BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
NGUYỄN THỊ NGỌC ANH
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG HỆ THỐNG
QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
NGUYỄN THỊ NGỌC ANH
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG HỆ THỐNG
QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính, ngân hàng
Mã số
: 62.34.02.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. ĐÀO MINH TÚ
2. PGS. TS. LÊ VĂN LUYỆN
HÀ NỘI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các kết quả nghiên
cứu trong luận án là hoàn toàn trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ
công trình nghiên cứu nào khác. Các trích dẫn sử dụng trong luận án đã ghi rõ
tên tài liệu tham khảo và tác giả của tài liệu đó, mọi sự giúp đỡ đã được cảm ơn!
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Ngọc Anh
LỜI CẢM ƠN
Luận án được hoàn thành là thành quả nghiên cứu nghiêm túc của tác giả.
Trong suốt thời gian nghiên cứu, tác giả đã nhận được sự đóng góp quý báu từ
nhiều tổ chức, cá nhân. Tác giả luận án xin trân trọng cảm ơn:
- Tập thể các thầy là người hướng dẫn khoa học cho nghiên cứu sinh: TS.
Đào Minh Tú và PGS. TS. Lê Văn Luyện đã trực tiếp hướng dẫn nhiệt tình,
truyền cảm hứng nghiên cứu cho nghiên cứu sinh trong thời gian học tập cũng
như khi xây dựng và hoàn thiện luận án.
- Các Thầy, Cô của Học viện Ngân Hàng, Khoa Sau đại học, Khoa Tài
chính đã tạo điều kiện học tập và nghiên cứu cho nghiên cứu sinh
- Quý Thầy, Cô hội đồng các cấp đóng góp, phản biện các ý kiến quý báu
giúp hoàn thiện luận án.
- Các cán bộ, đồng nghiệp thuộc Cơ quan Thanh tra giám sát Ngân hàng,
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; các cán bộ thuộc Hiệp hội QTDND, Ngân hàng
Hợp tác xã Việt Nam, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã nhiệt tình giúp đỡ trong
quá trình tác giả thu thập, tham gia cuộc phỏng vấn chuyên gia, khảo sát,….
- Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè,
đồng nghiệp đã tạo điều kiện, động viên tác giả hoàn thành luận án.
Dù đã cố gắng rất nhiều trong thời gian nghiên cứu nhưng bản Luận án
này không thể tránh khỏi thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được những ý kiến
đóng góp quý báu của Quý Thầy/Cô, đồng nghiệp và những người quan tâm để
bản Luận án này được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa, xin trân trọng cảm ơn.
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Ngọc Anh
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN.................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... ii
MỤC LỤC ............................................................................................................ iii
DANH MỤC BẢNG .............................................................................................vi
DANH MỤC HÌNH ........................................................................................... viii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT.............................................................................ix
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ..................................................................................... 1
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu ....................................................................... 2
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới .................................................................. 2
2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam .................................................................. 9
3. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................ 14
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án .................................................... 15
5. Phương pháp nghiên cứu của luận án .............................................................. 15
6. Những đóng góp mới của luận án .................................................................... 15
6.1. Về mặt lý luận ............................................................................................... 15
6.2. Về mặt thực tiễn ............................................................................................ 16
Chương 1 .............................................................................................................. 17
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG HỆ THỐNG ...................... 17
QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN ........................................................................... 17
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN ..................................................................................................................... 17
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm Quỹ tín dụng nhân dân ......................................... 17
1.1.2. Mục tiêu, nguyên tắc hoạt động và đặc trưng của Quỹ tín dụng nhân dân 22
1.1.3. Các loại hình Quỹ tín dụng nhân dân ......................................................... 24
1.1.4. Mô hình tổ chức của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân .............................. 25
1.1.5. Tổ chức và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân..................................... 27
1.1.6. Vai trò của Quỹ tín dụng nhân dân ............................................................ 30
1.2. PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN 33
1.2.1. Quan điểm về phát triển bền vững hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân ........ 33
1.2.2. Tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển bền vững của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân ............................................................................................................... 40
1.2.3. Yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân ............................................................................................................... 46
1.3. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CHO HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM .......................................................................................................... 50
1.3.1. Kinh nghiệm quốc tế .................................................................................. 50
1.3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ........................................................... 61
Chương 2 .............................................................................................................. 64
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ............................................................................ 64
CỦA HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN VIỆT NAM ....................... 64
2.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM .................................................................... 64
2.1.1. Sự hình thành của loại hình tổ chức tín dụng là hợp tác xã ở Việt Nam ... 64
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân ở Việt Nam ...................................................................................................................... 67
2.1.3. Vai trò của Ngân hàng Nhà nước trong việc hình thành và phát triển của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân .......................................................................... 75
2.2. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN .................................................................................... 78
2.2.1. Tổ chức và hoạt động của các Quỹ tín dụng nhân dân .............................. 79
2.2.2. Thực trạng của các tổ chức hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân ......... 88
2.2.3. Quản lý nhà nước đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân .................... 108
2.3. ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM TỪ KHI HÌNH THÀNH ĐẾN NAY ...... 113
2.3.1. Những kết quả đạt được ........................................................................... 113
2.3.2. Những hạn chế ảnh hưởng đến sự bền vững của các Quỹ tín dụng nhân dân ...................................................................................................................... 130
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế ............................................................. 138
Chương 3 ............................................................................................................ 146
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG HỆ THỐNG ..................................... 146
QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM ................................................ 146
3.1. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM ................. 146
3.1.1. Cơ hội ....................................................................................................... 146
3.1.2. Thách thức ................................................................................................ 147
3.2. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN ................................................................................................................... 149
3.2.1. Quan điểm có tính định hướng phát triển hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân ............................................................................................................................ 149
3.2.2. Nguyên tắc phát triển bền vững ............................................................... 150
3.2.2. Mục tiêu phát triển bền vững cho hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân ........ 152
3.3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM .............................................................................. 154
3.3.1. Giải pháp phát triển bền vững đối với từng Quỹ tín dụng nhân dân ....... 154
3.3.2. Tăng cường tính liên kết giữa các Quỹ tín dụng nhân dân ...................... 158
3.3.3. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về mô hình tổ chức hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân và của các tổ chức hỗ trợ hệ thống ............................................ 172
3.3.4. Tăng cường thanh tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước ............... 174
3.3.5. Hỗ trợ của chính quyền địa phương, lãnh đạo chỉ đạo của các tổ chức xã hội ....................................................................................................................... 176
3.3.6. Tăng cường sự tham gia của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam ...................... 176
3.4. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ................................................................................ 177
3.4.1. Đối với Quốc hội ...................................................................................... 177
3.4.2. Đối với Chính phủ .................................................................................... 177
3.4.3. Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam .................................................. 178
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 183
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ ................... 185
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 187
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Bộ tiêu chí phát triển bền vững Dow Jones ............................................. 3
Bảng 2. Bộ tiêu chí phát triển bền vững GRI ......................................................... 4
Bảng 1.1. Những điểm khác biệt giữa QTDND và NHTM ................................. 24
Bảng 1.2. Những đặc điểm chủ yếu của một TCTDHT vững mạnh ................... 35
Bảng 1.3. Tiêu chuẩn đánh giá tính bền vững của loại hình TCTDHT ............... 40
Bảng 2.1. Tình hình huy động vốn của các QTDND (1994 – 2016) .................. 84
Bảng 2.2. Tình hình dư nợ cho vay của các QTDND (1994 – 2016) .................. 86
Bảng 2.3. Tình hình thu nhập của các QTDND (1994 – 2016) ........................... 87
Bảng 2.4: Diễn biến nguồn vốn của QTDTW/NHHTX (2001 – 2016) .............. 96
Bảng 2.5: Tình hình sử dụng vốn của QTDTW/NHHTX (2001 – 2016) .......... 100
Bảng 2.6. Số lượng QTDND, số lượng thành viên tham gia hệ thống QTDND từ
năm 1994 đến năm 2016 ..................................................................... 119
Bảng 2.7. Quy mô món vay trung bình của QTDND giai đoạn 2010-2016 ...... 125
DANH MỤC HÌNH
Hình 1. Quan điểm về PTBV của QTDND ........................................................... 7
Hình 1.1. Mô hình hệ thống QTDND .................................................................. 26
Hình 1.2. Cơ cấu tổ chức của một QTDND ......................................................... 28
Hình 1.3. Mô hình hệ thống QTDND ................................................................. 46
Hình 2.1. Sơ đồ hệ thống QTDND theo đề án thí điểm (Đề án 390) .................. 68
Hình 2.2. Sơ đồ hệ thống QTDND (1995 -1999) ................................................ 69
Hình 2.3. Sơ đồ mô hình hệ thống QTDND (2000 – 2004) ................................ 71
Hình 2.4. Mô hình hệ thống QTDND (2005 – 2012) .......................................... 73
Hình 2.5. Cơ cấu tổ chức của một QTDND ......................................................... 79
Hình 2.6. Diễn biến lợi nhuận của các QTDND (1994 – 2016) .......................... 85
Hình 2.7. Tổng tài sản của QTDTW/NHHTX (2001-2016) ................................ 94
Hình 2.8. Cơ cấu nguồn vốn của QTDTW/NHHTX (2001-2016) ...................... 95
Hình 2.9. Cơ cấu vốn điều lệ và quỹ của QTDTW/NHHTX (2001-2016) ......... 97
Hình 2.10. Tổng dư nợ của QTDTW/NHHTX (2001 – 2016) ............................ 98
Hình 2.11. Tỷ lệ nợ xấu của QTDTW/NHHTX (2001 – 2016)........................... 99
Hình 2.12. Sơ đồ tổ chức bộ máy của Hiệp hội QTDND Việt Nam ................. 103
Hình 2.13. Số lượng QTDND (1994-2016) ....................................................... 117
Hình 2.14. Số lượng thành viên tham gia QTDND (1994-2016 ........................ 118
Hình 2.15. Số lượng thành viên tham gia / QTDND (1994-2016) .................... 118
Hình 2.16. Tình hình nguồn vốn của các QTDND (1994 – 2016) .................... 120
Hình 2.17. Tốc độ tăng trưởng vốn của các QTDND (1994 – 2016) ................ 120
Hình 2.18. Nguồn vốn bình quân của một QTDND (1994 – 2016) ................. 121
Hình 2.19. Tình hình dư nợ của các QTDND (1994 – 2016) ............................ 122
Hình 2.20. Tình hình dư nợ bình quân 1 QTDND (1994 – 2016) ..................... 122
Hình 2.21. Khả năng đáp ứng vốn vay của QTDND (1994 – 2016) ................. 123
Hình 2.22. Tình hình nợ xấu của các QTDND (1994 – 2016) .......................... 124
Hình 2.23. ROA, ROE của hệ thống QTDND (2000 – 2016) ........................... 125
Hình 3.1. Phân loại các QTDND theo “mức độ cảnh báo nguy cơ” ................. 161
Hình 3.2. Đề xuất áp dụng mô hình hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân .............. 165
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 ADB
STT Tên tiếng Việt đầy đủ Tên tiếng Anh đầy đủ Chữ cái viết tắt
BKS
2
Ngân hàng phát triển châu Á
BHTG
3
Asian Development Bank Ban kiểm soát
4
BHTGVN
Bảo hiểm tiền gửi
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
5 DZ Bank
6 ĐHTV
Deutsche Zentral Bank
7 HĐGS
Ngân Hàng Hợp tác xã Trung ương Đức Đại hội thành viên
8 HĐQT
Hội đồng giám sát
9 HTX
Hội đồng quản trị
10 HTXTD
Hợp tác xã
11 NHHTX
Hợp tác xã tín dụng
12 NHHTXCS Ngân hàng Hợp tác xã cơ sở
13 NHHTXTW Ngân hàng Hợp tác xã trung ương
14 NHNN 15 NHTM
Ngân hàng Hợp tác xã
16 PTBV
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ngân hàng thương mại
17 QTD
Phát triển bền vững
18 QTDND
Quỹ tín dụng
19 QTDNDKV Quỹ tín dụng nhân dân khu vực
20 QTDNDTW Quỹ tín dụng nhân dân TW
21 QTDNDCS Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
22 TCTD
Quỹ tín dụng nhân dân
23 TCTDHT
Tổ chức tín dụng
24 TCVM
Tổ chức tín dụng hợp tác
25 TCTCVM
Tài chính vi mô
Tổ chức tài chính vi mô
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác xã hoạt động
trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, có địa bàn hoạt động chủ yếu ở khu vực nông
nghiệp, nông thôn; bộ máy tổ chức được xây dựng theo mô hình kinh tế hợp tác,
hoạt động chủ yếu là huy động vốn để cấp tín dụng và dịch vụ ngân hàng cho các
thành viên của mình.
Được xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 và mau chóng trở
thành phong trào lan rộng ở các nước châu Âu, châu Mỹ, châu Á... với nhiều tên
gọi khác nhau như Hợp tác xã tín dụng, Quỹ tín dụng và tiết kiệm, QTDND,
NHHTX,... mô hình kinh tế này đã trở thành một bộ phận kinh tế quan trọng
không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân không chỉ ở những nước đang phát
triển mà ở ngay các nước kinh tế phát triển như CHLB Đức, Hà Lan, Canada,…
Ở Việt Nam, tiền thân của mô hình QTDND là các Hợp tác xã tín dụng
được hình thành theo phong trào hợp tác hóa từ những năm 1960, cùng với sự
thay đổi về mọi mặt đời sống kinh tế xã hội, loại hình này cũng đã có những thay
đổi cả về tên gọi, cơ cấu tổ chức và hình thức hoạt động; dù vậy, trong mọi hoàn
cảnh loại hình TCTD này vẫn luôn khẳng định được vai trò đáng kể của nó trong
việc tham gia giải quyết các mục tiêu liên quan đến nông nghiệp, nông dân và
nông thôn của Đảng và Nhà nước.
Thực hiện Nghị quyết lần thứ V Ban chấp hành TW Đảng khoá VII về chủ
trương tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, từ giữa năm
1993 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có chủ trương về xây dựng mô hình
QTDND; căn cứ chủ trương này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
số 390/TTg cho phép triển khai thí điểm thành lập QTDND. Sau hơn hai mươi
năm xây dựng và phát triển, cho đến nay, mô hình tổ chức của các QTDND về
cơ bản đã được hoàn thiện.
2
Là loại hình TCTDHT hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự
chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ
giữa các thành viên sinh sống và thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh ở
trong khu vực nông nghiệp, nông thôn, một khu vực được cho là rất nhạy cảm và
dễ bị tổn thương trước các điều kiện ngoại cảnh. Hơn nữa ngay trong nội bộ của
hệ thống QTDND cũng còn nhiều tồn tại, dẫn tới sự kém an toàn của từng
QTDND và của toàn hệ thống. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi mà Việt
Nam đã thực sự trở thành một nước có nền kinh tế thị trường; Các NHTM và các
loại hình TCTD khác phát triển ngày càng mạnh mẽ, thị phần vươn rộng hơn đến
cả những khu vực từ trước đến nay vẫn được coi là lãnh địa riêng của QTDND;
Trong bối cảnh đó QTDND muốn tồn tại và phát triển bền vững đòi hỏi phải có
những thay đổi mang tính cách mạng. Bên cạnh đó, QTDND cũng giống như các
TCTD hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng – một lĩnh vực được cho là
tiềm ẩn nhiều rủi ro, nên tính an toàn của mỗi QTDND và cả hệ thống càng phải
được chú trọng.
Xuất phát từ yêu cầu trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Phát triển bền
vững hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân ở Việt Nam” để xây dựng luận án.
Là một trong những người tham gia ngay từ giai đoạn đầu thành lập thí
điểm các QTDND, tác giả có điều kiện tiếp cận với quá trình thành lập, cho đến
xây dựng và hoàn thiện mô hình hệ thống QTDND ở Việt Nam; tiếp cận, học tập
kinh nghiệm phát triển hệ thống QTDND ở một số nước trên thế giới như hệ
thống Desjardins, Canada, hệ thống NHHTX Đức, NHHTX Rabobank - Hà Lan,
NHHTX ở Vân Nam - Trung Quốc,…. Thông qua thực hiện đề tài này, tác giả
mong muốn đề xuất các giải pháp để hệ thống QTDND ở Việt Nam phát triển
bền vững trong thời gian tới.
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Ngay từ những năm năm mươi của thế kỷ trước, PTBV đã trở thành một
môn khoa học được nhiều cá nhân, quốc gia và tổ chức quốc tế quan tâm nghiên
3
cứu. Các nghiên cứu này đã đưa ra được những khái niệm, nguyên tắc và tiêu chí
để đánh giá sự PTBV, tiêu biểu trong số đó phải kể đến:
- Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững tổ chức ở
Johannesburg năm 2002: Đã xác định “Phát triển bền vững là quá trình có sự kết
hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, đó là phát triển kinh
tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường”.
- Bộ tiêu chí DowJones [60], năm 1999, bộ tiêu chí về phát triển bền vững
một doanh nghiệp lần đầu tiên được công bố đó là bộ tiêu chí DowJones (bảng
1). Bộ tiêu chí này ra đời nhằm đánh giá thành tích trên 3 chiều kích của phát
triển bền vững là kinh tế, môi trường và xã hội của các doanh nghiệp lớn.
Bảng 1. Bộ tiêu chí phát triển bền vững Dow Jones
Các chiều kích
Trọng số của các tiêu chí (%) 5.5
Kinh tế
Môi trường
6.0 6.0 Tùy theo ngành nghề 7.0 3.0 Tùy theo ngành nghề 3.5
5.0
Xã hội
Tiêu chí - Qui tắc ứng xử/ tuân theo luật lệ/ hối lộ-đút lót - Quản trị doanh nghiệp - Quản tri rủi ro và khủng hoảng - Các chỉ tiêu riêng của ngành nghề - Thành tích về môi trường - Có bản báo cáo về môi trường - Các chỉ tiêu riêng của ngành nghề - Hoạt động từ thiện - Ứng dụng các qui tắc sử dụng lao động của quốc gia và quốc tế - Việc phát triển vốn con người - Có báo cáo về hoạt động xã hội - Khả năng thu hút - Các chỉ tiêu riêng của ngành nghề
5.5 3.0 5.5 Tùy theo ngành nghề
Các chỉ tiêu trên được thể hiện bằng các câu hỏi cụ thể và người đứng đầu
doanh nghiệp sẽ phải cung cấp câu trả lời. VD: về khía cạnh môi trường, doanh
nghiệp sẽ cho biết trong năm qua hoạt động sản xuất và kinh doanh của họ đã
thải ra bao nhiêu lượng khí CO2, đã tiêu thụ bao nhiêu nước sạch, ... về khía cạnh
4
xã hội, có sự phân biệt đối xử về giới tính trong vấn đề lương hay không, tỷ lệ nữ
đảm trách các trách nhiệm lãnh đạo, …
- Bộ tiêu chí GRI [61]: Đến năm 2002, tổ chức Global Reporting Initiative
(GRI) đưa ra một bộ tiêu chí khác được xem là đầy đủ và rõ ràng hơn và nó vẫn
xoay quanh 3 chiều kích của phát triển bền vững giống như bộ tiêu chí
DowJones, cụ thể như sau (bảng 2):
Bảng 2. Bộ tiêu chí phát triển bền vững GRI
Các chiều kích
Các khía cạnh
Kinh tế
Môi trường
Lao động
Quyền con người
Xã hội
Sản phẩm có trách nhiệm
- Những tác động kinh tế trực tiếp của doanh nghiệp - Sự diện diện trên thị trường - Những tác động kinh tế gián tiếp - Nguyên vật liệu - Năng lượng - Nước sạch - Đa dạng sinh học - Rác thải - Sản phẩm và dịch vụ - Vận tải - Nhân công - Quản lý các mối quan hệ lao động - Sức khỏe và an toàn - Đào tạo và giáo dục - Sự đa dạng và cơ hội - Chiến lược và quản lý - Không phân biệt đối xử - Quyền tự do lập nhóm - Lao động trẻ em - Lao động cưỡng bức - Việc tuân thủ các qui tắc lao động và an toàn Tuân thủ luật lệ địa phương - Cộng đồng - Hối lộ và tham nhũng - Các đóng góp về mặt hành chính - Cạnh tranh và giá cả - Sức khỏe và an toàn của người tiêu dùng - Sản phẩm và các dịch vụ - Quảng cáo - Tôn trọng sự riêng tư
5
- Nghiên cứu của Denis Goulet [8]: Cho rằng PTBV bao hàm 4 khía
cạnh: kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa và một chiến lược phát triển đúng đắn
sẽ hướng vào việc tăng trưởng kinh tế mà sản phẩm sản xuất ra tập trung vào
những nhu cầu cơ bản, tạo công ăn việc làm.
- Nghiên cứu của Thaddeus C. Trzyna [50]: Cho rằng, PTBV đòi hỏi
phải có sự xuyên suốt nhiều chuyên ngành, lĩnh vực, bộ môn, … và phải xem xét
trong mối tương quan giữa các lĩnh vực sinh thái, kinh tế, xã hội hay nói cách
khác, PTBV là một quá trình của xã hội, mà trước hết là một nguyên tắc đạo
đức.
- Nghiên cứu của Carl-Johan Lindgren [3]: Khi nghiên cứu về phát triển
bền vững NHTM thì cho rằng: Các NHTM được coi là lành mạnh hay phát triển
bền vững khi khả năng tài chính và hoạt động ngân hàng đạt tới hiệu quả nhất
định để có thể tồn tại, chịu đựng và chống đỡ các tác động bất lợi của môi trường
bên ngoài.
Nếu cho rằng QTDND là một trong những loại hình TCTD cung cấp
dịch vụ tài chính vi mô, nếu coi QTDND là một loại hình của TCTCVM, thì
đã có nhiều quan điểm về tính bền vững của TCTCVM:
- Nghiên cứu của Pau R. Niven [39]: PTBV QTDND là sự phát triển và
cân bằng của 4 nhóm yếu tố cấu thành: Khách hàng; các quy trình nội bộ; đào
tạo và nhân viên; và tài chính của tổ chức:
i/ Khách hàng của QTDND chủ yếu là các thành viên sản xuất kinh doanh
và sinh sống trong cùng một địa bàn, một lĩnh vực. QTDND cần duy trì mối
quan hệ với thành viên cũ và thu hút thêm thành viên mới để ổn định và phát
triển. Để thực hiện được điều này phải đo lường được sự hài lòng của các thành
viên thông qua các biến số: số lượng thành viên và mức tăng trưởng của thành
viên tham gia vào QTDND, các sản phẩm dịch vụ thích ứng và tạo giá trị gia
tăng cho thành viên, nâng cao giá trị thương hiệu của QTDND. Thẻ điểm cân
bằng giúp mỗi tổ chức trả lời 3 câu hỏi quan trọng về PTBV: Nhóm khách hàng
mục tiêu của tổ chức là ai? Giá trị của tổ chức trong việc phục vụ khách hàng
như thế nào? Xác định nhu cầu của khách hàng là gì để thỏa mãn nhu cầu, tạo
được lòng trung thành của khách hàng?
6
ii/ Các quy trình nội bộ gồm: Chiến lược hoạt động, quy định về quản lý,
điều hành, quản trị rủi ro,… đảm bảo phòng ngừa rủi ro, quản lý tài sản hiệu quả.
Quy trình nội bộ trong Thẻ điểm cân bằng chú trọng đến điều hành: Tối ưu hóa
các quy trình giao tiếp với khách hàng; quy trình quản lý khách hàng (hiểu
khách hàng của mình, xây dựng những mối quan hệ lâu dài); sự đổi mới
(nghiên cứu và đánh giá các xu hướng, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới,
giám sát, đánh giá sự tuân thủ các luật và quy định, đảm bảo luôn có sự kiểm
soát nội bộ hiệu quả); giúp các tổ chức nhận diện nhiệm vụ mà họ phải thực
hiện tốt nhằm gia tăng giá trị cho khách hàng của mình.
iii/ Đào tạo và phát triển nhân viên được đo lường qua các biến số:
Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực (trình độ chuyên môn, kỹ năng
nghiệp vụ , kỹ năng tin học, trình độ ngoại ngữ).
Nguồn lực thông tin thể hiện qua mức độ hiện đại của công nghệ mà tổ
chức áp dụng, mức độ hội nhập của công nghệ thông tin vào các quá trình hoạt
động của tổ chức.
Nguồn lực tổ chức thể hiện năng lực quản lý của nhà lãnh đạo, văn hóa
kinh doanh được cải tiến.
