intTypePromotion=1
ADSENSE

Nhân một trường hợp sarôm tạo xương giàu đại bào

Chia sẻ: Hạnh Lệ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

16
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Báo cáo nhằm bàn luận về trường hợp sarcôm tạo xương giàu đại bào - một bệnh lý hiếm gặp thuộc nhóm sarcôm tạo xương quy ước. Bệnh nhân nam 22 tuổi, quốc tịch Campuchia, có một khối u đầu dưới xương đùi trái, rất đau, sưng, hạn chế vận động khớp gối, kèm theo triệu chứng sốt và sụt cân. Đặc biệt, hình ảnh vi thể có rất nhiều đại bào, dễ dẫn đến chẩn đoán nhầm với u đại bào xương.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nhân một trường hợp sarôm tạo xương giàu đại bào

Nghiên cứu Y học <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013<br /> <br /> NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP SARÔM TẠO XƯƠNG GIÀU ĐẠI BÀO <br /> Trần Minh Thông*, Phạm Quang Thông* <br /> <br /> TÓM TẮT <br /> Báo cáo bàn luận về trường hợp sarcôm tạo xương giàu đại bào ‐ một bệnh lý hiếm gặp thuộc nhóm sarcôm <br /> tạo xương qui ước. Bệnh nhân nam 22 tuổi, quốc tịch Campuchia, có một khối u đầu dưới xương đùi trái, rất <br /> đau, sưng, hạn chế vận động khớp gối, kèm theo triệu chứng sốt và sụt cân. Đặc biệt, hình ảnh vi thể có rất nhiều <br /> đại bào, dễ dẫn đến chẩn đoán nhầm với u đại bào xương. Kết luận chẩn đoán dựa trên giải phẫu bệnh, hình ảnh <br /> học và thông tin lâm sàng. <br /> Từ khóa: sarcôm tạo xương giàu đại bào, sarcôm tạo xương qui ước, u đại bào xương. <br /> <br /> SUMMARY <br /> CASE REPORT: GIANT CELL RICH OSTEOSARCOMA <br /> Tran Minh Thong, Pham Quang Thong <br /> * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2013: 594 ‐ 599 <br /> This  report  discusses  a  case  of  giant  cell  rich  osteosarcoma,  which  is  a  rare  variant  of  conventional <br /> osteosarcoma. This patient is a 22 year old male Cambodian, who had a tumor in lower extremity of left femur <br /> with pain, swelling, limited joint mobility, fever and weight loss. Especially, microsections showed a lot of giant <br /> cells and were easy to be misdiagnosed as giant cell tumor. The exact diagnosis was based on histopathological <br /> diagnosis, imaging tests and clinical information. <br /> Keywords: giant cell rich osteosarcoma, conventional osteosarcoma, giant cell tumor. <br /> Những vị trí khác là xương sọ hoặc xương hàm <br /> TỔNG QUAN <br /> (8%) và xương chậu (8%)...(15). <br /> Sarcôm tạo xương là một ung thư phát triển <br /> Nguyên  nhân  của  bệnh  sarcôm  tạo  xương <br /> từ tế bào tạo xương có nguồn gốc trung mô và <br /> đến nay vẫn chưa xác định. Tuy nhiên bệnh có <br /> tạo  chất  dạng  xương  ác  tính.  Bệnh  chiếm  tỉ  lệ <br /> một  số  yếu  tố  nguy  cơ  rõ  rệt.  