
Hình 10.4 Quá trình nổ của mồi nổ hình cầu
nhỏ hơn hoặc loại thành phần có áp lực nổ thấp hơn mà vẫn bảo đảm việc
kích nổ trong những điều kiện khắc nghiệt.
10.2.5 Kích nổ cạnh sườn
Việc kích nổ bằng dây nổ xuống lỗ có ảnh hưởng đến cột thuốc nổ
mà nó xuyên qua. Đối với ANFO, việc này có thể gây ra hiện tượng kích
nổ cạnh sườn hoặc có tác động nén ép và làm giảm nhậy lớp thuốc xung
quanh dây nổ.
252

Dây nổ năng lượng lớn có xu hướng kích nổ cạnh sườn ANFO ở tất
ốc độ nổ VOD khởi đầu ở phạm vi gần dây nổ
có trị số thấp sau đó tăng dần khi sóng nổ truyền lan qua khối thuốc. Kết
D trung bình của toàn bộ khối thuốc nhỏ hơn tốc độ nổ VOD ở
trạg thái ổnnh của khối thuốc ANFO được kích nổ t đáy (hình
10.5).
cả các đường kính lỗ mìn. T
quả là VO
n đị ừ dưới
10. NFO
Với đường kính lỗ mìn bất kỳ, luôn có một trị số khối lượng tới hạn
à nếu nhỏ hơn thì dây nổ sẽ không gây ra hiện tượng kích nổ cạnh sườn
ối với ANFO. Thay vào đó, khi nổ, sóng nổ của dây nổ sẽ mở rộng ra
Hình 5 Hiện tượng kích nổ cạnh sườn của dây nổ đối với A
m
đ
253

xung quanh và tạo ra một “ống í nổ trong khối thuốc ANFO.
Trong những lỗ mìn đườ n này có thể gây ra sự
nén ép cục bộ và làm giảm độ nhậy của ANFO. Phần ANFO không bị ảnh
ưởng trong mặt cắt lỗ minl vẫn đủ để sóng nổ truyền lan suốt cột thuốc
ược.
Nhìn chung, thuốc nổ nhũ tương và huyền phù (watergel) kém nhậy
ướng bị kích
nổ cạnh sườn bởi đa phần các loại dây nổ. Độ nhậy của thuốc nổ tăng lên
t độ nên một số loại thuốc nổ rời nạp vào lỗ mìn ở nhiệt độ
ạng ban đầu sau khi bị nén, quá trình nổ bậc cao bị ngăn cản không
ể tru
ạp,
xả” đối với kh
ng kính lớn, áp lực cạnh sườ
h
nhưng một phần năng lượng đã bị tiêu hao mất. Ở lỗ mìn có đường kính
nhỏ và trung bình, dây nổ hoặc gây nên hiện tượng kích nổ cạnh sườn đối
với ANFO và làm thuốc bị giảm nhậy một cách đáng kể hoặc “ép chết”
thuốc và làm cho quá trình nổ không hình thành đ
nổ hơn so với ANFO và nói chung chúng không có khuynh h
cùng với nhiệ
cao sẽ giữ nguyên độ nhậy với hiện tượng kích nổ cạnh sườn cho đến khi
nguội hẳn.
Thuốc nổ nhũ tương và huyền phù dễ bị “nén ép” và giảm nhậy hơn
ANFO vì tác động của sóng nổ lên bọt khí trong thuốc. Cho đến khi bọt khí
trở lại d
th yền lan quá một khoảng cách nhất định tính từ mồi nổ.
Nói chung, hiệu ứng của dây nổ đơn đối với thuốc nổ chịu ảnh
hưởng của các nhân tố được liệt kê dưới đây:
(a) Lượng thuốc lõi PETN trên một mét dây nổ,
(b) Kiểu loại và số lượng lớp vỏ bao quanh dây nổ,
(c) Độ nhậy kích nổ của thuốc nổ,
(d) Phương pháp nhậy hoá thuốc nổ,
(e) Tỉ trọng ban đầu của thuốc nổ khi n
254