Nguồn nhân lực của tổ chức luôn là yếu tố quan trọng giúp tổ chức thực
hiện tốt các quy trình nội bộ và làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Vì vậy,
tổ chức cần đào tạo nhân viên, nâng cao công nghệ để phục vụ ngày càng tốt
hơn nhu cầu của khách hàng.
iv/ Năng lực tài chính gồm: vốn tự có (chỉ tiêu CAR - tỷ lệ vốn tự có so
với tổng tài sản có); chất lượng tài sản (nợ xấu/tổng dư nợ; nợ quá hạn/tổng dự
nợ; dự phòng rủi ro/nợ xấu; khả năng đảm bảo thanh toán - tỷ lệ tài sản có có
thể thanh toán ngay/tài sản nợ phải thanh toán); tốc độ tăng của của tiền gửi so
với tốc độ tăng của cho vay; khả năng sinh lời của vốn tự có (ROE) và khả năng
sinh lời của tài sản (ROA). Thẻ điểm cân bằng đề cập đến khía cạnh tài chính
như là thành phần quan trọng trong hoạt động của TCTD, nó đặt ra các mục
tiêu: tối thiểu hóa chi phí, nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản, tăng doanh thu để
gia tăng giá trị, đảm bảo đủ bù đắp chi phí và có lợi nhuận, có cổ tức và có tích
lũy thông qua các quỹ trích lập, đảm bảo cho TCTD ổn định và bền vững.
7
- Nghiên cứu của Richard Beckhard [58]: PTBV một tổ chức nghĩa là
“một nỗ lực để (1) lập kế hoạch, (2) mở rộng tổ chức, (3) quản lý từ cấp cao
nhằm mục đích (4) tăng cường hiệu lực và sức mạnh của tổ chức thông qua (5)
các công cụ can thiệp có tổ chức vào quá trình hoạt động của tổ chức, sử dụng
kiến thức khoa học về hành vi”.
- Theo CGAP [3]: Bền vững trong ngành TCVM có nghĩa là “năng lực
của một TCTCVM bù đắp được mọi chi phí và có lãi trong khi cung cấp được
các dịch vụ tài chính cho cộng đồng dân nghèo”. Theo đó, TCTCVM được coi
như PTBV nếu duy trì được sự cân bằng giữa an toàn – sinh lời trong thời gian
dài; phục vụ lợi ích của khách hàng; và gia tăng lợi ích cho cộng đồng, xã hội,
môi trường.
Hoạt động lâu dài, giảm thiểu rủi ro, có hiệu quả kinh tế phù hợp, là điều
kiện tối cần thiết cho hoạt động bền vững của QTDND (với quan niệm là một
loại hình TCTCVM). Tuy nhiên, để phân biệt chức năng xã hội và chức năng tài
chính của QTDND so với các loại hình thương mại khác, hai vấn đề lớn của
QTDND cần phải cân bằng được là: (i) đảm bảo lợi ích của khách hàng trên cả
giác độ tài chính; (ii) đảm bảo lợi ích của cộng đồng, xã hội và môi trường.
Hình 1. Quan điểm về PTBV của QTDND
8
Tóm lại, QTDND được coi là PTBV nếu duy trì được sự cân bằng giữa an
toàn – sinh lời trong thời gian dài; phục vụ lợi ích của thành viên; và gia tăng
lợi ích cho cộng đồng, xã hội, môi trường.
Cũng trên nền tảng của PTBV một số nhà khoa học khác đã tiến hành
nghiên cứu về PTBV cho mô hình kinh tế HTX như: Robert Owen, với tác phẩm
"A new view of Society, Essays on the Formation of Character"; hay những
nghiên cứu của Taylor (1971), Flannary (1974), Cargill & Meyer (1981), Smith
(1984), … Trong số đó có một số những nghiên cứu gắn với các mô hình cụ thể
như nghiên cứu của: Beslay, Coate & Loury (1993) về mối quan hệ giữa tín
dụng và tiết kiệm trong các QTDND ở các nước đang phát triển; của Banerjee &
Guinnane (1994), Emmons & Mueller (1998) về động cơ của các thành viên
trong NHHTX ở Đức; …
Nhìn chung để nghiên cứu về mô hình QTDND bền vững dưới góc độ
kinh tế, cho đến nay người ta đã tiếp cận qua hai phương pháp:
i/ Thứ nhất, tập trung vào cấu trúc pháp lý của QTDND với tư cách là
HTX thuộc sở hữu của những người sử dụng dịch vụ và khai thác cách thức cung
cấp, phân bổ dịch vụ tài chính của chính đơn vị mình. Bằng phương pháp này,
trước đây đã có một số nhà lý luận tiêu biểu nghiên cứu về cấu trúc truyền thống
của QTDND như Taylor (1971), Flannary (1974), Cargill & Meyer (1981),
Smith (1984). Các công trình nghiên cứu của họ đã nhấn mạnh đến sự xung đột
quyền lợi nảy sinh giữa các thành viên trong việc xác định chính sách hoạt động
của QTDND, đó là những thành viên gửi tiền thì đòi hỏi lãi suất tiết kiệm cao
nhất, còn những thành viên vay vốn thì lại muốn được hưởng mức lãi suất tín
dụng càng thấp càng tốt. Rõ ràng đây là hai mục tiêu này xung đột với nhau và
có nguy cơ tác động đến khả năng bền vững của QTDND, vấn đề đặt ra là
QTDND vận dụng chính sách nào để dung hòa sự xung đột đó? Về sau một số
nhà nghiên cứu như Beslay, Coate & Loury (1993) đã phân tích mối quan hệ
giữa tín dụng và tiết kiệm trong các QTDND ở các nước đang phát triển;
Banerjee & Guinnane (1994), Emmons & Mueller (1998) đã tập trung làm rõ
động cơ của các thành viên trong NHHTX ở Đức; Và Davids (1998) thì chú
9
trọng nghiên cứu về khả năng bền vững của các QTDND. Mặc dù các khuôn
mẫu kỹ thuật nghiệp vụ đã thay đổi trong những năm gần đây, nhưng các nội
dung cơ bản được nghiên cứu sau này vẫn xoay quanh vấn đề quản trị và cơ cấu
riêng biệt của từng QTDND.
ii/ Thứ hai, QTDND được xem là có cấu trúc quản lý tương đối yếu hơn
so với các loại hình TCTD thương mại khác do những đặc trưng và cũng là yếu
điểm của hình thức quản lý dân chủ, cụ thể là không một cá nhân hay một nhóm
người nào có thể can thiệp mạnh mẽ vào việc thiết lập kỷ luật trong việc quản trị
khi các chính sách hoặc việc thực thi của QTDND không đi đúng định hướng
(Rasmusen, 1988). Điều đó được lý giải bởi nguyên tắc quản lý QTDND "mỗi
thành viên, một phiếu bầu", khi mà số lượng thành viên của một QTDND thường
rất lớn.
Cũng như hầu hết các vấn đề khoa học xã hội khác, lý luận về tổ chức và
hoạt động hệ thống QTDND cũng không ngừng phát triển; điều đó được thể hiện
qua việc cơ cấu tổ chức, hầu hết các hệ thống QTDND đều trải qua một quá trình
chuyển đổi từ mô hình 3 cấp sang mô hình 2 cấp.
2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, đã có rất nhiều những nghiên cứu về PTBV, nhưng đa phần
chỉ tập trung vào lĩnh vực tài nguyên thiên nhiên như đất, nước, rừng, ….
Trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng cũng đã có một số nghiên cứu về đảm
bảo an toàn, ổn định cho đối tượng là NHTM như:
- Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam [4] đã đưa ra
một báo cáo nghiên cứu về phát triển bền vững ở Việt Nam. Trong nghiên cứu,
đã tổng kết toàn cảnh 20 năm thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam, đề cập
đến việc thực hiện các cam kết quốc tế về phát triển bền vững, cũng như khung
thể chế cho phát triển bền vững.
- TS. Nguyễn Thị Kim Thanh [35] cũng đưa ra quan điểm của mình về phát
triển bền vững, đó là “Một ngân hàng sẽ phát triển bền vững khi đạt được cùng
lúc ba sự cân bằng: Sự cân bằng giữa lợi nhuận kỳ vọng với mức độ rủi ro mà
ngân hàng có thể chấp nhận được, sự cân bằng giữa lợi ích của ngân hàng và lợi
10
ích của khách hàng và cân bằng giữa gia tăng lợi ích cho cộng đồng và bảo về
môi trường”, cũng như nghiên cứu về tiêu chí phát triển bền vững khu vực Ngân
hàng Việt Nam trong điều kiện hội nhập đăng trên Tạp chí ngân hàng số 17,
tháng 9/2013. Các tiêu chí đề xuất vẫn xoay quanh các mặt hoạt động của ngân
hàng phản ảnh bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường.
- PGS. TS. Tô Ngọc Hưng [49] khi đề cập đến các vấn đề phát triển bền
vững hệ thống NHTM Việt Nam đã nêu 6 vấn đề cần giải quyết đối với các
NHTM Việt Nam để hướng đến phát triển an toàn và bền vững đó là: “(i) Số
lượng NHTM nhiều và cạnh tranh tín dụng gay gắt; (ii) Quy mô vốn điều lệ và
vốn chủ sở hữu thấp so với quy mô tổng tài sản và tín dụng; (iii) Huy động vốn
tăng trưởng nhưng cơ cấu vốn không hợp lý và nguồn vốn không ổn định; (iv)
Chất lượng tài sản thể hiện ở cơ cấu tín dụng không hợp lý và tỷ lệ nợ xấu cao;
(v) Khả năng sinh lời giảm và có dấu hiệu không bền vững; (vi) Năng lực quản
trị yếu kém”.
Trong nghiên cứu này, PGS. TS. Tô Ngọc Hưng đã chỉ ra các yếu kém của
các NHTM Việt Nam để hướng tới phát triển bền vững. Không còn cách nào
khác, muốn phát triển bền vững thì các NHTM Việt Nam phải giải quyết triệt để
sáu vấn đề trên.
- Trần Hữu Ý [51] trong nghiên cứu về xây dựng chiến lược phát triển bền
vững của Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam chủ yếu đề cập các nội dung
về phát triển bền vững, chiến lược phát triển và chiến lược phát triển bền vững
của Ngân hàng Chính sách Xã hội.
- Nguyễn Thanh Phương [33] trong nghiên cứu về phát triển bền vững
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Tác giả đã nghiên
cứu khá bao quát các quan điểm về phát triển bền vững NHTM, các chỉ tiêu đánh
giá và các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển bền vững NHTM.
- Đặng Ngọc Đức [9] trong nghiên cứu về “Tăng cường khả năng phát triển
bền vững của các NHTM Việt Nam trong điều kiện hội nhập” đã đề cập đến các
quan niệm phát triển bền vững NHTM, tiêu chí phản ảnh sự phát triển bền vững
NHTM, các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững của NHTM trong điều
11
kiện hội nhập và toàn cầu hóa. Đăc biệt, đã chỉ ra mô hình giám sát hoạt động
ngân hàng hướng tới sự phát triển bền vững…
- Nguyễn Kim Anh và Nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam
(VMFWG) [30] đã đưa ra bản Báo cáo đánh giá “Mức độ bền vững của các tổ
chức tài chính vi mô Việt Nam: Thực trạng và một số khuyến nghị” đã đề cập về
khuôn khổ pháp lý, mục tiêu hoạt động, mô hình hoạt động, tính tự vững, quản
trị điều hành,… của TCTCVM mang lại sự am hiểu, nhận thức sâu rộng hơn của
xã hội, tạo sự đồng thuận cần thiết để tạo môi trường hoạt động tốt nhất cho
TCTCVM phát triển bền vững.
- Nguyễn Đức Hải [38] với nghiên cứu “Phát triển tài chính vi mô tại Việt
Nam” đã đánh giá tình hình hoạt động của các tổ chức tài chính quy mô nhỏ ở
Việt Nam, khẳng định loại hình TCTCVM ở Việt Nam là phù hợp, từ đó đề ra
các giải pháp để phát triển loại hình này.
- Nguyễn Kim Anh, Ngô Văn Thứ, Lê Thanh Tâm và Nguyễn Thị Tuyết
Mai [29] trong tác phẩm “Tài chính vi mô với giảm nghèo tại Việt Nam” đã
khẳng định TCVM là một trong những công cụ hữu hiệu để thực hiện xóa đói
giảm nghèo ở Việt Nam.
Đối với nghiên cứu về loại hình TCTD là HTX cũng đã có một số nghiên
cứu về xây dựng, hoàn thiện mô hình, nghiên cứu để đảm bảo an toàn cho hệ
thống QTDND như:
- TS. Trần Quang Khánh [54] trong nghiên cứu “Giải pháp thành lập
Quỹ an toàn hệ thống QTDND Việt Nam”, đã đánh giá thực trạng hoạt động của
hệ thống QTDND, phân tích các tồn tại, hạn chế và nguyên nhân có thể làm mất
an toàn trong hoạt động của từng QTDND và của cả hệ thống. Trên cơ sở đó,
đưa ra giải pháp thành lập quỹ an toàn hệ thống QTDND. Kết quả nghiên cứu
của đề tài này có tính ứng dụng cao, góp phần vào việc ra đời Quỹ bảo toàn hệ
thống được Thống đốc NHNN ký ban hành Đề án.
- Viện Chiến lược [55]: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Ngành: “Thành
lập Tổ chức kiểm toán QTDND Việt Nam” với những nghiên cứu chủ yếu đến
việc thành lập tổ chức kiểm toán trực thuộc Hiệp hội QTDND, đề tài đã đưa ra
12
những giải pháp mang tính định hướng cho việc thành lập tổ chức kiểm toán
QTDND để kiểm toán cho các đối tượng là các QTDND.
- Viện Chiến lược [56], đề tài nghiên cứu khoa học cấp Ngành: “Giải
pháp chuyển đổi mô hình hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương
thành Ngân hàng Hợp tác xã”, đã tổng hợp những vấn đề lý luận và thực tiễn về
tổ chức và hoạt động của hệ thống QTDND và QTDND Trung ương kể từ khi
thành lập ở Việt Nam, vai trò quan trọng của QTDND Trung ương đối với sự
phát triển an toàn, bền vững của hệ thống QTDND, nghiên cứu về mô hình
NHHTX ở một số nước trên thế giới và trong khu vực, từ đó nêu lên sự cần thiết
của việc chuyển đổi mô hình hoạt động của QTDND Trung ương thành
NHHTX, đề xuất các giải pháp mang tính định hướng và kiến nghị nhằm chuyển
đổi mô hình hoạt động của QTDNDTW, tạo cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện
và phát triển loại hình TCTD là HTX, góp phần cho hệ thống QTDND phát triển
ổn định, an toàn và bền vững.
- Doãn Hữu Tuệ [7] trong nghiên cứu “Hoàn thiện tổ chức và hoạt động
của hệ thống QTDND Việt Nam” với những nghiên cứu và đề xuất hoàn thiện
cơ cấu tổ chức của hệ thống QTDND thông qua việc thành lập Công ty quản lý
Quỹ an toàn, Quỹ bảo hiểm tương hỗ, Tổ chức kiểm toán, Trung tâm đào tạo
nhân lực, Trung tâm công nghệ thông tin, Quỹ dự phòng khả năng chi trả. Đồng
thời, hoàn thiện cơ cấu tổ chức của từng bộ phận cơ bản cấu thành hệ thống
QTDND theo đúng mục tiêu, bản chất và đặc trưng của loại hình TCTDHT.
- Nguyễn Đình Lưu [36] trong nghiên cứu "Hoàn thiện và phát triển hệ
thống QTDND Việt Nam" đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản để hoàn
thiện và phát triển hê thống QTDND, trong đó phân tích sâu và thực trạng của
quá trình hoàn thiện và phát triển hệ thống QTDND ở Việt Nam, trên cơ sở đó
đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện và phát triển hệ thống QTDND
trong thời gian sau đó.
- Nguyễn Thị Ngọc Anh [31] trong nghiên cứu “Tăng cường quản lý nhà
nước đối với hệ thống QTDND ở Việt Nam” đã đề xuất các giải pháp liên quan
13
đến vai trò của quản lý nhà nước nhằm bảo đảm an toàn cho hoạt động của hệ
thống QTDND.
- Trần Quang Khánh [52] trong nghiên cứu “Những giải pháp bảo đảm
an toàn cho hoạt động của hệ thống QTDND Việt Nam” đã chỉ ra rằng, muốn
đảm bảo an toàn cho hoạt động của hệ thống QTDND cần nâng cao khả năng tự
đề kháng rủi ro, tạo môi trường thuận lợi, nâng cao chất lượng cấp giấy phép
thành lập và thực hiện kiểm tra giám sát chặt chẽ đối với các QTDND.
Ngoài ra, thời gian qua cũng đã có nhiều tác giả có những bài viết đăng tải
trên các tạp chí chuyên ngành đề cập đến các khía cạnh khác nhau của hệ thống
QTDND như: “Cơ chế giám sát và đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống
NHHTX Cộng hoà Liên bang Đức và việc vận dụng vào điều kiện thực tiễn Việt
Nam” Trần Quang Khánh, Tạp chí Ngân hàng 1999 [53]; "Hệ thống QTDND
qua hơn 2 năm củng cố, chấn chỉnh theo Chỉ thị 57 của Bộ Chính trị", Nguyễn
Đình Lưu, Tạp chí Ngân hàng số 1 + 2/2003 [37]; "Điều hòa vốn trong hệ thống
QTDND", Phạm Quang Vinh, Tạp chí Ngân hàng tháng 4/2001 [40]; "NHHTX
– Mô hình mới trong hệ thống TCTD Việt Nam", TS. Nguyễn Thị Thanh
Hương, Tháng 3/2013 [34]; "Một chủ trương đúng và kịp thời thực hiện tái cơ
cấu hiệu quả hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân", Thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Anh,
Tạp chí Ngân hàng, Tháng 7/2013 [32]; ....
Đánh giá chung tổng quan vấn đề nghiên cứu:
QTDND là một loại hình TCTD hoạt động tiền tệ, tín dụng ở khu vực
nông nghiệp và nông thôn, một khu vực chứa đầy rủi ro và thách thức; Tuy nhiên
thực tế cũng đã chứng minh loại hình kinh tế này đã phát huy được vai trò lịch
sử của nó ở nhiều quốc gia trên thế giới và cả ở Việt Nam.
Do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, tính ổn định, tính an toàn
của các QTDND rất thấp, do vậy nhiều quốc gia đã có các công cụ hữu hiệu
nhằm PTBV loại hình TCTD này.
Các công trình nghiên cứu trên thế giới đã đề cập đến sự PTBV trong đó
có đưa ra các bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững cho các loại hình tổ chức, mô
hình kinh tế, xã hội. Nhiều công trình nghiên cứu trong nước về PTBV mới chỉ
14
tập trung đề cập đến loại hình TCTD là NHTM hay TCTCVM; Một số công trình
liên quan đến loại hình QTDND nhưng cũng chỉ xoay quanh đảm bảo an toàn
cho hệ thống QTDND như xây dựng, hoàn thiện mô hình; vấn đề đảm bảo an
toàn cho hoạt động của hệ thống QTDND, cũng chỉ dừng lại ở mức đề xuất các
giải pháp mang tính định hướng nhằm phục vụ cho việc đảm bảo an toàn, ổn
định về mặt tổ chức và hoàn thiện mô hình.
Loại hình QTDND ở Việt Nam sau hơn 23 năm hình thành và phát triển,
trải qua các giai đoạn: thí điểm - phát triển - củng cố, chấn chỉnh, hoàn thiện;
Mặc dù được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm, đầu tư và có những chỉ đạo
mang tính định hướng, nhưng muốn tồn tại và PTBV loại hình này phải có
những thay đổi cụ thể theo cả bề rộng và chiều sâu. Đó chính là vấn đề mà tác
giả muốn nghiên cứu.
Như vậy, việc nghiên cứu sẽ tập trung giải quyết các vấn đề sau:
1) QTDND có những đặc điểm gì khác biệt so với các loại hình TCTD
khác?
2) Làm thế nào để phát triển bền vững loại hình TCTD có tên gọi là
QTDND?
3) Tiêu chí đánh giá PTBV của loại hình QTDND?
4) Thực trạng hoạt động của hệ thống QTDND ở Việt Nam từ khi được
xây dựng đến nay - Sự chuyển đổi các hình thái tổ chức, xây dựng và hoàn thiện
mô hình hệ thống để loại hình này hoạt động và tiếp tục phát triển như thời gian
qua đã thực sự đảm bảo là hệ thống QTDND PTBV hay không?
5) Cần có những giải pháp gì để hệ thống QTDND ở Việt Nam PTBV?
3. Mục đích nghiên cứu
- Về mặt lý luận: Luận án nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận về
phát triển bền vững của hệ thống QTDND trong sự phát triển chung và cạnh
tranh với các loại hình TCTD khác và trong mối quan hệ tương tác với hệ thống
ngân hàng và nền kinh tế.
- Về thực tiễn: Luận án phân tích, đánh giá quá trình hình thành và phát
triển hệ thống QTDND gắn liền với việc đánh giá tính bền vững của loại hình
15
TCTD này ở Việt Nam. Đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo sự PTBV của hệ
thống QTDND trong những năm tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu về sự phát triển bền
vững của hệ thống QTDND ở Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Là hệ thống QTDND ở Việt Nam kể từ khi được
thành lập đến nay (đặc biệt là giai đoạn 10 năm từ 2005 – 2015 là giai đoạn mà
hệ thống QTDND có nhiều thay đổi về cơ cấu tổ chức, xây dựng, chuyển đổi và
hoàn thiện mô hình) bao gồm: Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, Quỹ tín dụng nhân
dân khu vực, Quỹ tín dụng nhân dân trung ương, Ngân hàng Hợp tác xã (với vai
trò hỗ trợ) và Hiệp hội Quỹ tín dụng nhân dân.
5. Phương pháp nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử trong quá trình thực hiện luận án; các phương pháp nghiên cứu được sử
dụng bao gồm:
- Tổng hợp, phân tích, so sánh: Phân tích định lượng và định tính để giải
thích số liệu, liên hệ với các dẫn chứng thực tiễn.
- Thống kê, so sánh, quy nạp, diễn giải: Số liệu được sử dụng theo chuỗi
thời gian và tại một thời điểm để so sánh các chỉ tiêu hoạt động của hệ thống
QTDND qua các thời kỳ phát triển; Sử dụng các hàm thống kê tỷ trọng, trung
bình, tỷ lệ tăng trưởng, tần suất,… để phân tích, so sánh.
- Tham vấn, chuyên gia; quan sát, khảo sát thực tiễn, tổng hợp, đề xuất
các giải pháp phù hợp với loại hình TCTDHT để PTBV.
Bên cạnh đó, luận án cũng sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh với
các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan để làm sâu sắc hơn
các cơ sở khoa học và tính thực tiễn của đề tài.
6. Những đóng góp mới của luận án
6.1. Về mặt lý luận
- Đưa ra quan điểm về PTBV hệ thống QTDND: Dựa trên cơ sở quan
điểm chung về PTBV để hệ thống hóa, luận giải có tính biện chứng về PTBV nói
16
chung và khái niệm về PTBV hệ thống QTDND nói riêng, phù hợp với đặc điểm
của loại hình TCTDHT.
- Lựa chọn các chỉ tiêu để đánh giá sự PTBV của hệ thống QTDND: Chỉ
tiêu định tính, chỉ tiêu định lượng và các chỉ tiêu liên kết hệ thống để đánh giá
mức độ PTBV của hệ thống QTDND ở Việt Nam.
6.2. Về mặt thực tiễn
- Phân tích thực trạng phát triển của hệ thống QTDND về: Tổ chức hoạt
động của các QTDND; Tổ chức, hoạt động của các tổ chức hỗ trợ hệ thống;
Quản lý nhà nước đối với QTDND để đánh giá sự PTBV của hệ thống QTDND
từ khi được thành lập đến nay trên các tiêu chí: Tính bền vững về mô hình tổ
chức; Tính bền vững về các chỉ tiêu hoạt động; Tính bền vững thông qua các chỉ
tiêu bền vững hệ thống. Từ đó xác định những hạn chế ảnh hưởng đến sự PTBV
của các QTDND, cũng như của hệ thống.