Sự  phát  triển <br /> 25% các ung thư nguyên phát ở xương(16). Nguy <br /> xương  nhanh  trong  thời  kì  thiếu  niên  làm  tăng <br /> cơ mắc bệnh ở giới nam cao hơn giới nữ với tỉ lệ <br /> nguy cơ bệnh. Chất phóng xạ làm tăng nguy cơ <br /> 1,5‐2/1(5).  Phân  bố  tuổi  của  sarcôm  tạo  xương <br /> sarcôm tạo xương thứ phát. Những bệnh nghịch <br /> thường có 2 đỉnh, với đỉnh tuổi thứ nhất là 10‐14 <br /> sản  xương  như  bệnh  Paget,  nghịch  sản  sợi,  u <br /> tuổi tương ứng với thời kì dậy thì. Đình tuổi thứ <br /> sụn,  đa  lồi  xương  di  truyền  và  u  nguyên  bào <br /> hai  là  người  trưởng  thành  trên  65  tuổi,  thường <br /> võng  mạc  (dòng  tế  bào  mầm)  là  những  yếu  tố <br /> kèm theo bệnh lí ác tính khác như bệnh Paget. Tỉ <br /> nguy cơ liên quan đến đột biến gen.  <br /> suất  mới  mắc  mỗi  năm  là  5,4/106  ở  nam  và <br /> Triệu chứng bệnh xuất hiện vài tuần đến vài <br /> 4,0/106 ở nữ. U thường phát triển từ vùng hành <br /> tháng  trước  khi  được  chẩn  đoán.  Theo  một <br /> xương gần đĩa tăng trưởng của xương dài. Vị trí <br /> nghiên  cứu  trên  102  bệnh  nhân  sarcôm  tạo <br /> u thường được xem là gần gối xa khuỷu do hay <br /> xương,  92%  bệnh  nhân  có  triệu  chứng  đau  tại <br /> gặp  nhất  ở  xương  đùi  (42%,  với  75%  ở  đầu <br /> chỗ, 85% căng đau, 56% đau từng cơn khi nghỉ <br /> dưới), xương chày (19%, với 80% ở đầu trên) và <br /> ngơi <br /> và  21%  đau  về  đêm.  39%  bệnh  nhân  sờ <br /> xương  cánh  tay  (10%,  với  90%  ở  đầu  trên). <br /> * Khoa Giải Phẫu bệnh, BV Chợ Rẫy  <br /> Tác giả liên lạc: BSCKII Trần Minh Thông, ĐT: 0918202941, Email: tranmthong2003@yahoo.com <br /> <br /> 594<br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012 <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013 <br /> được  khối  u.  Khi  di  chuyển  khớp,  39%  bệnh <br /> nhân  đau  và  23%  bệnh  nhân  bị  giới  hạn  vận <br /> động khớp. Triệu chứng sốt chiếm 3%. 5% bệnh <br /> nhân  bị  teo  cơ.  31%  bệnh  nhân  đi  lại  khập <br /> khiễng. 47% bệnh nhân gặp chấn thương tại thời <br /> điểm bắt đầu xuất hiện triệu chứng(18). <br /> Về hình ảnh học, sarcôm tạo xương cho các <br /> hình  ảnh  như  khuyết  do  hủy  xương,  tăng  đậm <br /> độ do tăng sinh xương, phản ứng màng xương <br /> ác tính, vỡ vỏ xương… Không thể chỉ dùng một <br /> đặc điểm hình ảnh riêng lẻ để chẩn đoán bệnh. <br /> Trên  XQ,  hình  ảnh  tổn  thương  của  sarcôm  tạo <br /> xương  có  thể  chỉ  là  hủy  xương  (khoảng  30%), <br /> tạo xương (khoảng 45%) và dạng hỗn hợp. Phản <br /> ứng  màng  xương  cho  hình  ảnh  tam  giác <br /> Codman. U lan rộng qua màng xương có thể tạo <br /> thành  hình  ảnh  tia  sáng  mặt  trời  (khoảng  60% <br /> bệnh  nhân).  