CHƯƠNG 3
NHIÊN LIỆU HẠT NHÂN
I. KHÁI NIỆM CHUNG
Nhiên liêu các chất khí cháy cho nhiệt năng. Những nhiên liệu được biết
đến như gỗ, than, k thiên nhiên hay dầu mỏ. Tương tự như vậy urani dung
trong các ny điện hạt nhân được gọi nhiên hạt nhân tỏa ra nhiệt ng
nhưng do phân hạch chứ không phải do cy. Nhiên liệu hạt nhân sau khi sử dụng
xong trong phản ứng có thtái xử để lấy ra những vật chất cho năng lương tái
chế được.
vậy người ta nói đến chu trình nhiên liệu hạt nhân. Chu trình ấy bao
gồm toàn bộ các thao tác công nghiệp sau đây:
+ Khai thác urani từ mỏ.
+ Chế tạo thanh nhiên liệu.
+ Sử dụng trong lò phản ứng.
+ Tái xử lý nhiên liệu lấy ra từ các lò phản ứng.
+ Xử lý và cất giữ chất thải.
Nhiên liệu hạt nhân cung cấp năng ợng lớn hơn nhiều so với nhiên liệu
háo thạch (than đá hay dầu mỏ). Dùng trong một phản ứng nước dưới áp suất,
1kg urani cung cấp năng lượng gấp 10000 lần so với 1kg than đá hay dầu mỏ trong
một nhà máy nhiệt điện. Hơn nữa nhiên liệu còn nằm trong phản ứng một thời
gian nhiều m, khác với nhiên liệu cổ điển cháy rất nhanh. Nhieenn liệu hạt nhân
cũng còn khác các nhiên liệu khác vì urani sau khi khai thác phải qua nhiều thao tác
mới sử dụng được trong phản ứng. Để đơn giản ta sẽ nói đến nhiên liệu hạt nhân
dùng trong các lò phản ứng dưới áp suất (REP). Trong thực tế các nhà máy điện hạt
nhân sử dụng lò phản ứng REP hiện nay là nhà y điện hạt nhân phổ biến trên thế
giới.
II. NGUỒN GỐC URANI
Urani một kim loại nặng ( hiệu hóa học U), thể sử dụng như
một nguồn năng ợng tập trung. Trong đa số các tảng đá trong vỏ Trái Đất từ 2
đến 4 phần triệu urani. trongớc biển thể khai thác từ các đại dương.
được khám phá o năm 1789 trong khoáng vaatj gọi uranit. Urani đã được
hình thành khoảng 6,6 tnăm trước đây. Ngày nay sự phân phóng xạ của
nguồn cung cấp nhiệt chings trong lõi của Trái Đất. Điểm tan chảy của urani
11320C.
1. Nguyên tử urani:
Trên một trật tự sắp xếp theo một khối lượng ngày càng tăng của họ hạt
nhân, urani là chất nặng nhất trong tự nhiên (hydro là nhẹ nhất).
Gioongs như một số chất khác, urani tồn tại trong vài dạng khác nhau
những chất đồng vị của nó. Những chất đồng vị y khác nhau về những hạt
nowtron trong hạt nhân.
Trong tự nhiên urani được tìm thấy trong vỏ địa cầu một sự pha trộn phần
lớn của hai chất đồng vị: urani -238 (U238), chiếm 99,3% urani -235 (U235)
vào khoảng 0,7%. Chât đòng vị U235 quan trọng hơn bởi trong những điều
kiện nhất định nó có thể bị phân rã và cung cấp nhiều năng lượng. U238 phân rã rất
chậm chạp, chu kì bán rã của nó là bằng tuổi thọ của Trái Đất. Tuy vậy khi phân rã,
nó phát sinh 0,1 W/1tấn và điều đó cũng đủ để sưởi ấm lõi Trái Đất.
2. Plutoni
Trong phản ng nguyên tử U238 hể bắt 1 trong những nowtron đang
hướng về bên trong i phản ứng trở thành Pu239. Pu239 rất giống U235
chỗ trong những phản ứng phân hạch khi bị va chạm bởi một nowtron nó gải phóng
ra nhiều năng lượng. Do rất nhiều U238 trong lõi của phản ứng (chiếm hầu
hết nhiên liệu) nên những phản ng y xuất hiện thường xuyên, trong thực tế
khoảng 1/3 năng lượng của nhiên liệu tạo nên do sự phân rã của Pu239.