- Trên cơ sở tổng hợp, phân tích cơ hội, thách thức; xác định rõ định
hướng phát triển QTDND để đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học cho việc
đảm bảo phát triển bền vững QTDND ở Việt Nam trong thời gian tới: Giải pháp
PTBV đối với từng QTDND; Tăng cường tính liên kết giữa các QTDND; Hoàn
thiện khuôn khổ pháp lý về mô hình tổ chức, hoạt động cho các QTDND và các
tổ chức liên kết phát triển hệ thống; Tăng cường công tác thanh tra, giám sát của
cơ quan quản lý nhà nước; Hỗ trợ, ủng hộ của chính quyền địa phương, của các
tổ chức chính trị, xã hội; và sự tham gia của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
17
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG HỆ THỐNG
QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN
DÂN
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm Quỹ tín dụng nhân dân
Quỹ tín dụng nhân dân là một loại hình TCTD có mặt ở nhiều quốc gia
trên Thế giới với những tên gọi khác nhau như: Ở Quebec Canada là Quỹ tín
dụng nhân dân Desjardins; ở Cộng hòa liên bang Đức là Ngân hàng hợp tác xã; ở
Mỹ là Liên minh tín dụng; Quỹ tiết kiệm và cho vay nông thôn (Côte d’Ivoire);
Ngân hàng nhân dân (Rwanda); Quỹ tiết kiệm và tín dụng làng (Mali); ở Hà Lan
là hệ thống NHHTX cơ sở Rabobank; ở Vân Nam, Trung Quốc là QTD;… và ở
Việt Nam là QTDND (là loại hình HTXTD kiểu mới trên sở học tập kinh
nghiệm của hệ thống QTD Desjardins, Quebec, Canada).
Trong luận án này, để thuận tiện cho việc trình bày, sau đây tác giả xin sử
dụng thống nhất cụm từ “Quỹ tín dụng nhân dân” hoặc “Quỹ tín dụng”.
Khái niệm về QTDND đã được nhiều tổ chức quốc tế đưa ra như:
- Theo Hiệp hội liên minh tín dụng quốc gia Hoa Kỳ, QTD là một định
chế tài chính phi lợi nhuận, được xây dựng nhằm phục vụ cho các nhóm người
có cùng đặc điểm về nơi làm việc, nơi cư trú,... được quản lý và kiểm soát bởi
chính các thành viên và cũng là những người sử dụng các dịch vụ mà QTD cung
ứng, đó là huy động tiền gửi tiết kiệm từ các thành viên để cho vay và cung cấp
các dịch vụ tài chính khác với giá cả hợp lý.
- Theo Hội đồng liên minh tín dụng thế giới, QTD là một loại hình trung
gian tài chính mang tính tư nhân và hợp tác, thuộc quyền sở hữu của các thành
viên và quản lý QTD một cách dân chủ. QTD hoạt động nhằm mục đích đáp ứng
nhu cầu về tài chính của mọi thành viên thông qua việc khuyến khích tiết kiệm,
cho vay thành viên và thông qua các hoạt động khác do chính các thành viên
18
quyết định, để đảm bảo thỏa mãn nhu cầu của các thành viên một cách tốt nhất,
lâu dài nhất, vì thế QTD cần quan tâm đến sự ổn định về tài chính.
Với những khái niệm nêu trên, QTDND được hiểu là một trung gian tài
chính được tổ chức dưới hình thức “tương hỗ”, huy động vốn bằng cách nhận
tiền gửi và cho vay chính những thành viên gửi tiền này. Mục đích hoạt động của
quỹ nhằm giúp các thành viên có cùng những đặc điểm về nơi cư trú, nghề
nghiệp... thực hiện hoạt động kinh doanh hiệu quả. Khái niệm này được cụ thể
hoá hơn qua những đặc điểm của QTDND như sau:
Thứ nhất, QTDND là tổ chức trung gian tài chính có tư cách pháp nhân;
hoạt động chính là kinh doanh tiền tệ bằng việc nhận các khoản tiền gửi có trả lãi
để thu hút vốn nhàn rỗi, rồi dùng chính những khoản đó để cho vay lại đối với
nền kinh tế.
Thứ hai, tính chất tư nhân thể hiện qua việc các thành viên là thể nhân
hoặc pháp nhân tự nguyện thành lập chứ không phải do Nhà nước thành lập.
Thứ ba, mọi cá nhân và tổ chức hội đủ điều kiện của pháp luật, tán thành
điều lệ và các quy định liên quan đều có thể gia nhập QTD mà không chịu bất kỳ
sự phân biệt hay ép buộc nào.
Thứ tư, QTDND hoạt động như một “hợp tác xã” trong đó những người
gửi tiền lại là các chủ sở hữu ngân hàng. Mặt khác QTD thực hiện các khoản cho
vay có tính chất HTX được tổ chức xung quanh một nhóm xã hội đặc biệt (các
thành viên là những người có cùng đặc điểm về nơi cư trú, nghề nghiệp, …).
Như vậy, QTD là một loại hình TCTD hoạt động theo nguyên tắc HTX.
Từ khi hình thành TCTD hoạt động theo nguyên tắc HTX, trong nhiều
thập kỷ qua, QTD đã tham gia cung cấp các dịch vụ tài chính và các dịch vụ hỗ
trợ cho những người sinh sống ở khu vực khó khăn, ít hoặc không được tiếp cận
các dịch vụ tài chính từ các NHTM (thường là những người dân sống ở vùng
sâu, vùng xa, là những người nghèo, người có thu nhập thấp) nhằm tạo dựng cơ
sở tăng thu nhập, cải thiện điều kiện sống cho họ; được các Chính phủ, các tổ
chức quốc tế quan tâm và được biết đến với cụm từ “tài chính vi mô”.
19
Theo Nhóm tư vấn hỗ trợ những người nghèo nhất (CGAP): “TCVM là
việc cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản đáp ứng nhu cầu của người nghèo bao
gồm: dịch vụ gửi tiết kiệm, tín dụng, lương hưu, chuyển tiền, bảo hiểm...”.
Theo J.Ledgerwood, “TCVM là một phương pháp phát triển kinh tế thông
qua các dịch vụ tài chính nhằm mang lại lợi ích cho dân cư có thu nhập thấp…
TCVM thường bao gồm cả hai yếu tố: trung gian tài chính và trung gian xã hội”.
Theo quan điểm của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB): “TCVM là
việc cung cấp các dịch vụ tài chính như tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán,
chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo và hộ gia đình có thu nhập thấp hoạt
động kinh doanh cá thể và các doanh nghiệp nhỏ của họ”.
Tóm lại, TCVM là một trong những cách thức phát triển kinh tế nhằm
cung cấp các dịch vụ tài chính, dịch vụ khác cho các đối tượng có thu nhập thấp
trong xã hội để phục vụ nhu cầu chi tiêu và đầu tư. TCVM vừa là công cụ ngân
hàng, vừa là công cụ phát triển. TCVM được xem như là một bằng chứng cho
những thành công trong xóa đói, giảm nghèo ở những quốc gia đang phát triển,
trong đó có Việt Nam.
Như vậy, với các quan điểm nêu trên, thì QTDND là một trong những
loại hình tổ chức tài chính vi mô.
Ở Việt Nam, theo quy định tại Điều 73 Luật các tổ chức tín dụng năm
2010 [41] thì Tổ chức tín dụng là HTX là loại hình TCTD được tổ chức theo
mô hình HTX hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng nhằm mục đích chủ yếu là
tương trợ giữa các thành viên thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất,
kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống. Tổ chức tín dụng là HTX gồm
ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân.
Từ những khái niệm trên, tác giả đưa ra khái niệm về QTDND như sau:
Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình TCTD hợp tác xã do các thành viên
gồm những pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình có cùng đặc điểm về nơi cư
trú, nghề nghiệp hoặc các đặc điểm chung khác tự nguyện thành lập. QTDND
được tổ chức, quản lý, kiểm soát bởi các thành viên theo nguyên tắc HTX.
20
Hệ thống QTDND là một thể thống nhất, được tạo lập bởi các QTDND,
mỗi QTDND là một đơn vị tự chủ, có tư cách pháp nhân, hoạt động độc lập, tự
chịu trách nhiệm về hoạt động của mình, đồng thời có sự liên kết với nhau để
thống nhất và phối hợp hoạt động nhằm mục tiêu tương trợ giữa các thành viên,
đảm bảo an toàn và phát triển cho từng QTDND cũng như cho cả hệ thống.
Các QTDND hoạt động có sự gắn kết chặt chẽ với nhau tạo thành hệ
thống liên kết an toàn, hiệu quả. Mỗi QTDND là một pháp nhân độc lập nhưng
lại có mối quan hệ mật thiết với nhau thông qua hoạt động điều hoà vốn, cung
ứng tín dụng, tư vấn về kỹ thuật nghiệp vụ, thông tin, đào tạo cán bộ, cơ chế
phân tán và an toàn rủi ro, kiểm tra, kiểm soát trong cả hệ thống nhằm đảm bảo
cho hệ thống phát triển bền vững.
Trên thế giới, hệ thống QTDND được hình thành theo hai mô hình hệ
thống gồm hệ thống phân tán và hệ thống liên kết:
- Hệ thống phân tán là hệ thống mà trong đó mối liên kết giữa các đơn vị
cấu thành khá lỏng lẻo; sự chia sẻ các nguồn lực chung của hệ thống không được
coi trọng; vai trò đại diện, định hướng chiến lược, đối ngoại và quan hệ với công
chúng của cơ quan điều phối bị xem nhẹ; việc chia sẻ các nguồn lực thường
mang tín tự phát và không có mối quan hệ trực tiếp với cơ quan đầu mối. Tiêu
biểu cho mô hình hệ thống phân tán là hệ thống TCTDHT ở Mỹ, các khu vực sử
dụng tiếng Anh ở Canada, ở Ôxtrâylia (trước năm 1992), một số nước ở châu
Mỹ La tinh, khu vực Tây và Trung Phi. Nhưng đến nay thì hầu hết các mô hình
hệ thống phân tán đã hoặc đang chuyển đổi thành mô hình hệ thống liên kết.
- Hệ thống liên kết là hệ thống mà trong đó các bộ phận cấu thành được
liên kết chặt chẽ với nhau; Cơ quan điều phối đóng vai trò quan trọng trong định
hướng chiến lược, đại diện quyền lợi và chăm sóc thành viên; việc chia sẻ các
nguồn lực và các dịch vụ chung của hệ thống phát triển ở cấp độ đối tác bậc cao;
các tổ chức cơ sở hoạt động theo những chuẩn mực thống nhất trong toàn hệ
thống. Tiêu biểu cho mô hình hệ thống liên kết là hệ thống TCTDHT ở châu Âu
(Đức, Pháp, Hà Lan), ở Quebec – Canada, Úc, ...
21
Ưu điểm của mô hình hệ thống liên kết: Tiết kiệm chi phí; Làm chủ được
các quy trình nghiệp vụ phức tạp; Phản ứng nhanh nhạy hơn với các biến động
của môi trường; Linh hoạt hơn với thị trường; Làm chủ được các công nghệ
trong tương lai; Tiếp cận được các nguồn vỗn tài trợ khác nhau; Tận dụng được
năng lực mũi nhọn, giảm thiểu rủi ro; Và chinh phục các thị trường mới hoặc
giảm nhẹ cơ cấu nội bộ của từng bộ phận cấu thành hệ thống.
Các kết quả nghiên cho thấy các TCTDHT thuộc hệ thống liên kết thường
hoạt động hiệu quả hơn các TCTDHT thuộc hệ thống phân tán; Tính hiệu quả
được ghi nhận trên phương diện chiếm lĩnh thị trường, khả năng duy trì sự ổn
định, hiệu quả tài chính và khả năng cung cấp dịch vụ rộng rãi cũng như mức độ
tiếp cận đối tượng khách hàng mục tiêu.
Thực tế cho thấy các hệ thống liên kết như hệ thống QTD Desjardins,
(Quebec, Canada), hệ thống NHHTX (CHLB Đức), hệ thống ngân hàng
Rabobank (Hà Lan),... đều không ngừng tăng cường tính liên kết, trong khi các
hệ thống phân tán đều có xu hướng chuyển đổi thành hệ thống liên kết như hệ
thống TCTDHT ở Mỹ, ở Ôxtrâylia,... Vì vậy hệ thống liên kết là sự lựa chọn tất
yếu và phù hợp với quy luật phát triển của loại hình TCTDHT này.
Tổ chức đầu mối hỗ trợ trực tiếp thành viên là các QTDND: Mỗi
QTDND là đơn vị độc lập nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau thông
qua hoạt động điều hoà vốn, cung ứng tín dụng, tư vấn về kỹ thuật nghiệp vụ,
thông tin, đào tạo cán bộ, cơ chế phân tán và an toàn rủi ro, kiểm tra, kiểm soát
trong cả hệ thống nhằm hỗ trợ thành viên là các QTDND, đảm bảo cho hệ thống
QTDND phát triển bền vững, các QTDND đã thành lập ra một Tổ chức đầu mối
(Mô hình QTD Desjardins được gọi là Liên đoàn, Tổng Liên đoàn; Mô hình
NHHTX ở CHLB Đức được gọi là NHHTX khu vực, NHHTXTW; ... Ở Việt
Nam là QTDND khu vực, QTDNDTW/NHHTX).
Ngân hàng Hợp tác xã: Theo quy định tại Khoản 7, Điều 4 Luật các tổ
chức tín dụng năm 2010 [41] Ngân hàng hợp tác xã là ngân hàng của tất cả các
QTDND do các QTDND và một số pháp nhân góp vốn thành lập theo quy định
của Luật này nhằm mục tiêu chủ yếu là liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều
22
hòa vốn trong hệ thống các QTDND. Như vậy, NHHTX là loại hình TCTD có
thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các
TCTD năm 2010.
1.1.2. Mục tiêu, nguyên tắc hoạt động và đặc trưng của Quỹ tín dụng nhân
dân
1.1.2.1. Mục tiêu hoạt động
Khác với các định chế tài chính khác hoạt động với mục tiêu chính là tối
đa hoá lợi nhuận, mục tiêu hoạt động của QTDND là tập trung tương trợ giữa
các thành viên và góp phần phát triển cộng đồng. Tuy vậy, QTDND vẫn phải
đảm bảo hoạt động có lãi để trả cổ tức cho thành viên và để bảo tồn, phát triển
nguồn vốn hoạt động.
Như vậy, mục tiêu tương trợ giữa các thành viên và phát triển cộng đồng
là cốt lõi đồng thời là kim chỉ nam trong chiến lược hoạt động của QTDND.
1.1.2.2. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động
- Tự nguyện gia nhập và ra khỏi QTDND: Mọi công dân, các hộ gia đình
và các đối tượng khác có đủ điều kiện theo quy định đều có thể trở thành thành
viên QTDND; thành viên có quyền ra khỏi QTDND theo quy định của điều lệ.
Đây là nguyên tắc rất quan trọng thể hiện tính ưu việt của QTDND.
- Quản lý dân chủ và bình đẳng: Các thành viên có quyền tham gia quản
lý, kiểm tra, giám sát và có quyền ngang nhau trong biểu quyết không phân biệt
số vốn góp vào QTDND; được ứng cử, bầu cử vào bộ máy quản trị, kiểm sát và
điều hành; được cung cấp những thông tin cần thiết liên quan đến hoạt động của
QTDND.
- Tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: QTDND tự chịu trách nhiệm về kết
quả hoạt động của mình; tự quyết định về phân phối thu nhập, bảo đảm QTDND
và thành viên cùng có lợi.
- Chia lãi bảo đảm kết hợp lợi ích của thành viên và sự phát triển của
QTDND: Sau khi làm xong nghĩa vụ thuế, lãi còn lại được trích một phần vào
các quỹ của QTDND, một phần chia theo vốn góp của thành viên, phần còn lại
chia cho thành viên theo mức độ sử dụng dịch vụ của QTDND.
23
- Hợp tác và phát triển cộng đồng: Thành viên phải phát huy tinh thần tập
thể, nâng cao ý thức hợp tác trong QTDND và trong cộng đồng; hợp tác giữa các
QTDND với nhau ở trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra nhiều nhà nghiên cứu xem việc “QTDND cung cấp dịch vụ cho
các thành viên của mình đi đôi với việc thành viên phải sử dụng dịch vụ, sản
phẩm của QTDND” như một nguyên tắc hoạt động của QTDND vì đây là vấn đề
rất quan trọng góp phần cho QTDND phát triển bền vững.
1.1.2.3. Đặc trưng của Quỹ tín dụng nhân dân
- Sự hình thành ban đầu tự phát: QTDND ra đời xuất phát từ nguyện vọng
của một nhóm người ở trong cùng một địa bàn, trong cùng một lĩnh vực, cùng có
chung nhu cầu về vốn, họ góp vốn, góp sức lại để trước hết là giúp đỡ tương trợ
lẫn nhau; cũng chính vì lý do này nên trên một địa bàn, một lĩnh vực chỉ có một
QTDNDCS hoạt động, các QTDNDCS không được cạnh tranh lẫn nhau.
- Mục tiêu hoạt động là tương trợ thành viên, không vì mục tiêu lợi nhuận.
- Đối tượng phục vụ chủ yếu là thành viên: Mọi sản phẩm, dịch vụ của
QTDND đều nhằm phục vụ tốt nhất, đáp ứng được nhu cầu và đem lại những lợi
ích cho thành viên của mình là chủ yếu. Ngoài ra, QTDND cũng cung cấp các
sản phẩm dịch vụ tới một số đối tượng khác nhưng chiếm tỷ trọng rất nhỏ.
- Quản lý dân chủ, bình đẳng; Tuy nhiên đặc trưng này cũng có những
nhược điểm, đặc biệt là khi quyền dân chủ không được các thành viên phát huy
dẫn tới tiềm ẩn sự giám sát thiếu chặt chẽ của thành viên, tạo ra nguy cơ một vài
người trong Ban quản trị, Ban điều hành, BKS lạm dụng quyền hành để tư lợi cá
nhân. Khi đó, sự an toàn của QTDND bị đe doạ.
- Năng lực, trình độ cán bộ quản trị, kiểm soát QTDND còn hạn chế; cơ
sở vật chất, trang thiết bị thiếu thốn, lạc hậu hơn so với các TCTD khác.
Qua phân tích những đặc điểm của QTDND cho thấy loại hình TCTDHT
này có những khác so với các NHTM (bảng 1.1).
24
Bảng 1.1. Những điểm khác biệt giữa QTDND và NHTM
QTDND
NHTM
Tiêu chí
Hình thức sở hữu
Là loại hình TCTD cổ phần, thuộc sở hữu của các cổ đông góp vốn
Là loại hình TCTD là HTX, thuộc sở hữu của những thành viên tham gia QTDND
Mục tiêu
Sinh lời cho cổ đông
Tương trợ thành viên, phát triển cộng đồng, nâng cao đời sống, phát triển kinh tế địa phương
Được quản lý, điều hành và kiểm soát một cách tập trung bởi những cổ đông góp vốn lớn
Quản lý, điều hành và kiểm soát
Được quản lý, điều hành và kiểm soát một cách dân chủ bởi những người đại diện do thành viên bầu, không kể góp vốn nhiều hay ít
Vai trò thành viên/cổ đông
Mọi thành viên đều được tham gia ĐHTV và tham gia ứng cử các chức danh lãnh đạo của QTDND, mỗi thành viên là 01 phiếu bầu.
Khuyến khích các cổ đông tham dự ĐHCĐ. Việc ứng cử các chức danh lãnh đạo của NHTM tập trung vào nhóm cổ đông có số lượng cổ phần lớn. Mỗi cổ phần là 01 phiếu bầu.
Cung cấp dịch vụ tài chính
Cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tài chính với chi phí hợp lý nhất cho các thành viên
Cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tài chính mang tính cạnh tranh, nhằm thu hút nhiều đối tượng khách hàng để mang lại lợi nhuận cao nhất.
Xử lý lợi nhuận
Lợi nhuận ròng cuối năm được trả cổ tức cho cổ đông và trích các loại quỹ theo quy định
Lợi nhuận ròng được dùng để trả lãi trên vốn góp của thành viên, trả thưởng cho các thành viên theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của QTDND và trích lập các quỹ để tích lũy và phát triển QTDND
1.1.3. Các loại hình Quỹ tín dụng nhân dân
1.1.3.1. Phân loại theo cơ cấu tổ chức hoạt động (theo địa bàn)
a) Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
Hoạt động kinh doanh của QTDNDCS được giới hạn trong một địa bàn
nhất định, mỗi địa bàn chỉ có một QTDNDCS hoạt động, theo nguyên tắc các
QTDNDCS không được cạnh tranh, xâm lấn lẫn nhau. Đây là điểm khác biệt của
loại hình này so với các loại hình TCTD khác.
25
b) Quỹ tín dụng nhân dân đầu mối
QTDND đầu mối là tổ chức thực hiện các hoạt động kinh doanh chủ yếu
để hỗ trợ các QTDNDCS trên địa bàn (khu vực hoặc quốc gia), phối hợp với
QTDNDCS cung cấp các dịch vụ tài chính mà QTDNDCS không đủ hoặc khó
có thể thực hiện được một cách hiệu quả. QTDND đầu mối thường làm nhiệm
vụ điều hòa vốn khả dụng, làm đầu mối thanh toán cho các QTDNDCS thành
viên, cho vay đồng tài trợ với các QTDNDCS, tìm kiếm các nguồn vốn trong và
ngoài nước để mở rộng quy mô, năng lực cho các QTDNDCS.
Về nguyên tắc, QTDND đầu mối cũng không được có những hoạt động
kinh doanh mang tính cạnh tranh với các QTDNDCS.
1.1.3.2. Phân loại theo lĩnh vực hoạt động của các thành viên
a) QTD cộng đồng: Là các QTD gắn liền với cộng đồng dân cư trên một
địa bàn nhất định (QTDNDCS ở Thái Lan, Việt Nam,...). Quy mô của loại hình
này tương đối nhỏ, phát triển chậm, hoạt động chủ yếu ở các vùng nông thôn.
b) QTD ngành nghề: Đây là loại hình QTD có quy mô thường lớn hơn
QTD cộng đồng, được thành lập, hoạt động theo các lĩnh vực mà các thành viên
có cùng ngành nghề, công việc như: giáo viên, viên chức y tế hoặc các cơ quan
công quyền... Loại hình này hoạt động thường rất an toàn do chỉ huy động và
cho vay trong thành viên, trong khi chất lượng thành viên có trình độ cao, năng
lực tài chính tốt, đội ngũ cán bộ nhân viên quản lý tốt; có khả năng huy động vốn
tốt do các QTD này thường hình thành ở các trung tâm đô thị lớn. Các QTD
ngành nghề này nếu không sử dụng hết vốn đã huy động được thì có thể liên kết
điều hoà cho QTD cộng đồng thông qua tổ chức đầu mối.
1.1.4. Mô hình tổ chức của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân
Lịch sử phát triển loại hình TCTDHT cho thấy, để phát triển thành công,
hệ thống này phải được hình thành và xây dựng lên một cơ cấu tổ chức hoàn
chỉnh, bao gồm 2 bộ phận: Bộ phận trực tiếp hoạt động kinh doanh phục vụ
thành viên và Bộ phận liên kết phát triển hệ thống (hình 1.1).
26
Bộ phận liên kết phát triển hệ thống
Tổ chức đầu mối (QTDND đầu mối)
QTDND cơ sở
QTDND cơ sở
QTDND cơ sở
QTDND cơ sở
QTDND cơ sở
Ghi chú:
Quan hệ đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên Thành lập, quan hệ giao dịch gửi tiền, cho vay, thanh toán trong hệ thống
QTDND cơ sở
Hình 1.1. Mô hình hệ thống QTDND
1.1.4.1. Bộ phận trực tiếp hoạt động kinh doanh phục vụ thành viên
QTDNDCS là tổ chức sơ cấp, từ đó tạo lập nên hệ thống QTDND; có tư
cách pháp nhân, hạch toán độc lập và tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt
động; là nơi trực tiếp giao dịch với các thành viên. Tuy nhiên trong quá trình
hoạt động, các QTDND không thể hoạt động đơn lẻ, nên đã cùng nhau tạo thành
hệ thống liên kết; trong đó mỗi QTDND là một pháp nhân độc lập nhưng lại có
mối quan hệ mật thiết với nhau thông qua Tổ chức đầu mối.
Tổ chức đầu mối thực hiện cân đối, điều hòa vốn cho toàn hệ thống, đảm
bảo khả năng chi trả cho thành viên là các QTDND; tổ chức thanh toán nội bộ;
cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại. Mặt khác, tổ chức đầu mối là
đại diện cho hệ thống QTDND khi tham gia hệ thống thanh toán với các định
chế tài chính khác; giao dịch với khách hàng lớn mà một QTDND không thể
thực hiện được.
1.1.4.2. Bộ phận hỗ trợ gián tiếp hoạt động kinh doanh phục vụ thành viên
Bộ phận này (còn được gọi là Bộ phận liên kết phát triển hệ thống) là của
các QTDND thành lập nên để tự bảo vệ và phục vụ cho chính sự an toàn và phát
27
triển của hệ thống, nó bao gồm là những cơ quan đại điện cho lợi ích của
QTDND, tổ chức an toàn hệ thống, tổ chức kiểm toán và tư vấn hoạt động, tổ
chức đào tạo cán bộ QTDND và các doanh nghiệp dịch vụ tài chính hỗ trợ (Công
ty bảo hiểm, Công ty chứng khoán, Công ty quản lý dịch vụ tài chính đặc biệt,
Công ty cho thuê tài chính, Công ty mua bán nợ, Ngân hàng chiết khấu,...).