Dạng  sarcôm  tạo  xương  dạng  dãn <br /> mạch xa thường có dạng nang và có thể lầm với <br /> một nang xương phình mạch(7). CT scan giúp xác <br /> định vị trí và xâm  lấn  của  u  tốt  hơn.  Cũng  cần <br /> thực hiện XQ hoặc CT‐scan ngực để đánh giá di <br /> căn phổi. <br /> Về đại thể, sarcôm tạo xương thường là tổn <br /> thương lớn, đường kính hơn 5cm, phá vỡ màng <br /> xương và có thể lan rộng ra vùng mô mềm cũng <br /> như  vùng  nội  tủy.  Có  thể  thấy  những  ổ  tế  bào <br /> ung  thư  ở  vị  trí  xa  trong  khoang  tủy  xương <br /> bệnh.  Hình  ảnh  u  thay  đổi  theo  độ  biệt  hóa  và <br /> thường  lốm  đốm  nhiều  màu.  Có  thể  thấy  hình <br /> ảnh phản ứng màng xương dạng gai hoặc phiến <br /> xương.  Thường  thấy  hình  ảnh  những  ổ  chảy <br /> máu và hoại tử, những vùng lớn chứa đầy máu. <br /> Về  vi  thể,  cấu  trúc  giống  như  trung  mô <br /> xương  nguyên  thủy,  gồm  những  đám  tế  bào <br /> không  biệt  hóa,  đa  diện  hoặc  hình  thoi,  bào <br /> tương rõ, nhiều nhân quái, nhân chia. Tế bào u <br /> họp  thành  bè  tạo  nên  mô  xương  hoặc  dạng <br /> xương  kèm  mô  liên  kết  rất  giàu  mạch  máu. <br /> Cũng  có  thể  thấy  những  đám  mô  sụn,  mô  sợi, <br /> mô nhầy, đại bào nhiều nhân giống hủy cốt bào, <br /> nhiều vùng chảy máu(16).  <br /> Sarcôm tạo xương giàu đại bào lần đầu tiên <br /> được  mô  tả  bởi  Bathurst  và  cộng  sự  năm  1986, <br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> thuộc  nhóm  sarcôm  tạo  xương  qui  ước.  Theo <br /> một số nghiên cứu, tỉ lệ bệnh chiếm từ 1‐3% tổng <br /> số  sarcôm  tạo  xương  qui  ước(1).  Tuy  nhiên  theo <br /> ghi  nhận  của  chúng  tôi,  chỉ  có  một  vài  trường <br /> hợp  sarcôm  tạo  xương  giàu  đại  bào  được  báo <br /> cáo trên thế giới và có lẽ chưa được báo cáo rộng <br /> rãi ở Việt Nam. <br /> <br /> Trường hợp lâm sàng <br /> Bệnh  nhân  Hóc  Đ.,  nam,  22  tuổi,  quốc  tịch: <br /> Campuchia, nghề nghiệp:  sinh  viên.  Nhập  viện <br /> ngày  21/9/2011  tại  bệnh  viện  Chợ  Rẫy.  Lí  do <br /> nhập viện: đau ở đầu gối chân trái. <br /> Cách nhập viện khoảng 10 tuần, bệnh nhân <br /> cảm  thấy  rất  đau  ở  vùng  gối  chân  trái,  không <br /> lan, kèm sốt liên tục 38,50C trong 5 ngày. Sau đó <br /> 1 tháng, đầu gối trái bệnh nhân bắt đầu sưng rõ <br /> làm bệnh nhân ngày càng gặp rất nhiều hạn chế <br /> trong đi lại và vận động. Bệnh nhân đến khám <br /> tại  bệnh  viện  Nam  Vang  (Campuchia),  được <br /> điều  trị  nội  khoa  và  theo  dõi.  