3. Xử lý quặng urani
Quặng urani thể được khai thác trong các mỏ ngầm hoặc lộ thiên, phụ
thuộc vào chiều sâu của nó. Sau khai thác, quặng được nghiền được đưa lên trên
mặt đất. Rồi được xử với axit đhòa tan urani tách urani ra từ dung dịch.
Urani thể khai thác bởi bộ lọc (ISL), nơi nó được hòa tan từ quặng nguyên chất
hút lên bề mặt. Sản phẩm cuối cùng của giai đoạn khai thác giai đoạn nghiền
là axit urani cô đặc (U3O8). Đây là mẫu sản phẩm urani được đem bán.
Đối với hầu hết các phản ứng trên thế giới, bước tiếp theo trong việc tạo
ra nhiên liệu thể sử dụng được chuyển đổi oxit urani thành khí, urani
hexafluorua (UF6), vẫn cho phép việc làm giàu nó. Việc m giàu sẽ tăng thêm
tỉ lệ của đồng vị U235 từ mức tự nhiên của nó là 0,7% lên 3-4%. Điều y cho hiệu
quả thuật lớn hơn trong thiết kế thao c phản ứng, đặc biệt trong các
phnản ứng lớn, cho phép sử dụng nước thường như một chất điều tiết. Sau việc
làm giàu khí UF6 được chuyển đổi thành đoxit urani (UO2) được định dạng
trong những viên nhiên liệu. Những viên nhiên liệu này được đặt trong các ống kim
loại mỏng, được tập hợp thành các bó tạo thành nhiên liệu cơ sở cho lõi của lò phản
ứng. Đối với những phản ứng sử dụng nhiên liệu urani tự nhiên U3O8 đặc thì
cần được tinh lọc chuyển đổi trực tiếp thành ddioxxit urani. Nhiên liệu phế
thải của lò phản ứng được lưu giữ, và sau đó hoặc tái xử lý hoặc chôn sâu dưới đất.
III. CHUẨN BỊ NHIÊN LIỆU
1. Tách urani ra từ quặng
Urani một kim loại tương ddooid phổ biến trong vỏ Trái Đất (ví dụ nhiều
hơn thủy ngân 50 lần), cũng như phần lớn c kim loại, không được khai thác
trực tiếp dưới dạng tinh khiết bởi trạng thái tự nhiên nằm trong đá kết hợp
với các nguyên tố hóa học khác. Những loại đá giàu urani nhất quặng urani (tức
là quặng có chứa U), ví dụ như têchblen.
Chu trình nhiên liệu hạt nhân bắt đàu bằng việc khai thác quặng urani trong
các mỏ lộ thiên hay các hầm ngầm dưới đất. Các mỏ urani nổi tiếng nhất được thấy
ở Úc, Mỹ, Canada, Nam Phi và Nga.
2. Tuyển quặng và tinh chế urani
Hàm lượng U tổng quặng thường là rất thấp. Ví dụ ở Pháp mỗi tấn quặng chỉ
chứa 1-5 kg U (tức 0,1 đến 0,5%) vậy phải cần thiết làm tăng hàm ợng U
trong các quặng ấy ( gọi tắt tuyển quặng), việc này thường được tiến hành ngay
tại chỗ.
Đầu tiên đá được đập nhỏ, nghiền nát U được chiết xuất ra bằng các
thao tác hóa học. Tinh quặng được chế tạo ra hình dạng một chất bột nhão màu
vàng gọi “bánh vàng”. Chất ấy có chứa khoảng 75% oxit U U một kim laoij
loại bị oxy hóa rất nhanh khi tiếp xúc với oxy của không khí.
“Bánh vàng chế tạo ra không thể dùng ngay trong phản ứng hạt nhân.
Trước hết oxit U cần phải loại hết tạp chất qua nhiều gia đoạn m tinh khiết. Sau
khi đã đạt được độ tinh khiết cao, oxit U được chuyển hóa thành tetrafluorua U
(UF4) gồm có 4 nguyên tử flo và 1 nguyên tử U.