Ngoài các tổ chức liên kết nêu trên, khối hỗ trợ gián tiếp hoạt động kinh
doanh còn có các tổ chức hoạt động phi lợi nhuận khác như: Công ty tư vấn pháp
luật, Cơ quan hợp tác quốc tế, Trung tâm điện toán, Công ty in ấn,... Đây cũng là
các tổ chức liên kết do các QTDND lập ra để cung cấp cho họ những dịch vụ
nhất định hỗ trợ cho hoạt động.
1.1.5. Tổ chức và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân
1.1.5.1. Tổ chức
Tổ chức bộ máy của một QTDND được mô tả ở hình 1.2; Bao gồm:
a) Thành viên: Vừa là chủ sở hữu, vừa là khách hàng, vừa là người quản
lý, điều hành, kiểm soát QTDND; mọi đối tượng đều có quyền trở thành thành
viên của QTDND theo đúng nguyên tắc HTX. Ở một số quốc gia, mô hình này
còn quy định kết nạp thành viên phụ trợ nhằm tạo điều kiện cho nhiều đối tượng
khách hàng được tiếp cận với dịch vụ của QTDND, đồng thời tận dụng được
nguồn vốn nhàn rỗi để cho vay thành viên.
b) ĐHTV: ĐHTV là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất, tùy theo
số lượng thành viên, QTDND có thể tổ chức ĐHTV dưới hình thức ĐH toàn thể
hoặc ĐH đại biểu. Việc bầu đại biểu đi dự ĐH đại biểu thành viên được tiến
hành dân chủ, công khai.
Thẩm quyền của ĐHTV: Quyết định việc sửa đổi, thay thế và thông qua
Điều lệ, các quy định nội bộ; Bầu, miễn nhiệm thành viên HĐQT, HĐGS; Thông
qua báo cáo định kỳ năm trước, chương trình hoạt động năm tiếp theo; Ấn định
mức trả thưởng đối với phần vốn góp xác lập và phần vốn góp thường xuyên;
Quyết định việc QTDND gia nhập các tổ chức khác; Bổ nhiệm kiểm toán nội bộ;
Xử lý các vấn đề quan trọng khác của QTDND.
28
Thành viên
Thành viên
Thành viên
Thành viên
Thành viên
Thành viên
ĐHTV (hoặc Đại hội đại biểu thành viên)
Hội đồng quản trị Hội đồng giám sát
Ban kiểm soát
Ban điều hành (Giám đốc/ Tổng Giám đốc)
Thủ quỹ
Kế toán
Tín dụng
Nguồn vốn
Bầu Bổ nhiệm, chỉ đạo
Kiểm soát Điều hành Cung cấp thông tin
Giám sát
Ghi chú:
Hình 1.2. Cơ cấu tổ chức của một QTDND
c) Bộ máy quản trị, kiểm soát và điều hành:
Qua quá trình phát triển hàng trăm năm cho thấy, để đảm bảo cho một
QTD hoạt động an toàn hiệu quả cần phải có sự phân định rõ ràng quyền hạn
giữa các bộ phận thuộc ĐHTV. Dưới đây là cơ cấu tổ chức tiêu biểu của một
QTDND đã áp dụng thành công ở nhiểu quốc gia.
- HĐQT do ĐHTV bầu, có chức năng thực hiện các mục tiêu, chiến lược,
quản trị hoạt động của QTDND.
29
- HĐGS cũng do ĐHTV bầu ra, thực hiện các chức năng giám sát mọi
hoạt động của QTDND đảm bảo QTD hoạt động tuân thủ đúng pháp luật, điều lệ
QTD, nghị quyết của ĐHTV.
Nhiệm kỳ của HĐQT, HĐGS thường từ 3 đến 5 năm và có thể được bầu
lại. Có quốc gia áp dụng hình thức chỉ bầu lại 1/3 số thành viên HĐQT, HĐGS
theo nguyên tắc quay vòng hằng năm. Có quốc gia thì quy định nhiệm kỳ của
HĐQT không trùng với nhiệm kỳ của HĐGS nhằm tránh tình trạng thỏa hiệp
hoặc tạo e-kíp với nhau, có thể làm ảnh hưởng đến sự lành mạnh của QTD.
Thông thường các thành viên của HĐQT, HĐGS không hưởng lương mà
chỉ hưởng thù lao công vụ nhằm đảm bảo sự khách quan, tránh xung đột quyền
lợi trong quá trình thực thi nhiệm vụ.
- Ban điều hành và các bộ phận nghiệp vụ: Ban điều hành QTDND
thường có Giám đốc và các Phó Giám đốc, Giám đốc QTDND do HĐQT bổ
nhiệm. Giám đốc điều hành các phòng, nhóm nghiệp vụ thực hiện hoạt động
kinh doanh hàng ngày của QTD, quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền.
1.1.5.2. Hoạt động
a) Huy động vốn: QTDND huy động vốn thông qua các hình thức:
- Vốn chủ sở hữu: bao gồm vốn điều lệ và các loại quỹ được hình thành
trong quá trình hoạt động.
+ Vốn điều lệ gồm các phần vốn góp xác lập và vốn góp thường xuyên
của các thành viên. Để khuyến khích mọi đối tượng dân cư trên địa bàn gia nhập
QTDND vốn góp xác lập thường có mệnh giá rất nhỏ và không hoặc ít thay đổi.
Mỗi một thành viên chỉ được sở hữu một phần vốn góp xác lập duy nhất, còn
vốn góp thường xuyên thì không hạn chế.
+ Các loại quỹ: Hằng năm các QTDND phải trích một tỷ lệ nhất định từ
lợi nhuận để lập các quỹ dự trữ, việc trích quỹ tạm dừng khi các quỹ đạt 200%
vốn điều lệ.
- Tiền gửi và tiền tiết kiệm: Các QTDND phải huy động vốn cả trong lẫn
ngoài thành viên, cả trong lẫn ngoài địa bàn hoạt động để cho vay thành viên của
30
mình. Tùy nhu cầu và mục đích, QTDND có thể huy động các loại hình tiền gửi
và tiền tiết kiệm khác nhau.
- Vốn đi vay: Trong quá trình hoạt động, khi nguồn vốn chủ sở hữu và
vốn huy động tiền gửi, tiết kiệm khổng đủ để đáp ứng nhu cầu vay vốn của thành
viên, QTDND có thể đi vay. Khác với các NHTM thường đi vay các TCTD
khác, các QTDND thường đi vay trong nội bộ hệ thống thông qua cơ chế điều
hòa vốn. Để đảm bảo phát huy cơ chế điều hòa vốn và tránh ảnh hưởng thanh
khoản của các QTDND, nhiều nước có quy định các QTDND không được trực
tiếp cho vay và gửi vốn lẫn nhau.
b) Cho vay: Các QTDND cho vay chủ yếu đối với thành viên của mình,
nhưng nhờ có sự am hiểu tường tận về khách hàng (cũng là thành viên của QTD)
nên quy trình, thủ tục và điều kiện cho vay thường đơn giản, việc xử lý hồ sơ
vay vốn cũng nhanh hơn nhiều so với các NHTM.
c) Đầu tư: Tùy theo trình độ phát triển của mỗi QTD và bối cảnh kinh tế
của từng nước, QTD có thể tham gia góp vốn vào các tổ chức kinh tế, các dự án
đầu tư hoặc kinh doanh trên thị trường chứng khoán.
d) Thanh toán: Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thành viên, hầu hết
các QTDND có trình độ phát triển cao đều cung cấp dịch vụ thanh toán cho
thành viên như khách hàng của NHTM. Thông thường để thuận tiện cho hoạt
động thanh toán, hệ thống QTDND xây dựng một trung tâm thanh toán bù trừ do
QTDND đầu mối cấp quốc gia đóng vai trò điều phối, tổ chức, vận hành.
đ) Hoạt động khác: Ngoài các hoạt động chủ yếu nêu trên, tùy theo trình
độ phát triển và năng lực quản lý, các QTD có thể cung cấp dịch vụ ngân hàng
và phi ngân hàng giống như các NHTM.
1.1.6. Vai trò của Quỹ tín dụng nhân dân
1.1.6.1. Vai trò của Quỹ tín dụng nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội
- Là TCTD thích hợp nhất giúp cho người lao động sản xuất nhỏ, các
doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó đại bộ phận ở khu vực nông nghiệp, nông
thôn có thể tiếp cận dễ dàng, thuận tiện đối với các dịch vụ tài chính, ngân hàng;
tiếp cận với nguồn vốn tín dụng hợp pháp, giá rẻ, nhằm hỗ trợ tốt hơn cho các
hoạt động sản xuất kinh doanh của họ, đẩy lùi nạn cho vay nặng lãi, tạo ra một
31
môi trường lành mạnh về tiền tệ tín dụng ở các vùng nông thôn. Nhờ đó, các
QTDND phát huy khả năng khai thác và sử dụng nguồn vốn tại chỗ một cách
nhanh chóng hiệu quả cho phát triển sản xuất, cải thiện đời sống của thành viên
cũng như những người dân sống trên địa bàn.
- Tạo công ăn việc làm cho khu vực nông thôn: Với quy mô vừa và nhỏ,
các QTDND là tổ chức kinh tế tạo ra nhiều công ăn việc cho bản thân hệ thống
QTDNDl; Bên cạnh đó, thông qua việc cho vay hỗ trợ thành viên các QTDND
còn gián tiếp tạo công ăn việc làm cho khu vực kinh tế HTX, các doanh nghiệp
nhỏ và vừa cũng như các hộ sản xuất kinh doanh cá thể tại địa phương. Trong
quá trình hoạt động, các QTDND cũng góp phần đào tạo, nâng cao trình độ cho
lao động địa phương nói chung và đặc biệt là nâng cao năng lực điều hành, quản
lý doanh nghiệp và quản lý tài chính cho các thành viên và khách hàng của mình.
- Hoạt động của các QTDND góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế
- xã hội khu vực nông nghiệp, nông thôn thông qua việc hệ thống QTDND tham
gia tích cực vào các chương trình đầu tư vốn hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ
và vừa, các dự án mang tính kinh tế - xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội,
góp phần đáng kể vào chương trình xóa đói giảm nghèo của đất nước.
Trong nền kinh tế thị trường với xu thế tập trung và chuyên môn hoá ngày
càng cao, có thể nói các QTDND là nhân tố không thể thiếu, giúp cho nông dân
và những người sản xuất, kinh doanh nhỏ nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất,
kinh doanh cải thiện đời sống và góp phần xoá đói giảm nghèo. Hơn nữa, với cơ
chế tổ chức quản lý dân chủ, quy mô nhỏ và vừa, các QTDND là loại hình kinh
doanh năng động, dễ thích nghi với sự thay đổi môi trường hoạt động, cùng với
cơ chế liên kết chặt chẽ trong hệ thống, mô hình QTDND nói riêng và kinh tế
HTX nói chung ngày càng trở thành một bộ phận kinh tế quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân, thậm chí ở ngay các nước kinh tế phát triển như CHLB Đức,
Hà Lan, Canada, Hàn Quốc... Với vai trò quan trọng như vậy mô hình QTDND
là loại hình tín dụng là HTX đã có mặt ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.
1.1.6.2. Vị trí, vai trò của Quỹ tín dụng nhân dân trong hệ thống các tổ chức
tín dụng
32
Nguồn gốc ra đời của loại hình QTDND là do những người nông dân và
người kinh doanh, sản xuất nhỏ, ít tài sản, cùng nhau tập hợp trao đổi năng lực
tài chính trên tinh thần hợp tác tương trợ nhằm mục đích hỗ trợ nhau cung ứng
vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh và cải thiện đời sống, xoá đói giảm nghèo.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các NHTM ngày càng
có xu thế tập trung hoá, sáp nhập tổ chức, hiện đại hoá công nghệ nhằm nâng cao
khả năng cạnh tranh và hướng vào phục vụ các khách hàng lớn, các ngành kinh
tế có nhiều tiềm năng thu được lợi nhuận cao. Vì vậy thị trường tài chính - tín
dụng nhỏ, đặc biệt là ở khu vực nông nghiệp, nông thôn ngày càng xuất hiện
nhiều “khoảng trống” mà nếu không có các TCTD là HTX, trong đó có các
QTDND thì không dễ gì bù đắp được; Trong khi hầu như ở mọi quốc gia đều tồn
tại khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn, với vai trò là “bà đỡ” QTDND đã
góp phần tạo cơ hội cho các thành viên nghèo và quy mô sản xuất nhỏ ở khu vực
này phát triển vươn lên, có thể khẳng định rằng QTDND nói riêng và loại hình
TCTD là HTX nói chung không những chỉ là loại hình TCTD không thể thay thế
được trong hệ thống các TCTD, mà còn là một trong những loại hình TCTD
đóng góp vai trò tích cực nhất trong việc thực hiện các chính sách xã hội.
Nói cách khác, loại hình QTDND ở nông thôn có vai trò to lớn cho phát
triển kinh tế xã hội của khu vực nông thôn, cụ thể là:
- Tạo thêm việc làm cho nông dân, nhất là đối với một bộ phận người lao
động trong lúc nông nhàn; đào tạo, nâng cao trình độ về quản lý kinh tế nói
chung và tài chính ngân hàng nói riêng cho người dân ở khu vực bị hạn chế về
khả năng tiếp cận.
- Đẩy lùi nạn cho vay nặng lãi, nhất là ở những vùng nông thôn, vùng sâu,
vùng xa nơi mà các TCTD khác không thể vươn tới được.
- Làm đa dạng hoá các loại hình TCTD: Các TCTD hoạt động trên địa
bàn nông thôn Việt Nam gồm có các NHTM nhà nước, NHTM cổ phần nông
thôn, QTDND. Hình thức sở hữu của các TCTD này khác nhau, mỗi loại có thế
mạnh riêng, đan xen hoạt động. Việc tham gia của QTDND vào thị trường vốn ở
nông thôn đã góp phần hoàn thiện thêm những ưu điểm vốn có và khắc phục
những mặt hạn chế của các TCTD khác, tạo nên một hệ thống TCTD được cấu
33
trúc bởi nhiều mô hình khác nhau về chế độ sở hữu, về quy mô và phạm vi hoạt
động, về khả năng tiếp cận các dịch vụ tiền tệ tín dụng, góp phần tạo ra một thị
trường tài chính sống động, phong phú ở khu vực nông thôn.
So với các loại hình khác, QTDND là TCTD có điều kiện gần dân và sát
dân, do đó có thể nắm bắt được nhu cầu và khả năng của thành viên, của khách
hàng nhanh nhất, chính xác nhất, đây chính là thế mạnh của QTDND.
Lịch sử phát triển phong trào HTX trên thế giới cho thấy chỉ có loại hình
kinh tế hợp tác là mô hình tổ chức kinh tế tập thể do những người nghèo, người
sản xuất nhỏ tự nguyện hợp tác với nhau thành lập và cùng quản lý mới có thể
hỗ trợ nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm giúp họ thoát
khỏi nghèo đói và cải thiện đời sống.
1.2. PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN
1.2.1. Quan điểm về phát triển bền vững hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân
1.2.1.1. Quan điểm chung về phát triển bền vững
Có nhiều cách hiểu khác nhau về PTBV tuỳ theo cách tiếp cận, mục đích
nghiên cứu sử dụng khác nhau và định nghĩa do Ủy ban Quốc tế về Môi trường
và Phát triển của Liên hợp quốc đưa ra vào năm 1987 được cho là phổ biến nhất,
theo đó "Phát triển bền vững" được định nghĩa là “Sự phát triển đáp ứng được
nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương khả năng cho việc đáp ứng nhu
cầu của các thế hệ tương lai”.
PTBV là một quá trình, không thể có một cái đích duy nhất cho sự phát
triển; Khi nghiên cứu PTBV phải xem xét, đánh giá một cách đúng đắn trong
mối tương quan giữa: Con người – Trái đất, kinh tế – xã hội, văn hóa – bảo vệ tài
nguyên, môi trường và cả việc xây dựng thể chế, trong đó con người phải đóng
vai trò trung tâm của sự phát triển.
Tính đến năm 2010, đã có 12 tổ chức và phương án đánh giá định tính và
định lượng PTBV, đó là: (1) Bộ 58 tiêu chí của Uỷ ban PTBV Liên hợp quốc;
(2) Bộ 46 tiêu chí của Nhóm tư vấn về tiêu chí PTBV (CGSDI); (3) Phương án
chỉ số thịnh vượng gồm 88 tiêu chí của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới
(IUCN); (4) Chỉ số Bền vững Môi trường của Diễn đàn Kinh tế thế giới gồm 68
tiêu chí; (5) 65 tiêu chí của Nhóm Bối cảnh toàn cầu; (6) Dấu chân sinh thái; (7)
34
Nhóm Tiêu chí Tiến bộ đích thực (GPI); (8) Nhóm hành động liên cơ quan Hoa
Kì về các tiêu chí phát triển bền vững (I WGSDI); (9) Hệ thống tiêu chí của
Costa Rica về PTBV; (10) Dự án các tiêu chí Boston; (11) Nhóm Đánh giá các
thất bại; (12) Sáng kiến thông báo toàn cầu.
1.2.1.2. Quan điểm về phát triển bền vững hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân
a) Quan điểm về phát triển bền vững QTDND
WB cho rằng, để hoạt động tài chính hướng tới sự PTBV tại các nước
đang phát triển thì 10 nguyên tắc sau cần được quan tâm: (1) Xây dựng các định
hướng ưu tiên phát triển một cách thận trọng; (2) Sử dụng công cụ kinh tế thị
trường nếu có thể; (3) Tăng cường tiết kiệm; (4) Tinh giảm bộ máy quản lý điều
hành; (5) Khai thác mọi cơ hội cùng có lợi để tạo ra “hiệu ứng cấp số nhân”; (6)
Tạo cơ hội cho khu vực tư nhân hoạt động trong lĩnh vực môi trường; (7) Đầu tư
vào hiệp hội môi trường; (8) Quản lý quan trọng hơn công nghệ; (9) Phòng bệnh
hơn chữa bệnh; (10) Xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường.
Ngay từ khi ra đời, lý luận về loại hình TCTDHT được hình thành và phát
triển như là một môn khoa học, được đưa vào giảng dạy chính thức tại nhiều
trường đại học ở nhiều nước, nhất là ở những nước có hệ thống TCTDHT phát
triển như Canada, Cộng hòa Liên bang Đức,... Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa
có một công trình nghiên cứu nào bàn về những yêu cầu, chuẩn mực cho việc
PTBV của loại hình TCTDHT này.
Quan điểm phát triển bền vững đối với loại hình TCTDHT của các nhà
kinh tế học và các tổ chức tài chính quốc tế cũng dựa trên định nghĩa của Liên
hiệp quốc về PTBV của tổ chức kinh tế. Còn theo quan điểm của các nhà học giả
Việt Nam thì PTBV của TCTDHT là bền vững về tài chính. TCTDHT được coi
là PTBV khi nó hoạt động đạt hiệu quả và khả năng tài chính đảm bảo chống đỡ
được các rủi ro từ bên ngoài và không gây ra những tác động tiêu cực cho nền
kinh tế xã hội và cộng đồng.
Tóm lại, QTDND được coi là PTBV nếu duy trì được sự cân bằng giữa
an toàn – sinh lời trong thời gian dài; phục vụ lợi ích của thành viên; và gia
tăng lợi ích cho cộng đồng, xã hội, môi trường.
35
TCTDHT dưới góc độ là một TCTCVM thì một TCTDHT vững mạnh khi
có một số đặc điểm chủ yếu được tổng hợp tại bảng 1.2.
Bảng 1.2. Những đặc điểm chủ yếu của một TCTDHT vững mạnh
Phạm vi
Tầm nhìn
Đặc điểm - Một Thông cáo Sứ mệnh xác định thị trường mục tiêu và các dịch vụ được cung cấp, được các nhà quản lý và nhân viên trong tổ chức xác nhận và thực hiện. - Một Cam kết mạnh mẽ của nhà quản lý trong việc theo đuổi TCTDHT như là một phân khúc thị trường có khả năng sinh lợi tiềm năng (về cả nhân lực và quỹ). - Một Kế hoạch kinh doanh với các biện pháp cụ thể để đạt được các mục tiêu chiến lược trong 3-5 năm. - Các dịch vụ tài chính đơn giản phù hợp với bối cảnh địa phương và nhu cầu cao củacác khách hàng được mô tả trong Thông cáo Sứ mệnh. - Phân cấp trong lựa chọn khách hàng và cung cấp dịch vụ tài chính.
Dịch vụ tài chính và phương thức cung cấp
Cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực
Quản lý và tài chính
Hệ thống thống tin quản lý
Thể chế bền vững
Tiếp cận và bền vững về tài chính
- Các bản mô tả công việc chính xác, đào tạo phù hợp và đánh giá hiệu suất thường xuyên. - Một kế hoạch kinh doanh làm rõ các ưu tiên trong đào tạo và ngân sách bố trí đủ kinh phí cho đào tạo nội bộ hay đào tạo do bên ngoài cung cấp. - Các khuyến khích hoạt động dựa trên kết quả đầu ra phù hợp đối với cả nhân viên và các nhà quản lý. - Quy trình xử lý vay và các hoạt động khác dựa trên các thông lệ tiêu chuẩn hóa và văn bản hướng dẫn sử dụng và nội dung này được đội ngũ nhân viên hiểu rất rõ. - Hệ thống kế toán cập nhật thông tin chính xác kịp thời, thông tin minh bạch là đầu vào cho hệ thống thông tin quản lý. - Kiểm toán nội bộ và bên ngoài được thực hiện đều đặn. - Dự kiến ngân sách và tài chính dự được thực hiện thường xuyên và mang tính chất thực tế. - Các hệ thống cung cấp thông tin kịp thời và chính xác về các chỉ số chủ chốt phù hợp nhất cho các hoạt động và được đội ngũ nhân viên cũng như các nhà quản lý trong hoạt động giám sát và hướng dẫn. - Đăng ký pháp lý và tuân thủ phù hợpvới các yêu cầu giám sát. - Xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm của chủ sở hữu, Ban Giám đốc và Ban Quản lý. - Có đội ngũ các nhà quản lý và kỹ thuật viên mạnh mẽ được đào tạo tốt. - Đạt được thành tựu đáng kể về quy mô, bao gồm một số lượng lớn khách hàng chưa được tiếp cận với TCTDHT - Mức chi phí điều hành và tài chính được bù đắp bởi thu nhập hướng tới sự bền vững đầy đủ.
Nguồn: Fruman and Isern (1996)
36
b) Các nguyên tắc cốt lõi của PTBV QTDND
- Các sản phẩm, dịch vụ của QTDND phải phù hợp với nhu cầu và sở
thích của thành viên/khách hàng;
- Các hộ gia đình và các cộng đồng dân cư ở khu vực nông thôn cần tiếp
cận được các dịch vụ tài chính, không chỉ là các khoản vay;
- QTDND góp phần mạnh mẽ chống lại đói nghèo;
- PTBV là cần thiết để thu hút số lượng đáng kể các thành viên là những
người sinh sống ở khu vực nông thôn;
- Chính sách lãi suất, chính sách ưu tiên để người dân nông thôn có thể
tiếp cận được các dịch vụ tài chính;
- Việc thiếu năng lực thể chế và con người là trở ngại chính cho việc mở
rộng và phát triển QTDND;
- PTBV QTDND cần đảm bảo tính minh bạch.
PTBV QTDND là cần thiết:
Đối với tổ chức, đó là QTDND phải được bù đắp tất cả các chi phí và có
lãi. QTDND không tự bền vững, vốn tự có sẽ bị giảm dần; như vậy, sẽ có ít vốn
hơn để hoạt động và có thể gặp khó khăn trong phát triển dài hạn. Sự bền vững
còn đảm bảo khả năng huy động vốn đặc biệt là huy động tiền gửi.
Đối với khách hàng, phải đảm bảo tính liên tục của các dịch vụ được cung
cấp giúp khách hàng tiếp cận được vốn vay liên tục; tiết kiệm liên tục và ổn
định; được học hỏi các kinh nghiệm quản lý tài chính cá nhân hỗ trợ cuộc sống
tốt hơn, từ đó, sự tin tưởng và gắn kết của khách hàng đối với tổ chức tăng lên.
Đối với xã hội, Tính bền vững giúp đảm bảo QTDND thực hiện lâu dài và
bền vững các trách nhiệm của tổ chức đối với xã hội và môi trường.
c) Các đặc trưng của một QTDND PTBV
- Biết rõ thị trường của mình, tiếp cận rộng và sâu tới khách hàng.
