
Nguyễn Xuân Ôn - Nhà nho yêu nước
Nguyễn Xuân Ôn (1825 - 1889), hiệu Ngọc Đường (cũng còn có hiệu
là Hiến Đình, Lương Giang) sinh tại làng Quần Phương, xã Lương Điền,
tổng Thái Xá, huyện Đông Thành (nay thuộc xã Diễn Thái, huyện Diễn
Châu), tỉnh Nghệ An. Sách Đại Nam liệt truyện chính biên của các sử gia
triều Nguyễn đã chép: "Xuân Ôn lúc trẻ rất thông minh. Khi chưa đỗ, nhà
không sẵn sách để học, từng phải đến nhà người học chung, hoặc mượn sách
về, chỉ đọc một lượt là thuộc. Làm văn thì hễ cầm đến bút là xong. Có khi
một đầu đề mà làm đến năm, sáu thể mà cấu tứ đều khác nhau và đều hay.
Tính ông thích làm văn gà cho người. ở phủ huyện hằng năm đến ngày mở
kỳ khảo khóa, Xuân Ôn thường mang học trò đi theo, làm một cái lều lớn,
ngồi ở giữa, hơn chục học trò ngồi quanh bên phải bên trái. Rồi Xuân Ôn
miệng cứ đọc suốt bài nọ, đến bài kia, người ta lấy làm kỳ như sẵn có bài
nháp ở trong bụng. Năm 18 tuổi ông đã đỗ Tú tài khoa thi năm Giáp Thìn
(1844). Nhưng rồi lận đận trong vòng trường ốc đến tận năm 42 tuổi ông

mới đậu Cử nhân khoa Đinh Mão (1867), và bốn năm sau mới đậu Tiến sĩ
khoa Tân Mùi (1871), khi ông đã 46 tuổi.
Bước đầu ra làm quan, ông phải mất ba năm làm việc ở Viện Hàn lâm
với chân Biên tu. Sau đó được bổ ra làm Thự tri phủ Quảng Ninh, tỉnh
Quảng Bình. Sau ông tiến cử đi làm Đốc học tỉnh Bình Định. Nhân dân
Quảng Bình rất luyến tiếc, ba lần cùng nhau làm đơn xin triều đình cho ông
ở lại mà không được. Năm ất Hợi (1875) ông làm Giám sát Ngự sử, thăng
Lễ khoa Chưởng ấn ra làm án sát Bình Thuận rồi đổi đi Quảng Ngãi. Chưa
bao lâu lại được triệu về kinh làm Biện lý bộ Lại, dân tỉnh Quảng Ngãi lại
cùng nhau ký đơn xin lưu lại. Vua Tự Đức ra lệnh ghi việc đó vào bản sự
trạng (một dạng lý lịch cán bộ ngày nay) để khuyến khích. Rồi ông lại được
chuyển sang làm việc ở bộ Hình, rồi sau ông lại ra làm án sát Quảng Bình.
Ông ra Quảng Bình nhận chức chưa được bao lâu thì thực dân Pháp
kéo quân ra đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai. Các tỉnh thành Hà Nội, Hưng
Yên, Phủ Lý, Nam Định lần lượt bị tấn công. Trước tình thế nguy cấp đó,
Nguyễn Xuân Ông cũng như một số các sĩ phu văn thân chủ chiến khác vô
cùng lo lắng và phẫn nộ. Ông liên tiếp gửi sớ về triều đình bày kế hoạch
đánh giữ, và cực lực phản đối nghị hòa, nhưng đều không được chấp thuận.
Sách Đại Nam liệt truyện chép: "Ở Quảng Bình có những án đọng kinh niên

còn bỏ lại vì tình lý khó khăn không xét ra được. Ông được khâm phái đi
điều tra kết luận. Nhân thấy việc ở Bắc Thành, ông mật tâu về điều trần các
khoản. Bộ Lại khép vội "vi chỉ" bị cách chức. Đã được chuẩn cho lục đi rồi,
lại được phê "Tạm cho ở lại làm xong việc phụng mệnh". Sau ông được khởi
phục chức Thị giảng lĩnh Đốc học Quảng Bình".
Khi xảy ra sự kiện ở kinh thành Huế (1885), vua Hàm Nghi xuất bôn
và hạ chiếu Cần Vương, Nguyễn Xuân Ôn bỏ việc quan về quê nhà ở Nghệ
An và dốc lòng vào việc chống Pháp cứu nước.
Sau khi về Nghệ An, Nguyễn Xuân Ông chăm lo việc lập đồn điền, vỡ
hoang, tập hợp những người dân lưu tán, xếp vào đội ngũ chờ lúc cần sẽ
dùng đến.
Nghe được tin về các hoạt động của ông, năm 1885 phái chủ chiến
trong triều do Tôn Thất Thuyết cầm đầu đã lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi cử
người tới phong ông làm An Tĩnh hiệp đốc quân vụ đại thần, có nhiệm vụ
thống lĩnh nghĩa quân hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh chống Pháp. Tiếp được
chiếu chỉ của Hàm Nghi, Nguyễn Xuân Ôn liền cùng với một số sĩ phu văn
thân trong vùng như Nguyễn Nguyên Thành (người huyện An Sơn, Ninh
Thuận, đậu Tiến sĩ), Lê Doãn Nhạ (người huyện Yên Thành, Nghệ An, đậu
Cử nhân), Trần Quang Diệm (người Diễn Châu, đậu Cử nhân), Đinh Nhật