Tình  trạng  sưng <br /> đau  ở  đầu  gối  trái  ngày  càng  tăng,  bệnh  nhân <br /> không thể đi lại được, sụt cân khoảng 3 kg trong <br /> 2 tháng, sốt 5‐6 đợt. Ngoài ra chưa ghi nhận các <br /> triệu chứng cơ năng khác. Bệnh nhân đến khám <br /> và nhập bệnh viện Chợ Rẫy với chẩn đoán ban <br /> đầu: U vùng dưới đùi trái. <br /> <br />  <br /> Hình 1: Vùng gối trái của bệnh nhân sau khi sinh <br /> thiết <br /> Tại bệnh viện Chợ Rẫy, qua thăm khám phát <br /> hiện ở phía dưới, mặt trong đùi trái có một khối <br /> u  kích  thước  lớn,  tròn,  mật  độ  chắc,  ấn  đau, <br /> không  di  động.  Màu  sắc  và  nhiệt  độ  da  vùng <br /> bướu  bình  thường.  Bệnh  nhân  không  đi  lại <br /> được. Biên độ vận động gấp duỗi của khớp gối <br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012<br /> <br /> 595<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013<br /> <br /> Nghiên cứu Y học <br /> <br /> chân  trái  là  900‐450‐00.  Mạch  mu  2  chân  rõ.  Đo <br /> chiều  dài  hai  chân  bằng  nhau.  Chưa  ghi  nhận <br /> bất thường khác ở chân và các cơ quan khác. <br /> <br /> Các kết quả xét nghiệm <br /> Xét nghiệm<br /> <br /> Bệnh nhân<br /> <br /> Công thức máu<br /> RBC<br /> Hgb<br /> Hct<br /> MCV<br /> MCH<br /> MCHC<br /> WBC<br /> <br /> 4,76 T/L<br /> 130 g/L<br /> 38,7 %<br /> 81,5 fL<br /> 27,4 pg<br /> 336 g/L<br /> 9,38 G/L<br /> <br /> Xét<br /> nghiệm<br /> Ion đồ<br /> Na<br /> K<br /> Cl<br /> Ca TP<br /> TPTNT<br /> pH<br /> SG<br /> <br /> 140 mmol/L<br /> 3,8 mmol/L<br /> 101 mmol/L<br /> 2,3 mmol/L<br /> <br /> Xét nghiệm<br /> <br /> Neu<br /> <br /> 64,3 %<br /> <br /> Glu<br /> <br /> neg<br /> <br /> Lym<br /> <br /> 24,2 %<br /> <br /> Pro<br /> <br /> neg<br /> <br /> Mono<br /> Eos<br /> Bas<br /> Plt<br /> Đường huyết<br /> AST<br /> <br /> 9,2 %<br /> 2,2 %<br /> 0,1 %<br /> 204 G/L<br /> 89 mg/dl<br /> 60 U/L<br /> <br /> Bi<br /> Uro<br /> Keton<br /> Blood<br /> Leu<br /> Nitrite<br /> <br /> neg<br /> nor 0,1 mg/dl<br /> neg<br /> neg<br /> neg<br /> Neg<br /> <br /> Xét<br /> Bệnh nhân<br /> nghiệm<br /> Đông máu<br /> <br /> ALT<br /> <br /> 59 U/L<br /> <br /> BUN<br /> <br /> 14 mg/dl<br /> <br /> PT<br /> <br /> 14,1 giây<br /> <br /> Cre<br /> <br /> 1,08 mg/dl<br /> <br /> APTT<br /> <br /> 40,2 giây<br /> <br /> INR<br /> FIB<br /> <br /> 1,17<br /> 5,44 g/l<br /> <br /> Bệnh nhân<br /> <br /> 6,5<br /> 1,015<br /> <br /> Bệnh nhân<br /> <br /> Bệnh nhân có  men  gan  tăng  ít.  Các  kết  quả <br /> xét nghiệm khác trong giới hạn bình thường. <br /> <br /> Hình ảnh học <br /> X‐ quang ngực thẳng <br /> Chưa  phát  hiện  hình  ảnh  bất  thường  trên <br /> phim. <br /> X‐quang xương vùng gối chân trái <br /> XQ thẳng và nghiêng vùng gối cho thấy một <br /> khối  giảm  đậm  độ  ở  vùng  hành  xương  đầu <br /> dưới,  mặt  trong  xương  đùi  trái,  kích  thước <br /> khoảng  8x8x7  cm.  