- Áp dụng chính sách lãi suất thị trường để đảm bảo tự vững, với giả thiết
người dân sẵn sàng trả giá vì mục tiêu tiếp cận và thuận tiện.
- Sử dụng các kỹ thuật đặc biệt để giảm thiểu chi phí hành chính như: thủ
tục đơn giản, phi tập trung hóa việc thẩm định khách hàng.
37
- Sử dụng các kỹ thuật đặc biệt để đảm bảo khả năng trả nợ cao như: cho
vay theo nhóm đồng trách nhiệm, giám sát người vay vốn, cho vay tăng dần theo
chu kỳ, tiết kiệm bắt buộc,….
- Cung ứng các hoạt động hỗ trợ khách hàng như đào tạo, kỹ thuật, …
d) Một số quan điểm đánh giá về tính bền vững
Theo thông lệ Quốc tế, tính bền vững được đo bằng các tỷ lệ tự bền vững
và các hệ số sinh lời. Có ba mức độ bền vững là: Tự bền vững về hoạt động OSS
(Operational Self-sustainablity), Tự bền vững về tài chinh FSS (Financial Self-
sustainablity) và Tự bền vững về thể chế (ISS) (Institutional Selfsustainablity)
Nguyễn Kim Anh [33]:
- Tự bền vững về hoạt động (OSS)
Chỉ số tự bền vững về hoạt động (OSS) thể hiện mối quan hệ giữa thu
nhập hoạt động và tổng chi phí hoạt động. Các nhà tài trợ và nhà quản lý sử
dụng chuẩn tiêu biểu này để đánh giá xem TCTDHT đã tự trang trải được các chi
phí hoạt động bằng thu nhập từ hoạt động hay chưa.
(1)
Tổng chi phí hoạt động = Chi phí hoạt động + Chi phí tài chính + Dự phòng mất vốn
Trong đó:
Một số TCTDHT có quan điểm rằng mức độ bền vững về hoạt động
không cần tính đến các chi phí tài chính vì không phải mọi TCTDHT đều có chi
phí tài chính như nhau, nên việc so sánh không công bằng.
TCTDHT được coi là đảm bảo bền vững về hoạt động nếu OSS>100%,
tuy nhiên thông lệ quốc tế cho thấy, để đạt độ bền vững hoạt động lâu dài thì
OSS nên lớn hơn 120%.
- Tự bền vững về tài chính (FSS)
Tỷ số tự bền vững về tài chính (FSS) cũng đo lường xem mức độ thu nhập
trang trải các chi phí hoạt động của một TCTDHT có điều chỉnh theo lạm phát
và loại bỏ tác động của trợ cấp. Các điều chỉnh này nhằm làm rõ tình hình tài
38
chính của một TCTDHT sẽ như thế nào khi tính tới chi phí từ lạm phát. FSS
ậ ạ độ
được tính bằng công thức sau:
ổ í ạ độ đượ đ ề ỉ
(2)
ổ í ạ độ đượ đ ề ỉ
í ạ độ í à í ự ò ấ ố
ố
ố ỷ ệ ạ á ố ự ó ì – ổ à ả ố đị ì
ợ ì Lãi suất thương mại của các nguồn vốn nợ) - Chi phí tài chính thực tế]
Trong đó:
(3)
Cách khác để tính FSS:
Tương tự như OSS, TCTDHT được coi là tự bền vững về tài chính nếu
FSS>100%.
Thu nhập ròng trên tổng tài sản bình quân ROA – Return on Average
Assets (ROAA)
Chỉ tiêu này đo lường mức độ sinh lời trên tổng tài sản bình quân của
TCTDHT. ROA được tính bằng công thức sau:
(4)
ậ ò ổ ổ ế ấ ế ậ ế ó
ổ à ả ì â
à ả đầ ỳ à ả ố ỳ
Trong đó:
Tài sản bình quân được đo lường trên tổng các hoạt động tài chính, bao
gồm các quyết định đầu tư tài sản cố định hay đất đai, nhà cửa (nói cách khác, sử
dụng vốn vào mọi hoạt động đầu tư có thể sinh lời). Tỷ lệ này càng cao, khả
năng sinh lời của TCTDHT trên một đồng giá trị tài sản càng lớn, bao gồm cả tài
39
sản không tham gia trực tiếp vào hoạt động chính như tài sản cố định. ROA là
một chỉ tiêu quan trọng để phân tích khi nào cơ cấu của kỳ hạn cho vay và giá
cho vay sẽ bị thay đổi. Tuy vậy, nếu tỷ lệ này lớn quá TCTDHT có thể đang gặp
rủi ro khi đầu tư vào các danh mục có rủi ro cao.
ROA (và ROE – tỷ lệ lợi nhuận/vốn chủ sở hữu bình quân) thường được
sử dụng chung để đánh giá khả năng sinh lời chung của tổ chức tài chính, trong
đó có các TCTDHT. Tùy theo dữ liệu, các TCTDHT có thể sử dụng FSS hoặc
ROA để phân tích mức độ bền vững. Theo thông lệ quốc tế, ROA > 2% là
TCTDHT đã đạt được mức độ hiệu quả tốt.
- Bền vững về thể chế ISS (Institutional Self-Sustainability)
Về chỉ số, ISS theo tiêu chuẩn khuyến cáo của tổ chức Planetfinance gồm
4 tiêu chí cơ bản sau:
(i) Cấu trúc quản trị và tư cách pháp lý của tổ chức.
(ii) Tổ chức có kế hoạch chiến lược.
(iii) Tổ chức có báo cáo tài chính đúng theo chuẩn mực và được kiểm toán
độc lập hàng năm.
(iv) Tổ chức có hệ thống quản lý thông tin chuyên nghiệp và minh bạch.
Ngoài ra, còn một số chỉ tiêu đo lường tính bền vững như chỉ số phụ thuộc
vào bao cấp (SDI – Subsidy Independence Index), thu nhập ròng trên vốn chủ sở
hữu bình quân (ROE).
đ) Mối quan hệ giữa tính bền vững và mức độ tiếp cận
Tính bền vững và mức độ tiếp cận, có quan hệ chặt chẽ với nhau. Tính
bền vững là cơ sở để TCTDHT mở rộng tiếp cận và khi mở rộng tiếp cận thì
TCTDHT có thể đảm bảo được khả năng bền vững về tài chính do mở rộng được
cơ sở khách hàng, giảm thiểu chi phí hành chính bình quân trên một khách hàng.
Nếu TCTDHT bền vững nhưng không đạt được mức độ tiếp cận tốt, xa rời
khách hàng mục tiêu ban đầu hoặc có tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu cao, tổ chức đó sẽ
không tồn tại được.
Các tiêu chí đánh giá tính bền vững của TCTDHT được tổng hợp tại bảng
1.3; Theo đó, quan điểm toàn diện về sự bền vững là phải đảm bảo được cả hai
tiêu chuẩn trên. Một TCTDHT đạt được cả hai tiêu chuẩn trên là một điều lý
40
tưởng; Nhiều nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng nếu theo đuổi mục tiêu tiếp cận
quá rộng, tổng chi phí hoạt động tăng lên, TCTDHT sẽ không đạt được mức bền
vững cần có; ngược lại, để đạt độ bền vững tốt, TCTDHT phải thực hiện chọn
lọc đối tượng khách hàng, vì vậy mức độ tiếp cận sẽ bị hạn chế [26].
Bảng 1.3. Tiêu chuẩn đánh giá tính bền vững của loại hình TCTDHT
Chỉ số
Tiêu chuẩn hoạt động
Tiêu chí
Tính bền vững
Tự bền vững về thể chế ISS
Tự bền vững về hoạt động OSS Tối thiểu 120% Tối thiểu 100% Tự bền vững về tài chính FSS Tối thiểu 2% ROA - Cấu trúc quản trị và tư cách pháp lý của tổ chức tốt (có pháp nhân, có sự tách bạch giữa chủ sở hữu, ban quản trị và ban điều hành) - Tổ chức có kế hoạch chiến lược (Tầm nhìn, Sứ mệnh và các Mục tiêu phát triển) - Tổ chức có báo cáo tài chính đúng theo chuẩn mực và được kiểm toán độc lập hàng năm. Tổ chức có hệ thống quản lý thông tin (MIS) chuyên nghiệp và minh bạch.
Không có tiêu chuẩn
Số lượng dịch vụ và sản phẩm cung ứng Số lượng và mức tăng trưởng của khách hàng Số lượng và mức tăng trưởng của dư nợ tín dụng Số lượng và mức tăng trưởng của số dư tiết kiệm
Mức độ tiếp cận
trung bình/GDP
Mức vay (GNI) đầu người
Tỷ lệ nợ quá hạn/tổng dư nợ Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ
- 150%: Thị phần thu nhập cao - 20-150%: Thị phần bậc trung - <20%: Thị phần khách hàng nghèo Tối đa 5% Tối đa 3%
1.2.2. Tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển bền vững của hệ thống Quỹ tín
dụng nhân dân
Trên cơ sở phân tích quan điểm về PTBV của loại hình TCTDHT cho
thấy, các tiêu chuẩn được sử dụng để đánh giá sự PTBV cho hệ thống Quỹ tín
dụng nhân dân như sau:
41
1.2.2.1. Các tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển bền vững cho từng Quỹ tín
dụng nhân dân và Tổ chức đầu mối
a) Các tiêu chuẩn định tính
Khi thị trường tài chính, thị trường chứng khoán giữa các quốc gia có sự
liên thông ngày càng sâu rộng với nhau; và những thay đổi chính sách kinh tế -
xã hội, những biến động của thị trường cũng ngày một khó dự đoán, để PTBV
các QTDND phải không ngừng nâng cao khả năng nhận diện và hình thành các
biện pháp để ứng phó trước các biến động có thể xảy ra. Khả năng này có thể
được thể hiện với một số nội dung cơ bản sau:
- Năng lực xây dựng các tình huống, kịch bản chính sách kinh tế - xã hội,
các mức độ biến động của thị trường.
- Mức độ phù hợp của các tình huống, kịch bản được thiết lập.
- Mức độ khả thi của các biện pháp ứng phó trước các kịch bản, tình
huống đã được xây dựng.
- Năng lực ứng phó với hậu quả của các biến động thực tế xảy ra thể hiện
trước hết ở khả năng kiểm soát hậu quả, tốc độ phục hồi sau biến động và khả
năng giảm thiểu thiệt hại của những biến động tương tự xảy ra trong tương lai.
Ngoài ra các chỉ tiêu định tính liên quan đến việc đánh giá vai trò xã hội
của QTDND cũng cần được phân tích, xem xét.
b) Các tiêu chuẩn định lượng
Một QTDND được xem là PTBV nếu nó có sự phát triển ổn định theo
thời gian và đáp ứng được các chỉ tiêu sau:
b.1) Các chỉ tiêu phản ánh quy mô, tỷ lệ, cơ cấu tốc độ tăng trưởng của
nguồn vốn, tài sản
Quy mô nguồn vốn là tổng số dư trên các tài khoản tiền gửi, tiền vay, tài
khoản vốn chủ sở hữu và tài khoản phát hành giấy tờ có giá. Số dư trên các tài
khoản này càng lớn chứng tỏ quy mô nguồn vốn của QTDND càng lớn; quy mô
nguồn vốn càng lớn thì khả năng phát triển càng cao.
42
Tỷ lệ hay cơ cấu của nguồn vốn được phân theo thời hạn của nguồn vốn,
theo khoản mục hay theo thị trường huy động vốn, các chỉ tiêu này được xác
định bằng tỷ trọng của từng nguồn vốn trên tổng nguồn vốn. Quy mô nguồn vốn
đủ lớn, cơ cấu vốn hợp lý sẽ cho phép QTDND tạo lập nguồn ngân quỹ phù hợp
để phòng ngừa rủi ro thanh khoản, đồng thời QTDND có thể phát triển đa dạng
hơn các sản phẩm dịch vụ ngân hàng phục vụ tốt hơn cho khách hàng.
Quy mô tài sản của QTDND là tổng số dư trên các tài khoản phản ánh tài
sản của QTDND. Khi quy mô tài sản được mở rộng, đặc biệt là sự tăng trưởng
của những khoản mục tài sản có khả năng sinh lời tốt là điều kiện để QTDND có
thu nhập, đảm bảo bù đắp được chi phí và có lãi để phát triển.
Tỷ lệ hay cơ cấu thời hạn và cơ cấu danh mục tài sản là tỷ trọng của từng
khoản mục tài sản trên tổng tài sản theo các tiêu chí trên. Sự đa dạng của cơ cấu
danh mục tài sản cũng phản ánh chiến lược phân tán rủi ro nhằm đảm bảo an
toàn hoạt động của QTDND, cũng như phản ánh được mức độ thâm nhập và
mức độ tiếp cận đối tượng khách hàng của QTDND; mặt khác, tỷ trọng các
khoản mục tài sản (cho vay) theo lĩnh vực còn cho biết QTDND đó có cho vay
các lĩnh vực làm gia tăng lợi ích cộng đồng, bảo vệ môi trường hay không.
b.2) Các chỉ tiêu phản ánh tính an toàn của QTDND
Rủi ro thanh khoản là khả năng xảy ra tổn thất cho TCTD gắn liền với
biến cố cầu thanh khoản vượt quá khả năng thanh khoản của TCTD.
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra biến cố từ các khoản tín dụng gây tổn
thất cho TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các
cam kết trong hợp đồng tín dụng.
Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra biến cố gây tổn thất cho TCTD gắn liền
với sự thay đổi của lãi suất tác động đến quy mô và giá trị của nguồn vốn và tài
sản của TCTD. Rủi ro lãi suất gắn liền với hai hoạt động cơ bản đó là huy động
vốn và cho vay, đầu tư.
Các rủi ro khác: Rủi ro tác nghiệp là rủi ro gắn liền với yếu tố con người
và công nghệ trong thưc hiện nghiệp vụ quản lý, tác nghiệp cung ứng dịch vụ
43
ngân hàng. Rủi ro chính trị là rủi ro xuất phát từ thay đổi thái độ đối xử của
Chính phủ đối với TCTD thông qua điều chỉnh chính sách, pháp luật chi phối
hoạt động của loại hình TCTD.
Tính an toàn của QTDND là năng lực quản trị thể hiện khả năng dự báo
và phòng ngừa rủi ro, bù đắp những tổn thất xảy ra trong hoạt động tín dụng, khả
năng sẵn sàng chi trả, thanh toán cho khách hàng; khả năng này được đánh giá
thông qua sự tương xứng về cấu trúc kỳ hạn giữa tài sản và nguồn vốn; Khả
năng này được đánh giá thông qua quy trình tín dụng và mức độ chấp hành quy
trình của các cán bộ tín dụng và được phản ánh thông qua các chỉ tiêu sau:
- Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ, tỷ lệ này phản ánh chất lượng hoạt
động tín dụng của QTDND, tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ chất lượng hoạt động
tín dụng càng cao (Theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của
một TCTD không nên để vượt quá 2%).
- Khả năng bù đắp những tổn thất xảy ra trong hoạt động tín dụng được
phản ánh thông qua chỉ tiêu sau:
Hệ số này phải bằng 1. Nếu 1 thì TCTD đó không có khả năng bù đắp
được nợ không có khả năng thu hồi.
- Khả năng sẵn sàng chi trả và thanh toán cho khách hàng của TCTD được
í đ
ư í đ
phản ánh thông qua chỉ tiêu:
b.3) Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời
ư ã ã á á
- Lợi nhuận trước thuế:
Ngoài ra, lợi nhuận trước thuế có thể được xác định như sau:
Lợi nhuận trước thuế = Thu nhập từ hoạt động kinh doanh – Tổng chi phí hoạt
động và dự phòng rủi ro tín dụng trích lập tăng trong năm + Hoàn nhập rủi ro tín dụng
trong năm
44
ư
- Lợi nhuận sau thuế (Lợi nhuận ròng):
ế à
- Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA)
ROA lớn chứng tỏ TCTD đó làm ăn có hiệu quả, cơ cấu tài sản hợp lý, có
sự điều hòa tốt giữa các khoản mục tài sản, nhưng nếu ROA quá lớn thì khả năng
rủi ro cũng rất cao.
ế ROE là chỉ số đo lường hiệu quả sử dụng của một đồng vốn chủ sở hữu,
- Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE):
nó cho biết lợi nhuận ròng tạo ra từ 1 đơn vị vốn chủ sở hữu.
b.4) Các chỉ tiêu phản ánh khả năng tiếp cận của QTDND
Các chỉ tiêu này phản ánh số lượng khách hàng được tiếp cận và sử dụng
các dịch vụ ngân hàng, đây cũng là chỉ tiêu phản ánh mức độ lợi ích mà QTDND
mang lại cho người dân ở nơi QTDND hoạt động. Chỉ tiêu này được đo lường
bằng: độ rộng của tiếp cận và độ sâu của tiếp cận.
Độ rộng của tiếp cận là khả năng mọi khách hàng có nhu cầu sử dụng sản
phẩm dịch vụ ngân hàng đều có thể tiếp cận và được cung cấp những sản phẩm
dịch vụ này từ QTDND.
Độ sâu của tiếp cận là khái niệm dùng để đo lường khả năng các nhóm
khách hàng khác nhau có thể tiếp cận dịch vụ ngân hàng tới mức nào, cũng như
giá trị ròng mà khách hàng nhận được. Tuy vậy, các chỉ tiêu đo lường độ sâu của
tiếp cận trực tiếp thông qua sự thay đổi ròng của giá trị thu nhập và tài sản khách
hàng sau khi tiếp cận được với dịch vụ tín dụng rất khó xác định. Vì vậy, có thể
sử dụng chỉ tiêu mức vay bình quân để đánh giá độ sâu của tiếp cận.
ô ó ì
ì ì â đ ư
45
Chỉ tiêu này còn được sử dụng để đánh giá độ sâu của tiếp cận đến các
khách hàng của một TCTD trên tầm quốc tế. Tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ mức
độ tiếp cận càng sâu. Theo chuẩn quốc tế tỷ lệ này là dưới 20% thì các dịch vụ
ngân hàng đã tiếp cận được đến nhóm khách hàng có thu nhập thấp nhất trong xã
hội; nếu tỷ lệ này dao động trong khoảng từ 20% đến 150% thì TCTD đã giao
dịch với các khách hàng trung bình và có mức tiếp cận rộng. Nếu chỉ tiêu này
trên 150% thì TCTD chỉ tập trung vào nhóm khách hàng giàu có trong xã hội.
1.2.2.2. Các tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển bền vững của hệ thống Quỹ tín
dụng nhân dân
a) Các tiêu chuẩn cơ bản của hệ thống liên kết bền vững
Một là, khả năng đưa các nguồn lực vào sử dụng chung và khả năng tiếp
cận các dịch vụ hỗ trợ chung.
Hai là, khả năng chuẩn hóa hệ thống, bao gồm: chuẩn hóa quy trình hoạt
động nghiệp vụ; chuẩn hóa các thể lệ, chính sách; chuẩn hóa các sản phẩm dịch
vụ; và chuẩn hóa hình ảnh thể chế của hệ thống.
Ba là, khả năng liên kết theo hợp đồng. Nội dung liên kết được thể hiện
trong hợp đồng gồm: (1) Tương quan quy mô của các QTDND; (2) Đóng góp
phí; (3) Kiểm soát mở rộng các điểm giao dịch; (4) Hệ thống điều hòa vốn; (5)
Cơ chế an toàn hệ thống; (6) Cơ chế tăng cường năng lực tài chính.
Bốn là, khả năng xây dựng chiến lược và các quy tắc nội bộ để tăng cường
quản lý. Các chiến lược và quy tắc nội bộ bao gồm: (1) Cơ cấu đại diện dân chủ
và tập trung quyền lực; (2) Tuân thủ nguyên tắc bổ trợ lẫn nhau; (3) Giám sát nội
bộ hệ thống; (4) Các cơ chế gia nhập và ra khỏi hệ thống.
b) Tính liên kết hệ thống của mô hình QTDND
Mô hình liên kết hệ thống QTDND được thể hiện tại hình 1.3.
Tính liên kết hệ thống được đánh giá qua một số hoạt động chủ yếu sau:
- Điều hòa vốn khả dụng trong toàn hệ thống.
46
- Trích lập và quản lý chung các loại quỹ nhằm hỗ trợ các QTDND khó
khăn tạm thời hoặc hạn chế hạn mức đầu tư.
- Xây dựng, áp dụng các chuẩn mực quy tắc; kế hoạch, chiến lược phát
triển.
- Tư vấn pháp lý, các hoạt động nghiệp vụ.
- Thiết lập hệ thống thanh toán và thông tin nội bộ.
- Xây dựng bảng cân đối tổng hợp chung để có thể phân tích tình hình kết
quả hoạt động của toàn hệ thống.
QTDND CS
QTDND CS
QTDND CS
QTDND CS
QTDND CS
QTDND cơ sở
QTDND đầu mối
Cơ quan liên kết phát triển hệ thống
Tổ chức an toàn hệ thống
Tổ chức kiểm toán của hệ thống
Tổ chức đào tạo của hệ thống
Tổ chức nghiên cứu chính sách, pháp luật cho hệ thống
Tổ chức công nghệ tin học và quản lý dữ liệu hệ thống
Quan hệ hỗ trợ Quan hệ góp vốn
Ghi chú: Quan hệ chỉ đạo, điều hành
Hình 1.3. Mô hình hệ thống QTDND
1.2.3. Yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của hệ thống Quỹ tín
dụng nhân dân
Tính bền vững của hệ thống QTDND phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, và
được phân làm hai nhóm, nhóm yếu tố nội tại và nhóm yếu tố bên ngoài.
47
Mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố không giống nhau và tùy thuộc vào
giai đoạn phát triển của QTDND và môi trường hoạt động.
1.2.3.1. Nhóm yếu tố bên ngoài
a) Bối cảnh kinh tế xã hội: Là nhân tố tác động mạnh mẽ đến sự PTBV
của hệ thống QTDND; khi mà kinh tế xã hội khó khăn, các QTDND tập trung
vào việc huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân để cho các thành viên vay
vốn phát triển sản xuất kinh doanh và đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cuộc sống;
Khi điều kiện kinh tế xã hội phát triển, các QTDND sẽ phải chú trọng cung ứng
các sản phẩm, dịch vụ tiện ích cho thành viên của mình, cạnh tranh được với các
NHTM. Để làm được điều đó bản thân các QTDND phải đa dạng hóa các sản
phẩm dịch vụ, phải liên tục tái cơ cấu thì mới có thể tồn tại và PTBV.
b) Hệ thống luật pháp và quản lý của nhà nước: Nhà nước đóng vai trò
quan trọng trong việc tạo lập môi trường pháp lý để hệ thống QTDND hoạt động
thông qua các chính sách, quy định. Khi hệ thống QTDND mới ra đời, muốn cho
hệ thống đứng vững, ngoài việc tạo lập hành lang pháp lý, Nhà nước còn phải hỗ
trợ thông qua các chính sách ưu đãi về thuế, đào tạo, định hướng mô hình phát
triển; thực hiện thanh tra, giám sát. Khi hệ thống QTDND phát triển đạt đến một
trình độ nào đó, Nhà nước có thể ủy thác cho một tổ chức điều phối hệ thống
QTDND thực hiện một số chức năng của Nhà nước như định hướng chiến lược,
giám sát hoạt động, ... Nhà nước chỉ can thiệp khi thực sự cần thiết.
c) Cơ sở hạ tầng và kỹ thuật công nghệ: Là một trong những nhân tố quan
trọng đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống QTDND, điều đó thể hiện ở việc
xây dựng cơ sở hạ tầng và kỹ thuật công nghệ tốt, để ứng dụng công nghệ cho hệ
thống QTDND, nhằm hiện đại hóa các quy trình nghiệp vụ để cung cấp dịch vụ
tiện ích, phục vụ tốt cho thành viên và khách hàng của mình.
d) Trình độ dân trí: Ở những nước có trình độ dân trí thấp, hoạt động của
QTDND chỉ cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính truyền thống (huy động
tiết kiệm, cho vay kết hợp với phổ biến kinh nghiệm sản xuất, cho vay để cải
thiện đời sống); Cơ cấu tổ chức hệ thống mang tính phân tán, cục bộ. Ở những
nước có trình độ dân trí cao, hoạt động của hệ thống QTDND phải ngang tầm
48
như các NHTM; Cơ cấu tổ chức của hệ thống có xu hướng mang tính tập trung
và tính đại diện cao hơn, có khả năng cạnh tranh với các loại hình TCTD khác.
