Nhà Hồ giai đoạn thuộc Minh (1400 - 1428)
2
Trong sngười bị bắt, con trưởng của HQuý Ly là HNguyên Trừng, một
nhà sáng chế ra súng thần ng và tác gicủa tác phẩm "Nam Ông Mộc Lục",
viết về 31 nhân vật nổi tiếng trong lịch sử của Đại Việt. Sau y, nhHồ Nguyên
Trừng dâng lên cho Hoàng đế nhà Minh cách thức chế súng thần công, mà cha con
HQuý Ly được thả và sinh sống tại Trung Hoa cho đến chết. Triều Hđã thất
bại dù nhiều cải cách tiến bộ. Những cải ch của Hồ Quý Ly đụng chạm đến
hầu hết các giai tầng xã hội, nhất là tầng lớp quý tộc với các phép hạn điền, hạn
nô. thế phản ứng của tầng lớp này rất quyết liệt. Những biện pháp kinh tế của
HQuý Ly lại chưa thời gian để trở thành hiện thực nên chưa lôi kéo được
quần chúng nhân dân. n cạnh đó, việc cướp ngôi nhà Trần đã m bất bình giới
nho sĩ từng thấm nhuần tư tưởng trung quân ái quốc. Do đó nhà Hồ đã không động
viên được sự đoàn kết toàn dân, cuộc chiến chống Minh vì thế thất bại.
3. Thành nhà H
NHtuy nắm quyền trong thời gian ngắn ngủi nhưng đã kịp để lại một công
trình kiến trúc quan trọng. Đó là thành nhà Hồ.
Tòa thành này được HQuý Ly cho xây từ trước khi đoạt ngôi nhà Trần vào
năm 1397. Vào m y, Hồ Quý Ly sai Thượng thư Lại bộ Đỗ Tỉnh đến động
An Tôn (Thanh Hóa) khảo sát thực địa rồi xây thành và cung điện. Thành xây trên
địa phận ấy nên được gọi là thành An Tôn. Ngày nay, thành nhà Hthuộc hai xã
Vinh Long và Vinh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa.
Thành xây xong, HQuý Ly cho đổi trấn Thanh Hóa thành trấn Thanh Đô và
bức vua Trần Thuận Tông bỏ Thăng Long dời đô về đấy (1397). Năm sau, Hồ Quý
Ly ép vua phải nhường ngôi cho con là Trần án, mới ba tuổi. Trần án lên ngôi tại
thành An Tôn. T đấy thành An Tôn được xem như kinh đô mới được đổi n
là Tây Đô.
Vào năm 1400, sau khi phế Trần án, lên làm vua, HQuý Ly cũng đóng đô
đấy. Tây Đô được đổi tên thành Quốc Đô. ng tđây Hồ Quý Ly điều hành đất
nước, đưa ra những chương trình ci cách của mình. Các khoa thi năm Canh Thìn
(1400), năm ất Dậu (1400) đều được tổ chức tại đây. Cũng từ đây, Hồ Hán
Thương cầm đầu đại binh xuất phát từ cửa chính Nam lên đường tấn công
Champa, lấy được hai đất Chiêm Động và CLũy (1402).
Cuộc chiến kháng Minh của nhà Hthất bại, quân Minh vào chiếm lấy Quốc
Đô, đổi tên Quốc Đô thành phThanh Hóa. Đến sau khi Lê Lợi chiến thắng quân
Minh, lên ngôi vua, đóng đô tại Đông Kinh (Thăng Long), thành Thanh Hóa được
trlại tên cũ của thời nhà Trần là Tây Đô. Vào thờ nhà Nguyễn, nhiều địa danh
tỉnh, huyện, thành, lsở được thay đổi để phù hp với chế độ chính trị của triều
Nguyễn. Thành Thăng Long được đổi thành tỉnh Hà Nội, thành Tây Đô lấy tên của
làng phía cửa Tây của thành Tây Nhai. Đến đời Minh Mạng (1820-1840) lại
đổi thành Tây Giai.
Tên thành nhà H mới xuất hiện sau này, tkhi triều đại nhà H được xem là
triều đại chính thống trong lịch sử.