Khối  u  phá  vỡ  màng  xương <br /> và lan vào vùng ống nội tủy, mô mềm. Có phản <br /> ứng màng xương và vôi hóa mô mềm. <br /> <br /> Hình 1: Hình ảnh X quang phổi (trái) và X quang vùng gối thẳng (giữa) và nghiêng (phải) <br /> bào  này  đều  có  nhân  giống  nhau,  hình  bầu <br /> Hình ảnh giải phẫu bệnh <br /> dục,  ít  nhân  chia.  Có  nhiều  tế  bào  có  nhân <br /> Đại  thể:  Bệnh  phẩm  gồm  4  mẫu  mô  kích <br /> không điển hình và nhân chia, hình thành  chất <br /> thước 0,5x1 cm, màu trắng, mềm. <br /> dạng xương, sụn không trưởng thành <br /> <br /> Vi thể <br /> <br /> Hình ảnh vi thể chính của u gồm nhiều đại <br /> bào  xương  và  tế  bào  đơn  nhân.  Cả  hai  loại  tế <br /> <br /> 596<br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012 <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013 <br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br />  <br /> Hình 2: Đại bào có nhiều nhân giống hủy cốt bào. <br /> Nhuộm H&E x100: <br /> <br /> Hình 4: Dương tính ở bào tương của các tế bào ung <br /> thư Nhuộm Vimentin x100: <br /> <br /> BÀN LUẬN <br /> Quan  sát  tiêu  bản  của  bệnh  nhân  này,  ghi <br /> nhận đầu tiên của bác sĩ giải phẫu bệnh là có rất <br /> nhiều  đại  bào  trên  các  vi  trường,  từ  đó  có  thể <br /> hướng đến chẩn đoán u đại bào xương. Đây là <br /> một  loại  u  giáp  biên  ác,  chiếm  tỉ  lệ  4  ‐  5%(17), <br /> đứng  thứ  3  trong  u  xương  nguyên  phát,  sau <br /> sarcôm tạo xương và u sụn xương..  <br /> Trong trường hợp bệnh nhân này, xuất hiện <br /> nhiều tế bào có nhân không điển hình và nhân <br /> chia,  hình  thành  chất  dạng  xương,  sụn  không <br /> trưởng  thành,  vị  trí  ở  hành  xương.  Từ  đó  lại <br /> hướng đến chẩn đoán bệnh thuộc nhóm sarcôm <br /> tạo xương qui ước. Đồng thời cùng với sự xuất <br /> hiện nhiều đại bào, chúng tôi nghĩ nhiều đây là <br /> sarcôm tạo xương giàu đại bào. Một số đặc điểm <br /> của sarcôm tạo xương giàu đại bào không có ở u <br /> đại  bào  xương  như:  sự  tạo  thành  chất  dạng <br /> <br /> Hình 3: Nhân chia không điển hình Nhuộm H&E <br /> x400. <br /> <br />  <br /> Hình 5: Mô chất dạng xương màu hồng trên mô nền <br /> bướu Nhuộm H&E x200: <br /> xương  trực  tiếp  từ  tế  bào  ung  thư,  hiện  tượng <br /> thoái sản của một số tế bào đệm(12,13).  <br /> Một bệnh khác cũng cần xét đến là bướu mô <br /> bào  sợi  ác  tính.  Đây  là  một  dạng  sarcôm  có <br /> nguồn  gốc  không  rõ  từ  cả  mô  mềm  và  xương, <br /> lần đầu tiên được mô tả năm 1961 bởi Kauffman <br /> và Stout. Dạng đa hình của bướu mô bào sợi ác <br /> tính có dạng những bó nhỏ tế bào thoi tỏa ra từ <br /> một  điểm  trung  tâm  chen  kẽ  với  những  tế  bào <br /> khổng lồ tân tạo. Trong một nửa số trường hợp, <br /> bướu  mô  bào  sợi  ác  tính  lại  chứa  những  ổ  nhỏ <br /> chất  dạng  xương  và  đại  bào  nhiều  nhân.  