1.2.3.2. Nhóm yếu tố nội tại
a) Kế hoạch hoạt động kinh doanh trong dài hạn: Bất cứ một tổ chức nào
muốn có bước phát triển lâu bền đều cần đến một kế hoạch hoạt động hướng vào
tương lai trong đó xác định các mục đích chiến lược của tổ chức và liệt kê các
phương thức triển khai để đạt các mục đích đó; Kế hoạch thể hiện các quyết định
về phân bổ nguồn lực, các kết quả mong muốn, giúp cho các nhà lãnh đạo đưa ra
các mục tiêu khả thi và quyết định; Thêm vào đó, kế hoạch hoạt động kinh
doanh cung cấp cho nhân viên, Ban điều hành, HĐQT và các bên liên quan một
bức tranh về hiện trạng của tổ chức tại thời điểm hiện tại và quan trọng hơn là
viễn cảnh đạt được trong tương lai.
Kế hoạch hoạt động là một công cụ đặc biệt quan trọng đối với một
QTDND có định hướng hoạt động chuyên nghiệp và bền vững. Ở những nơi mà
hệ thống QTDND còn non trẻ như Việt Nam, bền vững tài chính là thách thức
của số đông các tổ chức và thường là một trong những mục tiêu quan trọng được
đề ra trong kế hoạch hoạt động kinh doanh và chỉ có thể đạt được nếu QTDND
kết hợp nhuần nhuyễn các nguồn lực của tổ chức với chiến lược và chiến thuật
phù hợp với cơ hội và thách thức trên thị trường.
b) Sản phẩm và dịch vụ, kênh phân phối đáp ứng nhu cầu của thành viên
và khách hàng: Sự tồn tại và phát triển của một QTDND gắn chặt với mức độ tổ
chức tài chính đáp ứng nhu cầu của khách hàng thông qua sản phẩm và dịch vụ
của mình. Hoạt động trong hệ thống tài chính luôn phải cạnh tranh và các nhu
cầu liên tục thay đổi của khách hàng đòi hỏi QTDND áp dụng phương thức thiết
kế và phát triển sản phẩm dựa theo nhu cầu thị trường, điều này đặc biệt quan
trọng khi nhu của cầu khách hàng của QTDND ở phân đoạn thị trường cấp thấp.
Ngoài ra, kênh phân phối cũng là một nhân tố quan trọng trong chiến lược
gia tăng giá trị của QTDND với khách hàng. Khi QTDND huy động tiết kiệm từ
công chúng thì kênh phân phối còn đóng vai trò quan trọng hơn nữa vì khách
hàng luôn mong muốn có đơn vị an toàn và tin tưởng để chăm sóc tài sản của họ.
49
c) Chính sách giá và khả năng sinh lời của danh mục cho vay: Chính sách
giá là một quá trình quản lý các yếu tố thị trường một cách chủ động và linh
hoạt, nó đòi hỏi ban điều hành của QTDND phải thiết lập một tập hợp những qui
định và chính sách về giá nhất quán với mục đích và chiến lược hoạt động.
Chính sách giá hướng tới lợi nhuận phải đảm bảo trang trải đủ các chi phí
cơ bản, mang lại lợi nhuận và phụ thuộc vào phản ứng của thị trường và khách
hàng mỗi khi giá thay đổi. Chính sách giá có tác động tối quan trọng đến khả
năng bền vững của QTDND và để đạt được bền vững thì giá cả phải đảm bảo
trang trải toàn bộ chi phí tài chính và hoạt động, bao gồm cả chi phí mất vốn do
tác động của lạm phát.
d) Năng lực quản trị: Quản trị là một hệ thống kiểm tra, giám sát, cân đối
các nguồn lực với sự tham gia của các thành viên của QTDND và các tổ chức có
liên quan, bao gồm cả chủ sở hữu, ban điều hành, cơ quan hoạch định chính
sách, khách hàng. Để đạt được mục tiêu hoạt động bền vững thì QTDND phải
hình thành một hệ thống kiểm tra và giám sát vận hành trong nội tại và cả từ bên
ngoài. Hệ thống này giúp QTDND phát hiện và phòng ngừa rủi ro, hoạt động
hiệu quả, bền vững và hoàn thành sứ mệnh đề ra.
đ) Quản lý tài chính: Bền vững tài chính đi liền với khả năng quản lý hiệu
quả. Quản lý tài chính hiệu quả là một hệ thống những chiến lược, chính sách,
thủ tục được vận dụng bởi QTDND nhằm đối phó với các rủi ro như rủi ro tài
chính, rủi ro về chiến lược, mà vẫn đảm bảo tối đa hóa các kết quả tài chính của
tổ chức. Các chức năng chính của quản lý tài chính gồm: (i) lập kế hoạch tài
chính và lập ngân sách, (ii) kiểm soát tài chính trong đó có kế toán, báo cáo và
phân tích tài chính, (iii) ngân quỹ, và (iv) quan hệ nhà đầu tư. Những chức năng
này vận hành tốt sẽ giúp QTDND tối đa hóa lợi nhuận, tiết kiệm chi phí và huy
động tài chính dồi dào, từ đó rút ngắn con đường đi tới bền vững tài chính.
e) Năng lực quản lý rủi ro và đối phó khủng hoảng: Một QTDND phải
đối diện với nhiều rủi ro, gồm: rủi ro về sở hữu và quản trị, rủi ro tín dụng, rủi ro
thanh khoản, rủi ro về thanh danh... những rủi ro này là đều đe dọa tính bền vững
của QTDND. Khả năng dự báo, ứng biến đối với các rủi ro khi xảy ra sẽ quyết
định khả năng tồn tại và tiềm năng phát triển của QTDND trên thị trường.
50
1.3. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ PHÁT
TRIỂN BỀN VỮNG CHO HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN Ở
VIỆT NAM
1.3.1. Kinh nghiệm quốc tế
Cho đến nay loại hình TCTDHT có những tên gọi khác nhau đã hiện diện
ở hầu khắp các nước trên thế giới và tập hợp vào Hiệp hội quốc tế với số hội
viên của trên 100 nước tham gia. Dưới đây là một số mô hình phát triển loại hình
TCTD đã tạo được những thành công đáng kể.
1.3.1.1. Mô hình Quỹ tín dụng Desjardins
QTD Desjardins ở Quebec, Canada ra đời vào năm 1900, là một trong
những mô hình phát triển thành công nhất trên thế giới và là mô hình được Việt
Nam nghiên cứu áp dụng thí điểm vào năm 1993.
Từ việc việc nghiên cứu Báo cáo kết quả khảo sát mô hình Quỹ tín dụng
Desjardins tại Quebec, Canada [26], Luật về Tổng thanh tra các Định chế tài
chính Quebec, Canada [27]; Luật về Hợp tác xã Quebec, Canada [31]; …, cho
thấy những nét chính của mô hình QTD Desjardins như sau:
a) Nguyên tắc tổ chức và hoạt động
- Tự nguyện gia nhập và ra QTD: Chỉ khi quán triệt tốt nguyên tắc này thì
QTD mới có thể thu hút được đông đảo thành viên tham gia – Đây cũng là một
nguyên tắc căn bản tạo nên tính bền vững của loại hình TCTD này.
- Quản lý dân chủ và bình đẳng: Các thành viên vừa là những người đồng
sở hữu lại vừa là khách hàng của QTD do chính họ thành lập nên QTD phải
được quản lý dân chủ, bình đẳng và công khai, với nguyên tắc này mọi thành
viên đều có quyền tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát QTD và có quyền ngang
nhau trong biểu quyết các vấn đề của QTD mà không phụ thuộc vào số vốn góp
nhiều hay ít.
- Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: Sau khi tạo ra lợi nhuận
trong quá trình hoạt động và làm xong nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước, lãi còn
lại được trích lập một phần vào các Quỹ nhằm nâng cao năng lực tài chính của
QTD, một phần được chia theo vốn góp của các thành viên và phần còn lại được
chia cho các thành viên theo mức độ sử dụng dịch vụ.
51
- Hợp tác và phát triển cộng đồng: Để có thể duy trì sự PTBV của hệ
thống, mỗi thành viên luôn phải phát huy tinh thần tập thể, nâng cao ý thức hợp
tác giữa các thành viên trong QTD và trong cộng đồng xã hội, hợp tác giữa các
QTD với nhau ở trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật.
b) Mô hình tổ chức của hệ thống QTD Desjardins
Mô hình này bao gồm 2 bộ phận: bộ phận trực tiếp hoạt động kinh doanh
phục vụ thành viên và bộ phận tổ chức liên kết phát triển hệ thống.
Nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh đồng thời vẫn giữ được và phát huy
tính truyền thống, nguyên tắc HTX hệ thống QTD Desjardins đã thực hiện cải tổ
cơ cấu với nội dung căn bản là sáp nhập tất cả các Liên đoàn vào Tổng Liên
đoàn thành một tổ chức chung gọi là Liên đoàn QTD Desjardins. Sau sáp nhập,
Liên đoàn QTD Desjardins có 18 văn phòng, chịu trách nhiệm điều phối hoạt
động và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho các QTD thành viên, các nhiệm vụ còn
lại do Liên đoàn đảm nhiệm. Từ chỗ có 3 loại hình QTDCS, Liên đoàn và Tổng
Liên đoàn, mô hình tổ chức hệ thống QTD Desjardins sau khi cải tổ cơ cấu chỉ
còn 2 loại hình là QTDCS và Liên đoàn. Mô hình này đã phát huy tác dụng, đó
là quy trình ra các quyết định chung trong hệ thống được kịp thời và linh hoạt,
tiết giảm chi phí do bộ máy tổ chức gọn nhẹ hơn.
Hạt nhân cơ bản tạo nên hệ thống là các QTDND ở cấp cơ sở, cấp khu
vực (Liên đoàn) và cấp quốc gia (Tổng Liên đoàn và QTDTW), các loại hình
QTDND nói trên đều là doanh nghiệp HTX.
c) Quản lý nhà nước đối với QTDND
Vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động của hệ thống QTD Desjardins
được được thể hiện qua các nội dung sau:
c.1) Về hành lang pháp lý: Nhà nước trực tiếp ban hành các luật liên
quan đến hoạt động của QTDND đồng thời giao chính phủ Bang Quebec ban
hành các nghị định và quy chế hướng dẫn thi hành. Chính phủ cho phép tổng liên
đoàn và các liên đoàn được ban hành các quy chế và quy định áp dụng trong nội
bộ hệ thống QTD Desjardins trên nguyên tắc đảm bảo tuân thủ và không trái với
các quy định của các Luật nói trên và các văn bản hướng dẫn thực hiện của
Chính phủ.
52
c.2) Về việc cấp giấy phép thành lập: Tổng thanh tra là người trực tiếp xử
lý hồ sơ xin thành lập, sau đó lập báo cáo gửi Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét,
sau khi tham khảo ý kiến của Tổng thanh tra, Bộ trưởng sẽ uỷ quyền cho ông
này cho phép thành lập QTD.
c.3) Về công tác kiểm tra, giám sát hoạt động: Ngoài việc tổ chức các
Hội đồng giám sát ở tất cả các tổ chức thành viên để thực hiện giám sát nội bộ
đối với hoạt động của mỗi đơn vị, luật pháp còn quy định hệ thống QTD
Desjardins phải tổ chức hệ thống tự kiểm tra, thanh tra nội bộ để đảm bảo chấp
hành đúng quy định pháp luật và an toàn trong hoạt động.
c.4) Về cung cấp thông tin báo cáo tình hình hoạt động: Hàng quý Liên
đoàn có trách nhiệm tổng hợp báo cáo các tình hình hoạt động của các QTDCS
để Tổng Liên đoàn tổng hợp báo cáo tình hình hoạt động của hệ thống cho Tổng
Thanh tra (trường hợp Liên đoàn không trực thuộc Tổng Liên đoàn thì báo cáo
trực tiếp cho Tổng Thanh tra). Hàng năm Tổng Thanh tra có trách nhiệm báo cáo
về tình hình tài chính cũng như các thông tin khác có liên quan theo yêu cầu về
tình hình hoạt động của hệ thống QTD Desjardins để Bộ trưởng Bộ Tài chính
trình bày trước Quốc hội vào ngày 30/6 hàng năm.
c.5) Về thanh lý và giải thể: Các thành viên QTD có thể quyết định thanh
lý, giải thể QTD bằng nghị quyết được ít nhất 3/4 số thành viên có mặt tại
ĐHTV thông qua; Trong quá trình thanh lý, Tổng thanh tra có thể thay mặt cho
các thành viên và chủ nợ của QTD thực hiện các quyền pháp lý đối với bất kỳ
vấn đề nào có liên quan. Bộ trưởng Bộ Tài chính có thể yêu cầu Tổng thanh tra
tiến hành giải thể một QTD không chấp hành đúng những quy định theo yêu cầu
của pháp luật, trong trường hợp này liên đoàn, công ty quỹ an toàn trực thuộc
tổng liên đoàn hoặc toà án có thể đảm nhiệm vai trò thanh lý viên theo quy định
của pháp luật.
c.6) Về các chính sách hỗ trợ cho hệ thống QTD Desjardins: Trong khi
các NHTM phải chịu mức thuế suất lợi tức 40% thì các QTD có thu nhập dưới
200 ngàn CAD/năm chỉ phải chịu mức 19% (toàn bộ hệ thống QTD Desjardins
chỉ có khoảng 100 QTD phải đóng mức thuế lợi tức 40%). Ngoài ra Chính phủ
còn mở tài khoản và gửi tiền của Chính phủ và một số cơ quan hành chính các
53
cấp vào hệ thống QTD Desjardins nhằm hỗ trợ nguồn vốn; Chính phủ còn lập ra
một số định chế tài chính nhằm hỗ trợ, đảm bảo an toàn cho hoạt động của hệ
thống QTD; Mặc dù hệ thống QTD Desjardins đã được phép thành lập Công ty
quản lý quỹ an toàn Chính phủ vẫn thành lập công ty bảo hiểm tiền gửi của
Chính phủ, công ty này có trách nhiệm bảo hiểm cho người gửi tiền tại các
TCTD cũng như các QTD Desjardins. Bên cạnh đó, Chính phủ còn lập ra Quỹ
bảo hiểm nông - lâm nghiệp trực thuộc Bộ nông nghiệp nhằm đảm bảo cho
người cung cấp tín dụng được bồi thường những tổn thất (cả gốc và lãi) đối với
những khoản tín dụng nông nghiệp đã cấp mà người vay vốn không có khả năng
hoàn trả theo đúng quy định. Sau khi bồi thường, Quỹ này có toàn quyền thay
thế TCTD đã nhận tiền bồi thường để đứng ra đòi nợ đối với người vay vốn.
Với thiết kế mô hình hoàn thiện và sự hỗ trợ đầy hiệu quả cùng với việc
quản lý Nhà nước hết sức chặt chẽ đối với hoạt động của các QTD, hệ thống
QTDND Desjardins đã có sự phát triển sâu rộng, bền vững và ngày càng nắm
giữ vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội (đặc biệt ở khu
vực nông nghiệp - nông thôn) ở Quebec cũng như đối với Canada.
1.3.1.2. Mô hình Ngân hàng Hợp tác xã của Cộng hòa liên bang Đức
Kết quả khảo sát mô hình tổ chức hệ thống các NHHTX tại CHLB Đức [17]
cho thấy:
a) Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của NHHTX
Cũng giống như các loại hình HTX khác, mô hình NHHTX ở Cộng hòa
Liên bang Đức cũng hoạt động trên các nguyên tắc: Tự nguyện gia nhập và ra
khỏi NHHTX; quản lý dân chủ, bình đẳng và công khai; tự chủ, tự chịu trách
nhiệm và cùng có lợi; hợp tác và phát triển cộng đồng.
b) Cơ cấu tổ chức của NHHTX
Cơ cấu tổ chức của hệ thống NHHTX Đức về cơ bản cũng gồm 2 bộ phận:
b.1/ Bộ phận trực tiếp hoạt động kinh doanh phục vụ thành viên với 3 cấp
bao gồm: Cấp cơ sở (với khoảng 1.100 NHHTXCS trực tiếp hoạt động kinh
doanh và phục vụ khách hàng); Cấp khu vực (NHHTX khu vực chịu trách nhiệm
chăm sóc phục vụ các NHHTXCS trên địa bàn phụ trách); Và Cấp quốc gia
(NHHTXTW Đức - DZ Bank với 22 Chi nhánh trong nước và 20 Chi nhánh,
54
Văn phòng đại diện trên toàn thế giới, chịu trách nhiệm chăm sóc phục vụ
khoảng 80% tổng số các NHHTXCS; với tư cách là Ngân hàng đầu mối, DZ
Bank còn thực hiện chức năng điều hoà vốn cho toàn bộ hệ thống thông qua thị
trường tiền tệ trong nước và quốc tế) Quan hệ liên kết hệ thống giữa 3 cấp này
được dựa trên nguyên tắc “tương trợ cộng đồng, tự quản lý và tự chịu trách
nhiệm về kết quả hoạt động”. Ngoài ra còn có Các doanh nghiệp HTX cung cấp
dịch vụ tài chính đặc biệt: Ngân hàng thế chấp bất động sản, Quỹ tiết kiệm xây
dựng, Công ty chứng khoán, Công ty mua bán nợ, Công ty bảo hiểm... với số
lượng khoảng 20 doanh nghiệp, là các Định chế tài chính HTX do các thành viên
là NHHTXCS, NHHTX khu vực và DZ Bank cùng góp vốn thành lập để thực
hiện các dịch vụ tài chính bổ sung, khép kín hoạt động nghiệp vụ Ngân hàng cho
toàn hệ thống. Các doanh nghiệp này có khả năng đáp ứng toàn bộ nhu cầu về
các sản phẩm dịch vụ tài chính cho khách hàng và cho các NHHTX. Nhiều trong
số các công ty này có quy mô lớn và công nghệ hiện đại đứng hàng đầu trong hệ
thống các định chế tài chính ở Đức nên có đủ khả năng cạnh tranh với các loại
hình NHTM khác.
b.2/ Bộ phận liên kết phát triển hệ thống: Bộ phận tổ chức liên kết phát
triển hay còn gọi là Hiệp hội các NHHTX; Bộ phận này có chức năng đại diện
bảo vệ quyền lợi, định hướng phát triển, thực hiện kiểm toán và tư vấn hỗ trợ,
đào tạo nguồn nhân lực và bảo đảm an toàn cho hoạt động của toàn hệ thống
NHHTX và được tổ chức ở 2 cấp:
Cấp quốc gia: Hiệp hội Liên bang các NHHTX Đức là tổ chức đại diện bảo
vệ quyền lợi và định hướng phát triển cho toàn hệ thống NHHTX Đức, thực hiện
chức năng: Đào tạo các cấp lãnh đạo từ Phó Giám đốc NHHTXCS trở lên và các
chuyên gia cao cấp cho toàn bộ hệ thống; Kiểm toán và tư vấn hỗ trợ đối với các
NHHTX khu vực, DZ Bank và các doanh nghiệp HTX cung cấp dịch vụ tài
chính đặc biệt; đồng thời trực tiếp quản lý, sử dụng Quỹ bảo toàn tổ chức cấp
quốc gia của hệ thống NHHTX Đức.
Cấp khu vực: Ở cấp này có 11 Hiệp hội HTX khu vực - còn được gọi là
Hiệp hội kiểm toán khu vực; trong đó có bộ phận phụ trách các NHHTXCS chịu
trách nhiệm đại diện bảo vệ quyền lợi, thực hiện kiểm toán, tư vấn hỗ trợ, đào
55
tạo nguồn nhân lực, tổ chức quản lý và sử dụng Quỹ bảo toàn tổ chức ở cấp khu
vực để hỗ trợ cho các NHHTX thành viên trên địa bàn. Ngoài ra còn có 6 Hiệp
hội kiểm toán chuyên ngành, trong đó bộ phận phụ trách khối các NHHTX chịu
trách nhiệm kiểm toán và tư vấn hỗ trợ cho các doanh nghiệp HTX cung cấp các
dịch vụ tài chính đặc biệt trong toàn bộ hệ thống NHHTX.
Trong mô hình, từng NHHTXCS, NHHTX khu vực, DZ Bank và các doanh
nghiệp HTX cung cấp các dịch vụ tài chính đều là doanh nghiệp HTX có cơ cấu
tổ chức quản lý chủ yếu gồm: Thành viên, ĐHTV, HĐQT, Hội đồng tín dụng
(chỉ riêng có đối với các NHHTX), Hội đồng giám sát và những người lãnh đạo.
c) Quản lý nhà nước đối với NHHTX
Vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động của NHHTX được giao cho 2
cơ quan là Cục giám sát Liên bang ngành tín dụng (là cơ quan hoạt động độc lập
được Nhà nước Chính phủ liên bang Đức giao trách nhiệm giám sát thanh tra
toàn bộ hệ thống các Ngân hàng Đức; tuy nhiên về mặt tổ chức hành chính thì
trực thuộc Bộ Tài chính) và Ngân hàng TW Liên bang Đức. Vai trò của quản lý
Nhà nước được thể hiện qua các nội dung sau:
c.1/ Về môi trường pháp lý: Ngoài việc chấp hành quy định của Luật
HTX, do các NHHTX được xếp vào loại hình Ngân hàng kinh doanh đa năng
nên các Ngân hàng này cũng phải chấp hành đầy đủ các quy định về hoạt động
do Ngân hàng TW Liên bang ban hành áp dụng chung cho các TCTD.
c.2/ Về cấp và thu hồi giấy phép hoạt động: Việc cấp và thu hồi giấy phép
hoạt động đối với các NHHTX Đức do Cục giám sát Liên bang ngành Tín dụng
đảm nhiệm.
c.3/ Về công tác kiểm tra giám sát:
Luật pháp của Nhà nước CHLB Đức quy định hệ thống NHHTX phải
chịu trách nhiệm rất cao đối với việc giám sát hoạt động của các NHHTX. Tại
mỗi Ngân hàng đều phải có Hội đồng giám sát gồm tối thiểu 3 thành viên do
ĐHTV bầu ra để giám sát hoạt động theo đúng tôn chỉ mục đích và quy định của
pháp luật và điều lệ, quy chế nội bộ của NHHTX.
Ngoài bộ máy kiểm tra, giám sát nội bộ, luật pháp còn quy định mỗi
NHHTX bắt buộc phải là thành viên của một Hiệp hội kiểm toán của hệ thống
56
HTX ở CHLB Đức và chịu sự kiểm toán định kỳ hàng năm do Hiệp hội kiểm
toán thực hiện theo các chuẩn mực và yêu cầu kiểm toán do Cục giám sát Liên
bang ngành Tín dụng ban hành hoặc công nhận.
Về kiểm tra, giám sát của nhà nước đối với hệ thống NHHTX:
Ngân hàng TW Liên bang phối hợp với Cục giám sát Liên bang ngành Tín
dụng cùng kiểm tra giám sát hoạt động của hệ thống NHHTX. Trong hoạt động
này, Ngân hàng TW Liên bang thực hiện vai trò giám sát từ xa thông qua công
tác kiểm toán của Hiệp hội kiểm toán Liên bang hoặc Hiệp hội kiểm toán khu
vực đối với các NHHTX và các báo cáo về tình hình hoạt động, tài chính của
NHHTX gửi cho Ngân hàng TW Liên bang theo định kỳ.
Với cơ chế giám sát hoạt động trên, nhà nước vừa giành quyền chủ động
cho hệ thống NHHTX, tôn trọng nguyên tắc “tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về
kết quả hoạt động” trong việc tự quản lý, giám sát hoạt động của hệ thống, vừa
tăng cường hiệu quả công tác thanh tra, giám sát của nhà nước thông qua việc
thai thác, sử dụng tối đa năng lực của bộ máy kiểm soát và kiểm toán nội bộ của
hệ thống NHHTX.
1.3.1.3. Một số mô hình Ngân hàng Hợp tác xã khác
a) Mô hình NHHTX Rabobank - Hà Lan
Kết quả khảo sát mô hình tổ chức hệ thống các Rabobank tại Hà Lan [48]
cho thấy:
a.1/ Cơ cấu tổ chức và hoạt động
Rabobank Hà Lan là một tập đoàn tài chính đa năng, là tổ chức ngân hàng
thuộc các chủ sở hữu tư nhân duy nhất trên thế giới có hệ số tín nhiệm AAA, với
tổng tài sản đến cuối năm 2008 lên đến hơn 600 tỷ Euro. Tổng số nhân viên của
Rabobank trong và ngoài nước là 60.000 người. Cơ cấu tổ chức hiện nay của
Rabobank Hà Lan bao gồm:
- Ngân hàng Hợp tác xã cơ sở: Ra đời từ năm 1898 trên cơ sở nghiên cứu
áp dụng mô hình NHHTX Đức; Tuy ra đời sau nhưng mô hình Rabobank Hà
Lan đã nhanh chóng phát triển và hoàn thiện theo hướng vừa tập trung, sáp nhập
hợp nhất vừa hiện đại hoá công nghệ, sản phẩm dịch vụ ngân hàng; đến nay hệ
thống NHHTXCS bao gồm 150 đơn vị với khoảng 1,7 triệu thành viên.