Theo tcủa các sách sử thì trong thành nhà Hđã từng nhiều công
trình kiến trúc như điện Hoàng Nguyên, cung Diên Thọ, cung Phù Cực, Thái
Miếu... Nhưng hiện nay không còn một dấu tích gì đáng kể. Chỉ còn tồn tại bức
tường thành đồ sộ, chu vi dài tới hơn 3 km, cao trung bình 5-6m.
Thành nhà Hồ được xây với một bình đồ gần vuông. Chiều dài (Bắc và Nam) có
90m, chiu rộng (Đông Tây) n 700m. Bốn mặt thành đều còn tương đối đủ.
Mặt ngoài ốp đá, phía trong là tường đất đắp thoải xuống để quân lính di chuyển
ddàng. Nét đặc sắc của các bức tường thành này phần ốp bằng những khối đá
xanh bên ngoài. Các khối đá được đẽo vuông vức, phần nhiều chiều dài là
1,4m, rộng 0,7m và dày 1m. Riêng cửa y những khối đá rất to, dài đến
5,1m, cao và dày 1,2m, nặng hơn 15 tấn. Các khối đá được xếp theo hình chcông
chồng lên nhau, tạo nên độ dốc thẳng đứng mặt ngoài, gây tr ngại đến mức tối
đa cho kẻ địch muốn vượt thành.
Đá được lấy dãy núi đá cách thành về phía Nam chừng vài cây số. Đá được
chế tác, đẽo gọt tại đây rồi mới được vận chuyển về thành.
Nời xưa đã vận chuyển và chồng những khối đá to lớn và nặng nề ấy như thế
nào? Các nhà khảo cổ học đã m thấy những hòn bi bằng đá ở quanh thành và đưa
ra githuyết người xưa thsử dụng các hòn bi đá này để di chuyển đá. Khối
đá được đặt trên các hòn bi đá, người vận chuyển dùng đòn bẩy để bẩy cho đá
trượt trên các hòn bi y. Sau khi đã trượt qua một số hòn, người ta lại đem bi đặt
đón phía trước cho khối đá tiếp tục trượt qua. cthế, khối đá nhích lần lần đến
nơi. Ngoài ra còn gi thuyết cho là đá được vận chuyển bằng những chiếc cộ,
tức là loại xe bốn bánh bằng gỗ, bên trên có sàn để hàng hóa.
Còn việc xếp chồng các khối đá lên nhau theo hình chcông lại được phối hp
với việc đắp tường đất bên trong. ờng đất được đắp thành những con đường
thoai thoải để bẩy đá lên được dễ dàng, sau đó các khối đá được xếp, lớp sau
chồng lên lớp trước. Công việc này rất nặng nhọc và đã gây ra tai nn. Người ta đã
tìm thấy một bộ xương người một chỗ tường đá lở. Hẳn là người xấu số ấy bị đè
giữa hai khối mà đồng đội không thể nào lấy thây ra được vì khối đá quá nặng.
Trước kia, trên mặt thành phần gạch y lên bên trên mặt đá theo lệnh của
HHán Thương (1401), nhưng ngày nay không còn nữa. Nhiều đoạn mặt thành b
phá lấy đá, chiều cao chỉ còn 0,5m. Có đoạn mất hẳn.
Thành bốn cửa Đông, Tây, Nam, Bắc. Mỗi cửa đều vị trí chính giữa các
mặt thành được xây thành vòm cuốn bằng đá khối, kích thước rất lớn. Riêng
cửa Nam cửa chính, lại đến ba vòm cun, vòm giữa to n hai vòm hai bên.
Cửa Nam là cửa lớn nhất, rộng 38m, coa n 10m, xây nhô ra ngoài tường thành
4m. Cba vòm cun đều rộng 5,8m. Vòm cửa giữa cao 8,5m, hai vòm bên cao
7,8m. Phía trên cửa Nam có lát đá bằng phẳng, nguyên nền của lầu cửa, nơi vua
ngự để duyệt binh hoặc chủ trì các nghi lễ.