(f) Mức độ kìm giữ thuốc nổ như bua và độ cứng của đá,
(g) Vị trí đặt dây kích nổ so với trục lỗ mìn hoặc thành lỗ mìn,
Vì số lượng biến số tham gia vào quá trình khá lớn, nên việc định
lượng chính xác các điều kiện thuốc nổ rời bị kích nổ cạnh sườn hoặc mức
độ giảm nhậy chính xác rất khó khăn. Bảng 5.1 cho thấy một số ví dụ về
ràng là dây nổ với thuốc lõi thấp không kích nổ cột thuốc nổ rời và giảm
thiểu hư hại có thể gây ra đối với các loại thuốc nổ này.
10.3 PHƯƠNG THỨC MỒI NỔ
(h) Nhiệt độ của thuốc nổ.
hiệu ứng của dây nổ đối với ANFO, thuốc nổ bao gói và nhũ tương rời. Rõ
10.3.1 Lắp ráp mồi nổ
ống tín hiệu hoặc dây dẫn đồng thời để kíp nằm gọn trong mồi nổ.
Yếu tố bao trùm nhất trong việc chuẩn bị mồi nổ là lắp kíp nổ hoặc
dây nổ vào mồi nổ, bảo đảm tiếp xúc chặt chẽ giữa chúng và giữ nguyên
trạng cho đến thời điểm kích hoả. Đã có những ví dụ về việc kíp nổ hoặc
dây nổ tách khỏi mồi nổ trong quá trình nạp thuốc dẫn đến hiện tuợng mìn
câm.
Kíp nổ nên được lắp vào mồi nổ như thế nào đó để không làm hư hại
255

10.3.2 Vị trí đặt mồi nổ
Kích thước và hình dạng bãi nổ cũng như độ cứng của đá có vai trò
quyết
Thông thườ n được mồi nổ ở dưới đáy hoặc với nhiều mồi nổ
bởi cá do
(a)
c nổ ở chân tầng. Khi cột thuốc ANFO
có chiều dài lớn, cột bua ngắn và đường cản nhỏ thì sự giảm
ổ dễ thoát ra ngoài hơn.
ặt mồi trên đỉnh cũng dễ gây ra hiện tượng “cắt đứt” (ngang)
lỗ mìn do sự chuyển dịch của lớp đất đá phía trên và có xu thế
cách li khối thuốc bên dưới.
( c) Hiện tượng “cắt đứt” cũng xảy ra trong cột thuốc khi kích nổ
n bảo đảm việc kích nổ
định trong việc chọn vị trí đặt mồi nổ để có kết quả nổ tốt nhất.
ng các lỗ mì
c lý sau đây:
Đặt mồi ở trên đỉnh làm chuyển dịch bua và lớp đá phía trên
quá sớm làm giảm áp lự
áp này sẽ rất vì khí n
(b) Đ
bằng mồi nổ đơn vì vậy nhìn chung nê
từ dưới chân sẽ tốt hơn là từ trên đỉnh.
Trong hoạt động cắt tầng, khi luôn phải thực hiện việc khoan thêm,
một số chuyên gia lựa chọn đặt mồi nổ thấp hơn đáy tầng với mục đích
tránh cho các thiết bị xúc bốc bị vấp vào các mô chân tầng còn lại. Một số
khác lại chủ ý đặt mồi nổ cao hơn đáy tầng để trong trường hợp mìn câm có
thể định vị được mồi nổ và xử lý.
Các nguyên tắc cơ bản phá vỡ đá cho thấy có rất ít sự khác biệt trong
việc đặt mồi nổ ở ngay đáy tầng hay dịch lên trên hoặc xuống dưới. Việc
quan trọng nhất là xem mồi nổ có được đặt an toàn giữa lớp thuốc tốt và
không bị nhiễm bẩn hay không. Điều này có nghĩa là mồi nổ nên được đặt
256