57
Các NHHTXCS là các đơn vị tự chủ, kinh doanh đa năng, tập trung vào
các mối quan hệ dài hạn với khách hàng. Các NHHTXCS trong tập đoàn được
quyền bảo lãnh chéo cho nhau và được tập đoàn bảo lãnh chung, theo đó khi
tham gia tập đoàn, các ngân hàng cơ sở ký cam kết chung tuân thủ những quy tắc
chung trong hoạt động, giúp đỡ lẫn nhau, tạo nên sức mạnh lớn hơn cho từng
ngân hàng cũng như sức mạnh tổng hợp của cả tập đoàn.
Cơ cấu tổ chức NHHTXCS bao gồm ĐHTV, HĐQT, BKS, Ban điều
hành; trong đó thành viên HĐQT bao gồm cả những người do Đại hội bầu và cả
những chuyên gia được thuê ngoài nhằm đảm bảo tính chuyên môn sâu trong
hoạt động của NHHTX.
Về mô hình quản lý: Bên cạnh ĐHTV, các NHHTX còn hình thành một
uỷ ban thành viên gồm 30-50 người do các thành viên lựa chọn để thay mặt cho
đại hội toàn thể thành viên ra một số quyết định quan trọng như sáp nhập, chỉ
định BKS, … cũng như các mối liên hệ với thành viên.
Về chính sách thành viên: Những khách hàng có 3 dịch vụ của ngân hàng
trở lên đều được mời tham gia thành viên; Các thành viên không phải đóng phí
thành viên, không có nghĩa vụ, không có liên đới trách nhiệm đối với hoạt động
của ngân hàng Rabobank; ngược lại khách hàng là thành viên được hưởng thêm
những quyền lợi về sự tham gia, chia sẻ thông tin, thể hiện tính cộng đồng, xã
hội, sự ảnh hưởng và kiểm soát đối với hoạt động của NHHTX.
- Rabobank quốc gia: Trong quá trình phát triển, để hỗ trợ cho việc nâng
cao hiệu quả hoạt động cũng như bảo đảm an toàn trong hoạt động của mình, các
Rabobank cơ sở đã cùng nhau thành lập Rabobank quốc gia. Song song với việc
hỗ trợ các Rabobank cơ sở, Rabobank quốc gia đã tập trung phát triển công nghệ
và sản phẩm dịch vụ, làm tốt vai trò NHTM đầu mối của cả hệ thống và là đầu
tàu chủ lực trong việc phát triển hệ thống Rabobank theo mô hình tập đoàn.
Rabobank quốc gia còn thành lập nhiều Công ty con trực thuộc như công
ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm,... để thực hiện các hoạt động kinh doanh
đa năng của bản thân Rabobank quốc gia cũng như đáp ứng kịp thời toàn bộ nhu
cầu sản phẩm dịch vụ tài chính - ngân hàng hiện đại của các khách hàng, thành
viên của các Rabobank cơ sở.
58
Rabobank quốc gia hình thành mảng chăm sóc thành viên với cơ cấu tổ
chức mô phỏng sơ đồ tổ chức và hoạt động của các Rabobank cơ sở.
Để đảm bảo nguyên tắc HTX, hệ thống Rabobank đã tạo ra một cơ chế
tham vấn và ra quyết định của tập đoàn một cách dân chủ, theo đó các Rabobank
cơ sở gần nhau tham gia vào các uỷ ban khu vực (tổng cộng toàn hệ thống có 12
uỷ ban khu vực). Một năm 4 lần các uỷ ban khu vực này gặp nhau và bàn thảo về
các vấn đề thuộc 2 cấp độ: cấp kỹ thuật và cấp cao. Tại cấp quốc gia cũng hình
thành uỷ ban quốc gia họp 1 năm 4 lần, với đại diện tham gia từ các uỷ ban khu
vực để quyết định các vấn đề do các uỷ ban khu vực trình lên.
a.2/ Về quản lý, giám sát và quản trị rủi ro
Ngân hàng TW và Cơ quan giám sát tài chính quốc gia uỷ quyền cho
Rabobank quốc gia thực hiện thanh tra, giám sát hoạt động đối với các
NHHTXCS. Rabobank quốc gia có trách nhiệm báo cáo tổng hợp chung tình
hình hoạt động cũng như báo cáo tài chính hợp nhất của toàn hệ thống cho các
cơ quan này. Tuy uỷ quyền cho Rabobank quốc gia thực hiện nhưng khi cần
thiết Ngân hàng TW và cơ quan giám sát tài chính quốc gia Hà Lan vẫn có thể
thực hiện các hoạt động thanh tra tại chỗ đối với các NHHTXCS. Riêng
Rabobank quốc gia chịu sự kiểm tra giám sát hoạt động của các cơ quan có thẩm
quyền cũng như chấp hành chế độ kiểm toán hàng năm như các NHTM khác.
- Về giám sát hoạt động của các NHHTXCS: Rabobank quốc gia hình
thành một bộ phận giám sát tính tuân thủ các quy định của Ngân hàng TW và Cơ
quan giám sát tài chính quốc gia (tại mỗi NHHTXCS có một cán bộ giám sát có
tính độc lập cao đối với Ban lãnh đạo của NHHTXCS đó); Bộ phận giám sát
tuân thủ hướng dẫn cho các NHHTXCS việc thực hiện các văn bản mới của
Ngân hàng TW và Cơ quan giám sát tài chính quốc gia, ban hành các mẫu biểu,
giám sát việc tuân thủ và bổ sung chỉnh sửa khi cần thiết.
Việc giám sát được thực hiện thông qua chương trình đánh giá tuân thủ
hàng năm, báo cáo hàng quý của cán bộ giám sát tuân thủ tại cơ sở và các đợt
kiểm tra đánh giá tại chỗ của Rabobank quốc gia đối với các Rabobank cơ sở
theo định kỳ một năm hai lần. Nếu phát hiện sự không tuân thủ, Rabobank quốc
gia có thể đặt NHHTXCS đó dưới sự kiểm soát đặc biệt. Nếu vấn đề có tính cơ
59
cấu, Rabobank quốc gia có thể đưa ra những biện pháp yêu cầu NHHTXCS đó
phải thực hiện hoặc Rabobank quốc gia tiến hành hỗ trợ quản lý NHHTXCS đó
thông qua dịch vụ hỗ trợ quản lý để tăng cường năng lực quản trị kinh doanh và
củng cố, chấn chỉnh trở lại hoạt động bình thường.
- Về quản trị rủi ro: Hệ thống Rabobank rất coi trọng công tác quản trị rủi
ro, đồng thời xác định đây là việc cực kỳ cần thiết để bảo vệ sức mạnh tài chính,
thanh danh của tập đoàn. Để làm tốt công tác này, hệ thống đã tập trung xử lý
vấn đề này theo hướng: i/ Làm minh bạch vấn đề rủi ro, và đưa yếu tố rủi ro vào
xem xét trong mọi quyết định kinh doanh; ii/ Đặt hoạt động kiểm soát rủi ro ở
một vị trí độc lập với các hoạt động thương mại của bất kỳ một ngân hàng nào
trong hệ thống; iii/ Trong ban điều hành có bố trí một vị trí giám đốc tài chính,
đồng thời là giám đốc quản trị rủi ro; iv/ Phi tập trung hoá vấn đề quản lý rủi ro,
theo đó coi quản trị rủi ro là một yếu tố trong mọi quyết định kinh doanh, được
tích hợp vào trong các quá trình kinh doanh; và v/Các chính sách quản trị rủi ro
đều dựa trên nguyên tắc chứ không cứng nhắc, có diễn giải linh hoạt phù hợp
theo tình huống; các khái niệm và mẫu biểu báo cáo đều đưa ra các chuẩn mực
và chi tiết.
Hiện tại hệ thống Rabobank đang áp dụng BASEL 2 trong quản trị rủi ro;
trong đó 3 cột trụ cơ bản là: tính toán các mức rủi ro để quy ra mức vốn tự có và
chi phí dự phòng phải có tương ứng; đáp ứng các yêu cầu của công tác thanh tra;
minh bạch hoá vấn đề rủi ro tài chính.
Có thể nói với cơ cấu tổ chức được kiện toàn chặt chẽ, tinh giản tối đa
các tầng nấc trung gian, hệ thống công nghệ thông tin và sản phẩm dịch vụ ngân
hàng phong phú, hiện đại cùng với đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên nghiệp,
hiện nay hệ thống Rabobank - Hà Lan đã trở thành một tập đoàn TCTDHT hàng
đầu trên thế giới.
b) NHHTX ở Vân Nam - Trung Quốc
Kết quả khảo sát mô hình tổ chức hệ thống các NHHTX tại Vân Nam -
Trung Quốc [49] cho thấy: Đây là mô hình hoạt động hiệu quả, được nhiều tổ
chức quốc tế công nhận là tốt, thực tế đang rất phát triển. Quá trình hình thành
và phát triển mô hình này có thể tóm tắt như sau:
60
Các QTD Vân Nam được thành lập từ những năm 1950, đến năm 2005 đã
có gần 2.300 QTD được thành lập và hoạt động ở quy mô cấp xã. Trước năm
1996, các QTD cơ sở ở Trung Quốc (trong đó có Vân Nam) được giao cho Ngân
hàng Nông nghiệp quản lý; từ năm 1996 Ngân hàng TW Trung Quốc đã tiếp
quản lại công tác quản lý đối với loại hình QTD này.
Năm 2004 thực hiện Nghị quyết của Quốc vụ viện Trung quốc về cải cách
toàn diện hệ thống HTXTD nông thôn, trên cơ sở nghiên cứu ứng dụng hỗ trợ kỹ
thuật của NHHTX Rabobank, chính quyền tỉnh Vân Nam đã tiến hành hợp nhất,
sáp nhập 2.300 QTD cấp xã thành 129 QTD cấp huyện; trong đó 4 QTD cấp
huyện lớn được chuyển đổi thành NHHTX. Trong mô hình này các QTD cấp
huyện được thực hiện các hoạt động nghiệp vụ chủ yếu là huy động và cho vay
đối với các thành viên; Ngoài ra còn được phép cung cấp các sản phẩm dịch vụ
ngân hàng khác tuỳ theo khả năng phát triển và trình độ quản lý.
Năm 2005 liên đoàn QTD nông thôn tỉnh Vân Nam (một tổ chức vừa có
chức năng NHHTX cấp tỉnh, vừa có chức năng của tổ chức Liên đoàn hoặc Hiệp
hội TCTDHT cấp tỉnh) được thành lập (bao gồm 4 NHHTX và 125 QTD cấp
huyện); Chính quyền tỉnh Vân Nam uỷ quyền cho Liên đoàn QTD nông thôn
tỉnh thực hiện chức năng quản lý, theo dõi và giám sát hoạt động, hướng dẫn
nghiệp vụ tài chính, công nghệ thông tin và đào tạo cán bộ cũng như làm nhiệm
vụ liên kết và cung ứng dịch vụ cho hệ thống QTD nông thôn và NHHTX Vân
Nam. Đáng chú ý, liên đoàn QTD cấp tỉnh có quyền tham gia giới thiệu nhân sự
cho các vị trí lãnh đạo quan trọng tại các NHHTX và các QTD thành viên trước
khi bầu và trình cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chuẩn y.
Liên đoàn QTD tỉnh Vân Nam có trụ sở chính với 12 phòng, ban chuyên
môn và một số trung tâm quản lý hỗ trợ thanh khoản, trung tâm công nghệ thông
tin, trung tâm dữ liệu, trung tâm thanh toán, trung tâm thẻ, trung tâm đào tạo...
để thực hiện cung ứng các sản phẩm dịch vụ liên kết cho các QTD nông thôn và
NHHTX thành viên. Ngoài ra Liên đoàn QTD Vân Nam còn có 14 văn phòng
khu vực để trực tiếp quản lý, giám sát các QTD nông thôn trên địa bàn phụ trách.
Chỉ sau 2 năm quyết liệt thực hiện chương trình cải cách hệ thống QTD,
lấy tư tưởng phát triển tam nông làm chủ đạo, coi việc phát triển hệ thống QTD
61
nông thôn và NHHTX như là một biện pháp chiến lược để phát triển kinh tế
nông nghiệp nông thôn, chính quyền tỉnh Vân Nam đã cơ cấu lại thành công hệ
thống NHHTX và QTD; theo đó về cơ bản hiện nay hệ thống này gồm 2 cấp:
Tỉnh - huyện. Quá trình hợp nhất sáp nhập, cải tổ hệ thống không có QTD nào bị
đổ vỡ hoặc bị giải thể mà đều chuyển đổi thành công và chỉ sau 3 năm cải tổ, hệ
thống NHHTX và QTD tỉnh Vân Nam đã tăng trưởng quy mô hơn 3,5 lần và tỷ
lệ nợ xấu giảm từ 4 - 5 lần.
1.3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ những thành công của các mô hình QTD ở Canada, Đức, Hà Lan hay ở
Trung Quốc có rút ra một số bài học kinh nghiệm trong hoàn thiện và PTBV hệ
thống QTDND ở Việt Nam như sau:
Một là, hoạt động đúng mục tiêu, các QTD ra đời vì mục tiêu tương trợ
giữa các thành viên và góp phần phát triển cộng đồng. Mục tiêu này đặc biệt
quan trọng đối với sự sống còn của QTD, là là kim chỉ nam, là mục đích tự thân,
là động lực phát triển của các QTD. Ngay từ khi loại hình QTD hình thành, các
nhà sáng lập đã đề cao quan điểm “Không vì lợi nhuận, không làm từ thiện, mà
là phục vụ”.
Hai là, xây dựng mô hình hệ thống phải đảm bảo phát huy tính liên kết
chặt chẽ thông qua: Các nội dung hoạt động của hệ thống (Điều hòa vốn khả
dụng; Trích lập và quản lý chung các loại quỹ; Xây dựng hệ thống quy tắc,
chuẩn mực cho toàn hệ thống; …); Cơ cấu tổ chức của tổ chức có phân định rõ
chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận; Và sự thống nhất về mục tiêu hoạt động,
cơ cấu tổ chức, nội dung hoạt động, biểu tượng của loại hình, ….
Ba là, phát huy được chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan điều phối hệ
thống (QTDND đầu mối) và các cơ chế liên kết. QTDND đầu mối phải luôn
thực hiện tốt vai trò điều hòa vốn, bên cạnh đó còn phải đảm bảo thực hiện tốt
vai trò tìm kiến nguồn vốn trên thị trường trong và ngoài nước để cung cấp các
sản phẩm dịch vụ với giá cả phù hợp nhất cho các QTDNDCS.
Bốn là, cần phát huy vai trò, chức năng của các đơn vị hỗ trợ liên kết phát
triển, trong đó quỹ an toàn hệ thống là một trong những nhân tố quyết định đối
với việc đảm bảo sự an toàn cho các QTDND; sự phối hợp chặt chẽ giữa Tổ
62
chức kiểm toán và quỹ an toàn giúp cho mọi quá trình hỗ trợ, theo dõi việc củng
cố, chấn chỉnh hoạt động QTDND đạt hiệu quả cao hơn.
Năm là, có sự quản lý và giám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà
nước chuyên ngành đối với mọi hoạt động của QTDND.
Kết luận Chương 1
Kết quả nghiên cứu đã làm rõ một số những vấn đề lý luận về:
(i) Loại hình TCTDHT có tên gọi chung là QTDND với mục tiêu, nguyên
tắc hoạt động, đặc điểm và vai trò của nó trong nền kinh tế của mỗi quốc gia.
Trong đó đặc biệt nhấn mạnh: Mục tiêu của QTDND là “Tương trợ thành viên,
phát triển cộng đồng, nâng cao đời sống, phát triển kinh tế địa phương” dựa trên
nguyên tắc tự nguyện gia nhập và ra khỏi QTDND, quản lý dân chủ và bình
đẳng, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi, chia lãi bảo đảm kết hợp lợi ích của
thành viên và sự phát triển của QTDND và hợp tác và phát triển cộng đồng để từ
đó đưa ra khái niệm Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình TCTD hợp tác xã do các
thành viên gồm những pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình có cùng đặc điểm về
nơi cư trú, nghề nghiệp hoặc các đặc điểm chung khác tự nguyện thành lập.
QTDND được tổ chức, quản lý, kiểm soát bởi các thành viên theo tôn chỉ và
nguyên tắc HTX.
(ii) Từ việc đi sâu phân tích những quan điểm, những trường phái khác
nhau về phát triển bền vững nói chung và phát triển bền vững của loại hình
TCTDHT nói riêng; tác giả đã tổng kết được rằng QTDND được coi là PTBV
nếu duy trì được sự cân bằng giữa an toàn – sinh lời trong thời gian dài; phục
vụ lợi ích của thành viên; và gia tăng lợi ích cho cộng đồng, xã hội, môi trường;
Những nhân tố ảnh hưởng đến sự PTBV của hệ thống QTDND để từ đó
(iii) Lựa chọn được bộ chỉ tiêu đánh giá sự PTBV của hệ thống QTDND
gồm ba nhóm: định tính, định lượng và chỉ tiêu liên kết hệ thống.
63
(iv) Nghiên cứu kinh nghiệm về quá trình xây dựng và pháp triển của một
số mô hình TCTDHT thành công trên thế giới, từ đó rút ra một số bài học kinh
nghiệm cho việc PTBV hệ thống QTDND ở Việt Nam là: Hoạt động đúng mục
tiêu; Đảm bảo phát huy tính liên kết chặt chẽ; Phát huy được chức năng, nhiệm
vụ của Cơ quan điều phối hệ thống (QTDND đầu mối) và các cơ chế liên kết;
Cần phát huy vai trò, chức năng của các đơn vị hỗ trợ liên kết phát triển; Và phải
có sự quản lý và giám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên
ngành đối với mọi hoạt động của QTDND.
64
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN
CỦA HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN VIỆT NAM
2.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG QUỸ
TÍN DỤNG NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM
2.1.1. Sự hình thành của loại hình tổ chức tín dụng là hợp tác xã ở Việt Nam
2.1.1.1. Phong trào xây dựng và phát triển hợp tác xã tín dụng
Ở Việt Nam, loại hình TCTD là HTX thực tế đã được hình thành từ khi
Nhà nước Việt nam dân chủ cộng hoà ra đời, có tên gọi là Nha tín dụng sản xuất.
Khi đó Nhà nước đã chủ trương giải quyết nguồn vốn cho vay đối với nhân dân
(nhất là nông dân) để phát triển sản xuất, xoá đói giảm nghèo, với Sắc lệnh số
14/SL ngày 03/02/1947 của Chính phủ, Nha tín dụng sản xuất được ra đời.
Khi Ngân hàng Quốc gia Việt Nam thành lập năm 1951, cùng với việc
cho vay vốn ở khu vực nông thôn, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đã kết hợp với
cấp uỷ, chính quyền và nông hội ở các địa phương vận động nhân dân hợp tác
xây dựng các tổ vay mượn ở nông thôn nhằm mục tiêu tự điều hoà vốn, chống
nạn cho vay nặng lãi; Đến cuối năm 1954 đã có 860 tổ vay mượn (tiền thân của
HTXTD) được xây dựng và hoạt động ở địa bàn nông thôn.
Sau khi hoà bình lập lại, Ban Bí thư TW Đảng đã ra chỉ thị số 15/CT-TU
ngày 27/3/1956 về việc tổ chức xây dựng HTXTD ở nông thôn. Giai đoạn 1957 -
1965 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của loại hình TCTD này; tính đến
cuối năm 1965 đã có 5.737 HTXTD với trên 2 triệu xã viên ở hầu khắp các xã
trên miền Bắc. Giai đoạn này các HTXTD có vai trò tích cực trong phong trào
khôi phục phát triển kinh tế, xây dựng CNXH ở miền Bắc và phục vụ cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của toàn dân.
Sau năm 1975, phong trào HTXTD được phát triển mạnh ở các tỉnh phía
nam, thu hút được 60% số hộ nông dân tham gia, tính đến năm 1985, hầu hết các
xã ở trong nước đều có HTXTD với số lượng 7.160.
65
Trong các năm từ 1986-1990 khoảng 500 QTD ở đô thị được thành lập,
đưa tổng số lượng các TCTD lên tới 7.660; với tổng số nguồn vốn đạt trên 100 tỉ
đồng, doanh số cho vay đạt 2.000 tỉ đồng và dư nợ cho vay đạt 95 tỉ đồng.
Thực hiện chủ trương đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VI, hệ thống ngân hàng một cấp chuyển thành 2 cấp; trong đó,
NHNN Việt Nam thực hiện vai trò quản lý nhà nước về hoạt động tiền tệ, tín
dụng còn các NHTM thực hiện chức năng kinh doanh. Hoạt động của HTXTD
theo cơ chế cũ lúc này không còn phù hợp; mặt khác, do không chuyển hướng
hoạt động kịp thời theo cơ chế thị trường nên phần lớn các HTXTD phải ngừng
hoạt động hoặc giao dịch cầm chừng. Đến năm 1990 hầu hết các HTXTD phải
ngừng hoạt động, còn một số cùng với các QTD tự phát thành lập ở đô thị đã
bung ra kinh doanh thủ kiếm lời, bị mất khả năng thanh toán dẫn đến đổ vỡ dây
chuyền, gây tác hại to lớn đến nền kinh tế và ảnh hưởng an ninh xã hội.
Pháp lệnh NHNN và Pháp lệnh Ngân hàng, HTXTD và công ty tài chính
ra đời đã tạo điều kiện cho việc đổi mới căn bản hoạt động ngân hàng ở nước ta.
NHNN Việt Nam đã tiến hành xử lý điều chỉnh hoạt động đối với các HTXTD
và QTD đô thị. Trong số 7.160 HTXTD và gần 500 QTD đô thị chỉ có 62
HTXTD và 10 NHTM cổ phần nông thôn được điều chỉnh và cấp giấy phép hoạt
động trở lại; số còn lại phải tập trung thu hồi vốn trả nợ cho dân và tổ chức thanh
lý giải thể. Tuy nhiên, các HTXTD đã điều chỉnh cũng chỉ hoạt động cầm chừng
với quy mô nhỏ, tồn tại đơn lẻ ở một vài làng xã, không thể hiện được vai trò
tích cực đối với kinh tế xã hội và chưa lấy lại được lòng tin trong nhân dân.
Cũng trong thời kỳ này, Nhà nước chủ trương chuyển hoạt động của
ngành ngân hàng sang hạch toán kinh tế, chấm dứt thời kỳ “cho vay tiền Chính
phủ”. Các NHTM quốc doanh thực hiện hạch toán kinh doanh nhưng chưa kịp
chuyển đổi, nên đã lâm vào tình trạng thiếu vốn, thiếu tiền mặt nghiêm trọng,
dẫn đến việc xuất hiện tệ “phá rào” trong các tổ chức kinh tế “tự huy động vốn
để kinh doanh”. Nhất là từ khi Chính phủ ban hành Quyết định 217 thì các
TCTD đô thị ồ ạt ra đời. Các TCTD đô thị ra đời đã nhanh chóng huy động hàng
66
ngàn tỷ đồng, bằng cách đưa lãi suất lên cao để thu hút được nhiều vốn; Vào thời
điểm đó, nền kinh tế có mức lạm phát rất cao, các tổ chức kinh tế đã vay vốn của
TCTD với lãi suất trên 10%/tháng, có lúc có nơi lên đến 18%/tháng, trong khi
NHNN chưa kịp hình thành các cơ chế chính sách quản lý vĩ mô về lĩnh vực tiền
tệ, tín dụng ngân hàng. Khủng hoảng kinh tế trầm trọng, lạm phát tiếp tục tăng
cao, hàng loạt các tổ chức kinh tế làm ăn thua lỗ, phá sản không trả được nợ; Các
ngân hàng cổ phần, HTXTD và QTD đô thị mất khả năng thanh toán, … đã tạo
ra sự đổ vỡ dây truyền trên 500 TCTD đô thị vào cuối thập niên 80, rồi nhanh
chóng lây lan sang các HTXTD ở nông thôn; Các HTXTD nông thôn hầu như
ngừng hoạt động; Điều đó đã để lại không ít hậu quả nặng nề cho nền kinh tế và
một khoảng trống về cung cấp dịch vụ tiền tệ, tín dụng ở khu vực nông thôn.