3. Làm giàu urani
Muốn dùng cho phản ng hạt nhân REP, phải loại nhiên liệu tỉ lệ
U235 giữa 3% đến 5% chỉ đồng vị ấy của U mới chịu phản ứng phân hạch giải
phóng năng lượng. Nhưng trong 100 kg U tự nhiên 99,3% kg U238 0,7 kg
U235 phân hạch. Thao tác làm tăng tỉ lệ U235 trong khối lượng U tự nhiên được
gọi là sự làm giàu. Làm giàu một việc rất khó khăn U235 và U238 các đồng
vị của cùng một nguyên tố nen rất nhau hầu như cùng một tính chất hóa học.
Tuy nhiên, ta thphân biệt chúng nhờ sự khác nhau rất nhỏ về khối lượng. Thật
vậy, U235 nhẹ hơn U238 một chút ít.
Vì vậy hiện nay việc làm giàu U căn cứ vào s khác nhau trong tính di động
do sự khác nhau rất ít về khối lượng. Trong tất cả các phương pháp làm giàu được
nghiên cứu cho đến nay, hai phương pháp đã phát triển đến quy công
nghiệp: khuếch tán chất khí siêu ly tâm. Một phương pháp thứ ba dang được
nghiên cứu là phân tách đồng vị vằng laze.
IV. XỬ LÝ NHIÊN LIỆU
1. Chế tạo các bó thanh nhiên liệu
Sau khi được m giàu, hexafluorua urani được chuyển hóa thành oxit U
dưới dạng mọt chất bột màu đen. Chất bột này được ép rồi nung (nấu trong lò) để
cho ra những khói trụ tròn nhỏ chiều dài chừng 1 cm kích thước cỡ những
mẫu phấn nhỏ gọi “viên”. Mỗi viên chỉ nặng chừng 7g thể cung cấp năng
lượng băng 1 tấn than đá (1 triệu gam).
Các viên y được xếp vào những ống kim loại dài chừng 4m bằng hợp kim
ziriconi, những ông y dùng làm “vỏ bọc”, hai đầu bịt kín, tạo thành các thanh
nhiên liệu. Để cung cấp cho một nhà y điện hạt nhân cần chế tạo hơn 40.000
thanh nhiên liệu kết lại thành những “bó củi” tiết diện hình vuông, gọi thanh
nhiên liệu. Mỗi chứa chừng 264 thanh. Để nạp nhiên liệu cho một phản ng
hạt nhân 900MW cần dùng 157 bó thanh nhiên liệu chứa tất cả U235 triệu viên.
2. Sự phân hạch trong lò phản ứng
Các thnah nhiên liệu sắp xếp theo ột dạng hình học chính xác làm thành
tâm phản ứng. Mỗi thanh phải nằm trong đó trong 3 đến 4 m. Trong thời gian
ấy. sự phân hạc của U235 sẽ cung cấp nhiệt năng cần thiết để sản xuất hơi nước rồi
sản xuất điện năng. U235 chất phân hạch phóng xạ giải phóng năng lượng.
Ngược lai, U238 chiếm tới 97% của khối lượng urani giàu không bị vỡ ra khi hấp
thụ 1 nowtron. Tuy nhiên, một số hạt của U238 bắt giữ 1 nơtron tạo thành Pu239
cũng một chất phân hạch như U235 vậy người ta gọi U238 chất n. Một
phần Pu239 thể cung cấp năng lượng bằng sự phân hạch của các hạt nhân. Một
phanf nhỏ được biến đổi thành các đồng vị khác của plutoni do bắt giứ nơtron.
3. Sự thoái hóa của nhiên liệu
Theo thời gian nhiên liệu chịu một số biến đổi làm giảm tính năng của nó.
+ Tiêu thụ ngày càng nhiều U235.
+ Sự xuất hiện các sản phẩm phân hạch (các sản phẩm này hấp thụ nowtron nên
làm ảnh hưởng đến phản ứng dây chuyền). Sau một thời gian nào đó, nhiên liệu
phải được rút ra khỏi lò phản ứng mặc dù nó còn chứa một số lượng lớn vật liệu
cung cấp năng lượng có thể thu hồi được là urani và plutoni. Nhiên liệu đã sử dụng
có hoạt độ phóng xạ rất cao sự có amwtj của các sản phẩm phân hạch. Bức xạ do
các nguyên tử phóng xạ phát ra tỏa ra rất nhiều nhiệt năng. Sau khi sử dụng, nhiên
liệu đã cháy ddwwcj cất giữ trong một bể làm lạnh ở gần lò phản ứng trong 3 năm
để làm giảm hoạt độ phóng xạ.