh (dinh) huyết sinh ra chứng Hàn Thấp Lỵ. c/ Cảm thụ phải thời hành dịch khí, ủng trệ ở trường vị, hợp với khí huyết hóa ra mũi, máu, thành Bệnh Dịch Độc Lỵ. d/ Trình Chung Linh trong sách “Y Học Tâm Ngộ “ đời nhà Thanh (1644) nêu ra 3 nguyên nhân: - Tích nhiệt - Cảm phong hàn bế tắc - Do ăn uống thức ăn sống, lạnh. Như vậy, nguyên nhân gây ra Bệnh Lỵ có thể gom thành 2 loại: + Ngoại nhân: Do ngoại tà Hàn, Thấp, Nhiệt và Dịch độc. + Nội nhân:Do ăn uống làm tổn thương Tỳ Vị. Tuy chia nguyên nhân gây Bệnh ra làm 2 loại như trên nhưng 2 yếu tố này luôn ảnh hưởng đến nhau: 3
  4. + Có khi Bệnh ở trong nhân Bệnh ở ngoài mà dễ phát sinh (chính khí suy-tà khí thịnh). + Có khi Bệnh bên ngoài nhân có Bệnh ở trong mà phát sinh (tà khí thịnh- chính khí suy). Triệu chứng của bệnh kiết lỵ - Rối loạn về đại tiện: Người bệnh đi đại tiện rất nhiều lần, mỗi lần ra rất ít phân, có khi không có phân, mót rặn nhiều nhưng rất khó đại tiện, đau rát hậu môn kèm theo cảm giác đòi hỏi đại tiện một cách bức thiết. - Tính chất của phân: Phân thường rất ít, dạng lỏng lẫn với chất nhầy niêm dịch mủ nhầy, máu tươi, máu lẫn niêm dịch, bọt và hơi; có khi chỉ có máu và niêm dịch không có phân. - Đau và mót rặn: Mỗi lần đi đại tiện bệnh nhân thường thấy đau quặn từng cơn ở dọc theo khung đại tràng, nhất là vùng đại tràng, sigma và trực tràng, kèm theo đau có phản xạ mót rặn, đau buốt mót rặn ở hậu môn bắt người bệnh phải đại tiện ngay. Sau khi đại tiện thì đau và mót rặn hết, trong một ngày có rất nhiều cơn, gây nên đại tiện nhiều lần. - Các triệu chứng khác: + Người bệnh có thể sốt nhẹ, có thể không nhưng chủ yếu là đau quặn bụng, mót rặn. Sốt cao nếu là do shigella. + Triệu chứng tiêu hoá: tuỳ theo nguyên nhân, có thể có những dấu hiệu như nôn, sôi bụng, bán tắc ruột… + Triệu chứng toàn thân: tuỳ theo nguyên nhân, có thể có dấu hiệu, nhiễm khuẩn, suy mòn… Những lưu ý khi thăm khám bệnh kiết lỵ 4
  5. Thăm khám trực tràng cho tất cả những người bệnh có hội chứng kiết lỵ. Đây được xem là một thủ thuật bắt buộc để phát hiện sớm nguyên nhân kiết lỵ hay do ung thư trực tràng. Ngoài ra thăm khám chung về tiêu hoá để phát hiện các nguyên nhân khác như khối u đại tràng, viêm đại tràng… Đường lây truyền bệnh kiết lỵ - Qua thức ăn, nước uống, nước rửa rau quả. - Thú vật mang mầm bệnh (chó, mèo). - Ruồi là trung gian tuyền bệnh nguy hiểm. - Do tay bẩn. - Bào nang dính dưới móng tay. Ngoài ra bệnh kiết lỵ có thể lây qua hoạt động sinh dục, và đây là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng ở những quần thể đồng tính luyến ái. Phòng ngừa bệnh kiết lỵ - Rửa sạch tay trước khi ăn, ăn chính, uống sôi. - Rửa sạch rau sống, thức ăn cần đậy kỹ tránh ruồi nhặng. - Vệ sinh phân, rác, quản lý việc dùng phân trong nông nghiệp. - Ðặc biệt nơi sống tập thể và người phục vụ ăn uống, cấp dưỡng, nuôi dạy trẻ phải sạch sẽ. - Ðiều trị người lành mang bào nang. Biến chứng của bệnh kiết lỵ - Thủng ruột. - Xuất huyết tiêu hóa. - Lồng ruột. 5
  6. - Viêm loét đại tràng sau lỵ. - Viêm ruột thừa do amip. Các biến chứng hiếm. Trẻ nhỏ rặn nhiều sẽ bị sa hậu môn. Vì mất nhiều chất bổ dưỡng nên trẻ dễ bị viêm đa dây thần kinh. Hội chứng viêm niệu đạo kết mạc mắt có thể xuất hiện sau khi bị lỵ. Trẻ có thể bị viêm khớp rồi để lại di chứng teo cơ 6
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2