Tuy <br /> nhiên, thành phần tăng sinh chính là mô bào sợi <br /> có kiểu sắp xếp nan hoa(3), không giống cách sắp <br /> xếp  tế  bào  trong  trường  hợp  này.  Từ  đó  giúp <br /> chúng tôi loại trừ bướu mô bào sợi ác tính. <br /> Trong nhóm sarcôm tạo xương qui ước, đại <br /> bào xếp lan tỏa và chỉ chiếm tỉ lệ tối đa 1‐2%(12). <br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012<br /> <br /> 597<br /> <br /> Nghiên cứu Y học <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013<br /> <br /> Trong trường hợp này, số lượng đại bào rất cao, <br /> giúp  phân  biệt  sarcôm  tạo  xương  giàu  đại  bào <br /> với  những  loại  khác  trong  nhóm  sarcôm  tạo <br /> xương qui ước. <br /> Về hóa mô miễn dịch, không có loại dấu ấn <br /> nào  giúp  chẩn  đoán  xác  định  sarcôm  tạo <br /> xương giàu đại bào. Hầu hết sarcôm tạo xương <br /> dương  tính  với  vimetin.  Những  protein  của <br /> chất  nền  xương  như  osteocalcin,  và <br /> osteonectin hiện diện trong sarcôm tạo xương, <br /> do  đó  dấu  ấn  của  chúng  có  tỉ  lệ  dương  tính <br /> cao. Một số dấu ấn khác như S100, actin, EMA <br /> có tỉ lệ dương tính thấp hơn trong sarcôm tạo <br /> xương.  Tuy  nhiên  các  dấu  ấn  này  không  đặc <br /> hiệu  cho  sarcôm  tạo  xương,  do  đó  việc  sử <br /> dụng để chẩn đoán phân biệt với những bướu <br /> xương khác còn gặp hạn chế. <br /> Về x‐quang, vị trí của u là vùng hành xương, <br /> khối u có bờ không rõ, kèm hùy xương, xơ hóa <br /> và phản ứng màng xương. Những hình ảnh này <br /> phù  hợp  với  sarcôm  tạo  xương  hơn  u  đại  bào <br /> xương  và  bướu  mô  bào  sợi  ác  tính.  U  đại  bào <br /> xương  có  vị  trí  thường  ở  vùng  đầu  xương  ở <br /> người trưởng thành, bờ không xơ hóa, không có <br /> phản ứng màng xương. Bướu mô bào sợi ác tính <br /> lại  ít  khi  có  phản  ứng  màng  xương  và  hiếm  có <br /> hiện tượng canxi hóa chất nền(9).  <br /> Về đặc điểm dịch tễ, bệnh nhân nam 22 tuổi, <br /> thuộc nhóm tuổi có nguy cơ cao nhất của sarcôm <br /> tạo xương giàu đại bào là ở thập niên niên thứ <br /> ba(6).  U  đại  bào  xương  thường  gặp  hơn  ở  nữ,  ở <br /> lứa tuổi 20‐40(11). Đối với bướu mô bào sợi ác tính <br /> có tỉ lệ xấp xỉ nhau ở cả hai giới, thường xảy ra ở <br /> lứa tuổi trung niên với độ tuổi trung bình là 50. <br /> Về  các  đặc  điểm  lâm  sàng,  bệnh  nhân  có <br /> khối  u  ở  vùng  dưới  xương  đùi  phải,  rất  đau, <br /> sưng,  nhiều  đợt  sốt  cao,  sụt  cân,  giới  hạn  vận <br /> động khớp gối. Những triệu chứng này phù hợp <br /> với  sarcôm  tạo  xương,  tuy  nhiên  cũng  gặp  ở <br /> nhiều  bệnh  lí  bướu  xương  khác,  trong  đó  có  u <br /> đại bào xương và bướu mô bào sợi ác tính.  <br /> Dựa vào các đặc điểm nêu trên giúp chúng <br /> tôi chẩn đoán đây là một trường hợp sarcôm tạo <br /> xương giàu đại bào. Sarcôm tạo xương có độ ác <br /> <br /> 598<br /> <br /> tính cao, có thể di căn đến nhiều cơ quan, nhiều <br /> nhất  là  phổi  và  xương.  Trên  bệnh  nhân  này <br /> chúng  tôi  có  thực  hiện  x‐quang  ngực  thẳng. <br /> Hình ảnh trên phim chưa phát hiện bất thường. <br /> Tuy nhiên, điều này cũng không giúp loại trừ di <br /> căn  vì  khoảng  80%  bệnh  nhân  đã  có  di  căn  ở <br /> mức  độ  vi  thể  ở  thời  điểm  chẩn  đoán(10),  trong <br /> khi hình  ảnh  học  chỉ  có  thể  phát  hiện  8‐15%  di <br /> căn(8,19). Mặc dù alkaline phosphatase trong máu <br /> tăng  trong  sarcôm  tạo  xương,  không  có  xét <br /> nghiệm  máu  nào  giúp  phát  hiện  di  căn  của <br /> sarcôm tạo xương ở mức độ vi thể.  <br /> Chính vì vậy, việc điều trị sarcôm tạo xương <br /> cần phẫu trị, thường là đoạn chi và có thể phối <br /> hợp  thêm  hóa  trị  trong  phần  lớn  trường  hợp. <br /> Vẫn còn nhiều tranh cãi xung quanh chỉ định và <br /> thời  gian  bắt  đầu  thực  hiện  hóa  trị  trước  hoặc <br /> sau phẫu thuật. Khi được điều trị thích hợp gồm <br /> phẫu  trị  và  hóa  trị,  tỉ  lệ  sống  sau  5  năm  là  55‐<br /> 60%(2,4). Những yếu tố làm giảm tiên lượng bệnh <br /> là vị trí gần đường giữa trục cơ thể, u kích thước <br /> lớn, di căn và quá trình điều trị kém đáp ứng với <br /> hóa trị. <br /> <br /> KẾT LUẬN <br /> Như  đã  đề  cập,  sarcôm  tạo  xương  giàu  đại <br /> bào là một bệnh hiếm gặp. Trên vi thể, bệnh lại <br /> rất  dễ  chẩn  đoán  nhầm,  đặc  biệt  với  u  đại  bào <br /> xương  là  một  bệnh  thường  gặp  trong  nhóm <br /> bướu xương. Do đó cần quan sát kĩ hình ảnh vi <br /> thể  cũng  như  kết  hợp  thêm  thông  tin  về  hình <br /> ảnh  học  và  lâm  sàng  để  kết  luận  chẩn  đoán. <br /> Diễn  tiến  gần  giống  với  các  bệnh  khác  thuộc <br /> nhóm sarcôm tạo xương qui ước. Hiện nay vẫn <br /> chưa có hướng dẫn cụ thể trong điều trị sarcôm <br /> tạo xương giàu đại bào, do đó việc điều trị bệnh <br /> tương  đối  giống  với  điều  trị  sarcôm  tạo  xương <br /> qui  ước.  Di  căn  có  tỉ  lệ  cao,  lại  khó  phát  hiện <br /> bằng  phương  tiện  cận  lâm  sàng,  do  đó  tiên <br /> lượng bệnh rất khó khăn.  <br /> <br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO <br /> 1.<br /> 2.<br /> <br /> Bathurst, N.; Sanerkin, N. (1986). Osteoclast‐rich osteosarcoma. <br /> Bi J Radiol, 59: 667‐673. <br /> Bentzen, SM; Poulsen, H.X; Kaae. S; Jensen O.M.; Johansen, H.; <br /> Mouridsen,  H.T.  et  al.  (1988).  Prognostic  factors  in <br /> osteosarcomas. A regression analysis, cancer 62: 194–202. <br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012 <br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2