Tân (người Diễn Châu, đậu Cử nhân)... tập hợp tướng sĩ làm lễ tế cở ở làng
Quần Phương, Nghệ An, sau đó kéo lên đóng quân ở vùng núi huyện Yên
Thành, lập căn cứ kháng chiến lâu dài. Nghĩa quân lúc đầu gồm khoảng
2.000 người, hầu hết là người địa phương gồm các văn thân, nông dân, trong
đó có nhiều tay võ sĩ lão luyện như Đề Kiều, Đề Mậu, Đề Nhục, Lãnh Bảng,
Lãnh Thừu, Lãnh Phương, Lãnh Tư, Đốc Nhạn, Đề Niên, Đề Vinh, Đề
Thắng. Nhân dân cả một vùng nhà nào nhà nấy nô nức mổ gà giết lợn khao
quân.
Đúng vào lúc đó thì được tin xa giá vua Hàm Nghi mới vượt rừng ra
tới Sơn phòng Hà Tĩnh, Nguyễn Xuân Ôn cho người vào báo cáo tình hình
chuẩn bị của nghĩa quân Cần Vương do ông cầm đầu, và được lệnh đóng giữ
tại Nghệ An phòng khi có việc.
Đại quân đóng ở Đồng Thông thuộc vùng Vũ Kỳ (Đồng Ban ngày
nay), nhưng địa bàn hoạt động rất rộng, kéo dài suốt từ miền núi xuống miền
biển Nghệ An có khi còn mở rộng sang đất Hà Tĩnh. Quân Pháp nghe tin vội
kéo quân vào chiếm đóng nhiều nơi, đốt phá chém giết. Mở màn cho cuộc
chiến đấu là những trận đánh phục kích các toán quân Pháp từ Thanh Hóa
vào tăng viện, như các trận Đồng Tháp, Tây Khê, Yên Lý... Tiếp đó là
những trận tấn công vào các vị trí đóng quân của chúng như: Thuận Nghĩa,

Diễn Châu, Xã Đoài... Đầu năm 1886, nghĩa quân đã đánh những trận lớn
như Thừa Sủng, Đồng Mờm, Đồng Nhơm trên con đường từ Diễn Châu đi
Yên Thành. Đến cuối năm đó, nghĩa quân đã táo bạo thọc sâu xuống tấn
công chớp nhoáng đồn Pháp ở gần chợ Si (cạnh đường số 1, thuộc Diễn
Châu) rồi lui về Đồng Thông, thuộc xã Gia Lac (Yên Thành).
Bước sang năm 1887, nghĩa quân còn đánh nhiều trận với quân Pháp
ở Sừng, Mọ, Xóm Hố thuộc tây bắc huyện Yên Thành.
Mặc dù tuổi đã cao, sức đã yếu nhưng thủ lĩnh Nguyễn Xuân Ông
luôn nêu cao gương dũng cảm, luôn xung phong đi trước động viên khí thế
nghĩa quân. Ông đã nhiều lần bị thương, đến trận Xóm Hố thì bị thương
nặng ở vai, phải về Đồng Nhân (thông Đồng Đức, xã Mã Thành, huyện Yên
Thành) để điều trị vết thương.
Ngày 25-7-1887, quân Pháp ập đến vây bắt ông ngay trên giường
bệnh. Ông bị giặc giải về nhà lao Vinh. Tại đây, mặc cho kẻ thù ra sức dụ dỗ
mua chuộc, ông luôn luôn khẳng khái, cự tuyệt, sẵn sàng chịu chết.
Về sau, nhận thấy trong tình thế kẻ thù đang trên đà thắng thế, nghĩa
quân lại không có chủ tướng, tốt hơn là bảo toàn lực lượng chuẩn bị cho
những cuộc chiến đấu mới khi thời cơ tới. Ông đã viết thư khuyên anh em