Sau gần 40 năm xây dựng và phát triển, phong trào HTXTD tuy đã trải
qua nhiều giai đoạn thăng trầm nhưng nhìn chung đã có những đóng góp tích
cực trong việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội của đất nước; hoạt động
tiền tệ, tín dụng ở nông thôn và cũng để lại cho các nhà hoạch định, thiết kế mô
hình kinh tế những bài học kinh nghiệm sâu sắc khi xây dựng loại hình TCTD là
HTX ở Việt Nam sau này.
2.1.1.2. Sự cần thiết tổ chức lại các hợp tác xã tín dụng theo mô hình Quỹ tín
dụng nhân dân
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành TW Đảng lần thứ 5 khoá VII đã đề ra
những định hướng cơ bản về mục tiêu, phương hướng chính sách và các biện
pháp chủ yếu để tiếp tục đổi mới phát triển kinh tế xã hội nông thôn. Yêu cầu
phát triển nông nghiệp, nông thôn trong điều kiện đổi mới đòi hỏi lượng vốn
ngày càng lớn, mặc dù Nhà nước đã quan tâm tăng cường năng lực cho các
NHTM nhà nước, tạo điều kiện cho các loại hình TCTD khác phát triển, đồng
thời triển khai nhiều biện pháp tín dụng hỗ trợ thông qua các Quỹ xoá đói giảm
nghèo, Quỹ hỗ trợ tạo việc làm... nhưng vẫn chưa thể đáp ứng đủ vốn cho khu
vực này, vì vậy, nạn cho vay nặng lãi vẫn có “đất” phát triển.
67
Trong chiến lược phát triển kinh tế nói chung và chiến lược về nguồn lực
vốn nói riêng, Đảng và Nhà nước luôn nhấn mạnh nguồn vốn nước ngoài là quan
trọng nhưng nguồn vốn nội lực là quyết định; Trong khi đó nguồn vốn nhàn rỗi
trong khu vực nông thôn còn rất nhiều nhưng hoạt động của các TCTD thì chưa
đáp ứng được yêu cầu “huy động nguồn vốn tại chỗ để cho vay tại chỗ”.
Qua nghiên cứu, khảo sát mô hình tín dụng HTX ở một số nước phát triển
thì mô hình QTD của Canada đáp ứng tốt nhất những yêu cầu đặt ra và phù hợp
với điều kiện thực tiễn Việt Nam. Từ những lý do trên, việc thí điểm thành lập
QTDND và tổ chức lại các HTXTD cũ theo mô hình QTDND được thực hiện.
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân ở
Việt Nam
Theo Quyết định số 390/QĐ-TTg ngày 27/7/1993 của TT Chính phủ, cuối
năm 1993 hệ thống QTDND ở Việt Nam chính thức ra đời và đi vào hoạt động,
từ đó đến nay dưới tác động của kinh tế trong nước và quốc tế, cùng với sự biến
đổi không ngừng của các hình thái kinh tế, các vấn đề nhận thức, loại hình này
luôn có những thay đổi để tồn tại và phát triển theo hướng bền vững.
Căn cứ vào các chủ trương, chính sách liên quan có thể chia quá trình hình
thành và phát triển của hệ thống QTDND ở Việt Nam ra các giai đoạn như sau:
2.1.2.1. Giai đoạn thí điểm thành lập (1993 -1999)
Theo tinh thần Nghị quyết BCHTW lần thứ V, ngày 27/7/1993 Thủ tướng
Chính phủ đã có quyết định số 390/TTg cho phép triển khai thực hiện đề án thí
điểm thành lập QTDND (Đề án 390) bao gồm 3 loại hình, ở dạng 3 cấp:
QTDNDCS, QTDNDKV và QTDNDTW (Hình 2.1).
- Các QTDNDCS là tổ chức kinh tế HTX do các thể nhân và pháp nhân ở
nông thôn, tự nguyện góp vốn dưới hình thức cổ phần.
- Các QTDNDKV gồm các thành viên là QTDNDCS và một số thể nhân,
pháp nhân được NHNN Việt Nam chấp thuận, được thành lập theo tỉnh/thành
phố trực thuộc TW. QTDNDKV thực hiện việc điều hoà vốn, cho vay đối với
các QTDNDCS, đồng thời có nghĩa vụ tạo điều kiện về tiền mặt, thanh toán, bảo
68
hiểm tiền gửi, bảo lãnh tiền vay trong nội bộ các thành viên, cung cấp thông tin,
kiểm tra giám sát hoạt động và tổng hợp báo cáo định kỳ, báo cáo quyết toán của
các QTDNDCS thành viên trên địa bàn phụ trách.
...............
QTDNDTW
QTDNDKV
QTDNDKV
QTDNDKV
... .... ... .............. ....... QTDND CS
QTDND CS
QTDND CS
QTDND CS
QTDND CS
Ghi chú: Quan hệ góp vốn, gửi tiền, cho vay trong hệ thống QTDND
Hình 2.1. Sơ đồ hệ thống QTDND theo đề án thí điểm (Đề án 390)
- QTDNDTW gồm các thành viên là các QTDND khu vực và một số thể
nhân, pháp nhân được NHNN Việt Nam chấp thuận hoạt động theo quy định của
Pháp lệnh Ngân hàng, HTXTD và công ty tài chính, có chức năng điều phối,
quản lý thống nhất về cân đối và sử dụng vốn, bảo đảm khả năng chi trả và thanh
toán, làm đầu mối thanh toán bù trừ của toàn hệ thống QTDND, đồng thời quan
hệ với Chính phủ, NHNN Việt Nam, các TCTD khác và các tổ chức phi chính
phủ trong và ngoài nước, bảo đảm hoạt động phát triển của cả hệ thống.
Việc tổ chức triển khai thực hiện thí điểm thành lập QTDND theo kế
hoạch sẽ kết thúc vào cuối năm 1994, tuy nhiên vì nhiều lý do nên đã phải kéo
dài đến năm 1999 và được chia thành 2 giai đoạn:
a) Giai đoạn triển khai thí điểm (từ 8/1993 đến cuối 1994)
14 tỉnh được lựa chọn thí điểm thành lập QTDND là: Hà Tây, Thái Bình,
Hải Hưng, Nam Hà, Vĩnh Phú, Bình Định, Quảng Ngãi, Đắc Lắc, Đồng Nai,
Tiền Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Minh Hải; Một số tỉnh căn cứ
69
vào đặc điểm và điều kiện của địa phương được phép thành lập thêm loại hình
QTDND liên xã, liên phường, liên xã - phường, QTDND đô thị, QTDND doanh
nghiệp, QTDND ngành nghề.
Để đảm bảo cho QTDND hoạt động an toàn, hiệu quả, các địa phương
được lựa chọn để thành lập QTDND là những địa phương có đủ các điều kiện
theo quy định của NHNN; Đến 31/12/1994 đã có 179 QTDNDCS được thành
lập với 46.045 thành viên. Các QTDND được thành lập thí điểm được đánh giá
là hoạt động có hiệu quả; Đã khai thác được tiềm năng về vốn để cho vay tại
chỗ; Và hoạt động an toàn hơn so với HTXTD trước đây.
Kết quả bước đầu cho thấy việc thành lập QTDND ở Việt Nam là cần
thiết, là một giải pháp, một bước đi đúng hướng, đáp ứng được yêu cầu khai thác
tiềm năng về vốn tại chỗ phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
b) Giai đoạn triển khai mở rộng thí điểm (1995 - 1999):
Mô hình hệ thống QTDND giai đoạn này được mô tả ở hình 2.2.
QTDNDTW
Nơi không có QTD Khu vực
QTDNDKV
QTDNDKV
Chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố
Thể nhân, pháp nhân
Thể nhân, pháp nhân
QTDND CS
QTDND CS
QTDND CS
QTDND CS
Ghi chú: Góp vốn, thành lập Điều hòa vốn
Hình 2.2. Sơ đồ hệ thống QTDND (1995 -1999)
Ban chỉ đạo TW thí điểm thành lập QTDND đã tổ chức triển khai mở
rộng thí điểm tại 53 tỉnh. Ở những tỉnh có số lượng QTDNDCS tương đối lớn đã
70
tiến hành thành lập được 21 QTDNDKV; Trong giai đoạn đầu toàn bộ đội ngũ
cán bộ chủ chốt, cơ sở vật chất kỹ thuật ở các QTDNDKV đều do NHNN hỗ trợ,
ở các tỉnh chưa có điều kiện thành lập QTDNDKV chi nhánh NHNN thay thế
QTDNDKV đảm nhiệm điều hoà vốn và cho vay đối với các QTDNDCS.
QTDNDTW cũng được thành lập và đi vào hoạt động từ quý III/1995, với
thành viên là các QTDNDKV và các QTDNDCS (với những nơi không có
QTDNDKV). QTDNDTW làm nhiệm vụ đầu mối, điều hoà vốn hoạt động cho
cả hệ thống QTDND; Là đầu mối trong các quan hệ với Chính phủ, NHNN, các
bộ, ngành, các tổ chức trong, ngoài nước. NHNN cũng được Nhà nước giao
nhiệm vụ đại diện quản lý số vốn góp của Nhà nước 80 tỷ đồng và cử một số cán
bộ biệt phái sang đảm nhiệm các cương vị lãnh đạo chủ chốt ở QTDTW.
2.1.2.2. Giai đoạn củng cố, hoàn thiện và phát triển (2000 - 2012)
Sau 6 năm hình thành và phát triển, số lượng QTDND, số lượng thành
viên, tổng nguồn vốn hoạt động của hệ thống đã tăng lên nhanh chóng, đồng thời
cũng đã xuất hiện dấu hiệu mất an toàn, một số QTDND hoạt động xa rời mục
tiêu. Để tránh nguy cơ đổ vỡ hệ thống, với bài học “xương máu” của sự đổ vỡ
các HTXTD cuối những năm 80 trước đó, NHNN là cơ quan quản lý nhà nước
và là tác giả của Đề án thí điểm thành lập loại hình QTDND được Bộ Chính trị
giao thực hiện củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống QTDND (Chỉ thị số
57-CT/TW ngày 10/10/2000) với 2 mục tiêu căn bản là: (1) Khắc phục những
yếu kém tồn tại, củng cố chấn chỉnh về tổ chức và hoạt động nhằm bảo đảm an
toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống; (2) Hoàn thiện mô hình tổ
chức, hệ thống cơ chế chính sách quản lý và thanh tra giám sát hoạt động đối với
hệ thống QTDND; tạo điều kiện cho hệ thống hoạt động theo đúng quy định của
pháp luật, bảo đảm an toàn và PTBV. Thời kỳ này chia làm 2 giai đoạn như sau:
a) Giai đoạn củng cố, chấn chỉnh hệ thống QTDND (2000 - 2004)
Về mô hình hệ thống QTDND: Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết
định số 207/QĐ-NHNN ngày 20/3/2001 phê duyệt đề án tổng thể mở rộng mạng
lưới hoạt động của QTDNDTW, với nội dung chuyển đổi mô hình hoạt động của
71
hệ thống QTDND từ 3 cấp sang mô hình 2 cấp; Theo đó, QTDTW đã thực hiện
và hoàn thành việc sáp nhập 21 QTDNDKV thành chi nhánh QTDTW; đồng
thời cũng hoàn thành việc tiếp nhận nhiệm vụ điều hoà vốn cho các QTDNDCS
từ Chi nhánh NHNN ở các tỉnh/thành phố chưa có QTDNDKV về Chi nhánh
QTDTW.
QTDNDTW
Chi nhánh QTDNDTW
Chi nhánh QTDNDTW
QTDND CS
QTDND CS
QTDND CS
QTDND CS
QTDND CS
QTDND CS
Mô hình tổ chức hệ thống QTDND giai đoạn này được mô tả ở hình 2.3.
Góp vốn, thành lập Điều hòa vốn
Ghi chú:
Hình 2.3. Sơ đồ mô hình hệ thống QTDND (2000 – 2004)
Trong giai đoạn này, NHNN tập trung chỉ đạo hệ thống QTDND thực
hiện củng cố, chấn chỉnh nhằm nâng cao chất lượng, đảm bảo an toàn hoạt động,
tạo điều kiện cho hệ thống PTBV giai đoạn tiếp theo. Tạm dừng không cấp giấy
phép thành lập mới, tập trung củng cố chấn chỉnh hoạt động các QTDND hiện
có; Tiến hành phân loại QTDND theo mức: hoạt động tốt, bình thường; hoạt
động yếu kém nhưng có khả năng phục hồi; và hoạt động yếu kém phải thu hồi
giấy phép và thanh lý. Đến cuối giai đoạn, ở một số địa phương sau khi hoàn
thành củng cố, chấn chỉnh, nếu có nhu cầu thành lập QTDND và có đủ điều kiện
đã được Chính phủ cho phép tiếp tục thành lập mới.
72
Hàng loạt các văn bản pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của
QTDND ra đời, tạo hành lang pháp lý để thực hiện việc củng cố, chấn chỉnh hoạt
động của hệ thống QTDND.
b) Giai đoạn phát triển hệ thống QTDND (2004-2012)
Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 57, bên cạnh việc củng cố tổ chức hoạt động
các QTDNDCS, việc hoàn thiện mô hình hệ thống được chú trọng. QTDTW
gồm Hội sở chính tại Hà Nội và 26 chi nhánh, gần 70 phòng giao dịch.
Theo kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn đặt ra một vấn đề là cần phải sớm
hình thành nên một tổ chức đại diện cho quyền lợi cho hệ thống QTDND và các
thiết chế an toàn khác nhằm đảm bảo cho hoạt động của toàn hệ thống; Mô hình
tổ chức của hệ thống QTDND lúc này được thiết kế gồm: Tổ chức liên kết phát
triển hệ thống và Tổ chức kinh doanh phục vụ thành viên. Mô hình hệ thống
QTDND lúc này được mô tả ở hình 2.4.
b.1) Với các tổ chức trực tiếp kinh doanh phục vụ thành viên
- Với QTDNDCS: Đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành về cơ bản đã được
nâng cao hơn về trình độ chuyên môn và năng lực quản lý so với giai đoạn thí
điểm; cùng với đó công tác đào tạo cho cán bộ QTD cũng được đẩy mạnh.
NHNN đã ban hành các quy định về tiêu chuẩn đối với từng chức danh
của QTD. Nhà nước tiếp tục hỗ trợ đào tạo cho cán bộ QTD. Hầu hết các cán bộ
QTD đều được qua các khóa đào tạo nghiệp vụ và được cấp chứng chỉ.
- Với QTDTW: QTDTW đã bổ sung, sửa đổi điều lệ theo các nội dung
mới điều chỉnh tổ chức và hoạt động của hệ thống QTDND theo mô hình 2 cấp;
qua đó xác định rõ vai trò là tổ chức đầu mối liên kết kinh tế của hệ thống là:
Thực hiện công tác điều hòa vốn, hỗ trợ khả năng thanh khoản, cung cấp các sản
phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại cho các QTDNDCS; Và các hoạt động khác.
QTDTW bắt đầu triển khai nghiệp vụ cho vay đồng tài trợ trong hệ thống
QTDND, nhờ đó đã đáp ứng được nhu cầu vay lớn của khách hàng, đáp ứng tốt
hơn cho thành viên của QTDND để thực hiện các dự án kinh doanh lớn mà vẫn
đảm bảo an toàn cho QTDND.
73
HIỆP HỘI QTDND VIỆT NAM Ban chấp hành Hiệp hội
Cơ quan Thường trực của Hiệp hội
Công ty tin học trực thuộc Hiệp hội
Các Văn phòng đại diện trực thuộc Hiệp hội
TỔ CHỨC KINH DOANH PHỤC VỤ THÀNH VIÊN
QTDNDTW
Hội sở chính
Chi nhánh QTDTW
Chi nhánh QTDTW
Chi nhánh QTDTW
QTDND CS
QTDND CS
QTDND CS
QTDND CS
QTDND CS
..................
Ghi chú:
Quan hệ đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên Quan hệ hội viên Quan hệ chỉ đạo trực thuộc Quan hệ giao dịch gửi tiền, cho vay, thanh toán trong hệ thống Quan hệ thành viên
Hình 2.4. Mô hình hệ thống QTDND (2005 – 2012)
74
b.2) Hình thành tổ chức liên kết phát triển hệ thống
Tháng 10/2005, Hiệp hội QTDND Việt Nam đã được thành lập và chính
thức đi vào hoạt động từ tháng 01/2006; Hiệp hội QTDND Việt Nam ra đời là
một nội dung quan trọng trong việc hoàn thiện mô hình QTDND và đánh dấu
bước phát triển mới của hệ thống QTDND.
Với tư cách là một tổ chức xã hội nghề nghiệp tự nguyện của hơn 900
QTDNDCS và QTDNDTW, Hiệp hội đã phát huy vai trò là đầu mối tập hợp các
hội viên cùng hợp tác, hỗ trợ nhau trong hoạt động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của hội viên; đồng thời tổ chức liên kết giữa các hội viên giúp nhau hoạt
động có hiệu quả, góp phần đảm bảo cho hệ thống QTDND hoạt động an toàn,
lành mạnh và PTBV.
Hiệp hội QTDND Việt Nam cũng là tổ chức đại diện cho các QTDND hội
viên kiến nghị, đối thoại với các cơ quan chức năng, làm cầu nối với các tổ chức,
cá nhân trong và ngoài nước; tổ chức cung cấp các sản phẩm dịch vụ, hoạt động
hỗ trợ, thực hiện công tác đào tạo, tư vấn chăm sóc... cho hệ thống QTDND.
Thành lập Công ty tin học trực thuộc Hiệp hội, bước đầu triển khai thành
công đề án tin học hoá hoạt động của hệ thống QTDND thông qua việc xây dựng
và triển khai cài đặt phần mềm quản lý nghiệp vụ cho gần 170 QTDND.
b.3) Nghiên cứu và hình thành các thiết chế an toàn cho hệ thống
QTDND
Học tập kinh nghiệm xây dựng mô hình của các nước kinh tế phát triển,
NHNN chủ trương tìm kiếm sự hỗ trợ về nguồn vốn, kỹ thuật của các tổ chức
quốc tế và giao cho QTDTW chủ trì xây dựng Đề án thí điểm thành lập Quỹ an
toàn hệ thống. Thời gian đầu, QTDTW triển khai thí điểm thành lập Quỹ an toàn
hệ thống tại 3 tình: Thái Bình, Hưng Yên, An Giang.
Đánh giá chung về quá trình hình thành, củng cố, hoàn thiện và phát
triển hệ thống QTDND đến khi tổng kết thực hiện Chỉ thị 57:
Sau gần 20 năm hoạt động cho thấy, QTDND là loại hình TCTD hoạt
động rất phù hợp và hiệu quả ở khu vực nông thôn Việt Nam, đã có mặt tại hơn
75
10.000 xã, phường với số lượng QTD lớn và nhiều người dân tham gia. Hệ thống
QTDND không ngừng phát triển, các chỉ tiêu cơ bản tăng trưởng đều qua các
năm, kể cả những năm thực hiện củng cố, chấn chỉnh hoạt động; Các sản phẩm
dịch vụ từng bước được mở rộng; Vị trí uy tín, thương hiệu của QTDND ngày
càng được khẳng định ở trong nước cũng như quốc tế... Chất lượng hoạt động
của các QTDND được nâng lên đáng kể.
Mô hình tổ chức của hệ thống QTDND giai đoạn này được hoàn thiện,
trong đó đã bao gồm Tổ chức liên kết phát triển hệ thống và Tổ chức trực tiếp
kinh doanh phục vụ thành viên, về cơ bản, mô hình này gần giống với mô hình
hệ thống QTD Desjardins, Canada; Tuy nhiên, hệ thống QTDND vẫn còn thiếu
những bộ phận quan trọng như Tổ chức kiểm toán, Trung tâm đào tạo, Đây
cũng chính là lý do cơ bản khiến hệ thống QTDND chưa hội đủ các yếu tố cần
thiết để có thể hoạt động an toàn, hiệu quả và PTBV.
Tháng 6/2013, NHNN đã tiến hành tổng kết Chỉ thị số 57-CT/TW sau hơn
12 năm triển khai thực hiện; đồng thời QTDTW thực hiện chuyển đổi sang mô
hình NHHTX để phù hợp với Luật các TCTD năm 2010 và Quyết định 254/QĐ-
TTg về đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015” đáp ứng yêu
cầu NHHTX là ngân hàng của tất cả các QTDND.
Hệ thống QTDND có bước thay đổi về mô hình so với trước, đó là Hệ
thống QTDND chỉ còn các QTDNDCS – được gọi là QTDND. QTDNDTW tiến
hành chuyển đổi thành Ngân hàng Hợp tác xã, không còn có chung tên gọi và
biểu tượng của QTDND nữa.
2.1.3. Vai trò của Ngân hàng Nhà nước trong việc hình thành và phát triển
của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân
Hệ thống QTDND hình thành và phát triển bền vững, ngoài chủ trương
đúng đắn của Đảng, Nhà nước; sự ủng hộ tích cực của chính quyền địa phương
phải kể đến vai trò to lớn của NHNN qua việc thiết kế xây dựng, quản lý, giám
sát, hỗ trợ, nhất là thời kỳ thí điểm thành lập và giai đoạn củng cố, chấn chỉnh
đối với mọi hoạt động của hệ thống, vai trò này được thể hiện trên các mặt:
76
2.1.3.1. Nghiên cứu xây dựng và phát triển mô hình hệ thống
Cuối những năm 80 của thế kỷ trước, Chính phủ đã giao cho NHNN làm
đầu mối nghiên cứu, khảo sát tại một số quốc gia có mô hình TCTD là HTX phát
triển để lựa chọn, áp dụng vào thực tiễn Việt Nam. Qua nghiên cứu, khảo sát,
thấy rằng, loại hình TCTDHT do người dân tự nguyện thành lập, tự quản lý theo
nguyên tắc HTX là loại hình TCTD đáp ứng tốt nhất những yêu cầu đặt ra và
phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam, được đặt tên là QTDND.
Ban chỉ đạo trung ương thí điểm thành lập Quỹ tín dụng nhân dân (gọi tắt
là Ban chỉ đạo TW) ra đời do Thống đốc NHNN làm Trưởng ban, 1 Phó Thống
đốc NHNN làm Phó ban Thường trực và Thứ trưởng một số Bộ, Ngành là uỷ
viên. Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Ban chỉ đạo TW, sự vào cuộc của các đơn vị
chức năng ngành ngân hàng, Mô hình hệ thống QTDND đã được ra đời, trải qua
hơn 20 năm xây dựng và phát triển, hệ thống này liên tục có những thay đổi,
điều chỉnh thiện cho phù hợp với điều kiện thực tế. Trải qua các giai đoạn từ thí
điểm thành lập, đến củng cố, hoàn thiện và phát triển và hiện nay là tái cơ cấu và
chuyển đổi mô hình hoạt động.
2.1.3.2. Quản lý nhà nước về tổ chức bộ máy quản lý
- Về đơn vị chức năng quản lý nhà nước: Từ năm 1993 đến năm 2008,
NHNN đã thành lập Vụ các tổ chức Tín dụng hợp tác tham mưu cho Thống đốc
thực hiện chức năng quản lý, ban hành các cơ chế chính sách cho hoạt động của
QTDND, Thanh tra Ngân hàng là đơn vị giám sát hoạt động của hệ thống
QTDND; Tại các địa phương, Thống đốc NHNN ủy quyền cho Giám đốc
NHNN Chi nhánh các tỉnh/thành phố trực tiếp quản lý, giám sát tổ chức và hoạt
động của QTDND trên địa bàn; Ở địa phương có nhiều QTDND thì có riêng
Phòng Quản lý các TCTDHT để tham mưu giúp Giám đốc NHNN Chi nhánh
thực hiện nhiệm vụ quản lý các QTDND, ở địa phương có số lượng QTDND ít,
nhiệm vụ này được giao cho bộ phận quản lý các TCTDHT nằm trong Phòng
Tổng hợp và quản lý các TCTDHT. Nhiệm vụ thanh tra, giám sát hoạt động của
các QTDND được trao cho Thanh tra NHNN Chi nhánh tỉnh, thành phố.
77
- Về cấp và thu hồi giấy phép: Thống đốc NHNN xem xét, cấp/thu hồi
giấy phép thành lập và hoạt động của QTDTW. Đối với các QTDNDCS, Thống
đốc NHNN ủy quyền cho Giám đốc NHNN Chi nhánh xem xét, cấp/thu hồi giấy
phép thành lập và hoạt động trong những trường hợp theo quy định tại Quy chế
do Thống đốc NHNN ban hành.
- Về chế độ thông tin báo cáo: Hàng tháng Phòng/bộ phận quản lý các
TCTDHT có trách nhiệm tiếp nhận và tổng hợp thông tin về tổ chức và hoạt
động của các QTDND trên địa bàn để trình Giám đốc NHNN Chi nhánh lập báo
cáo gửi về Vụ các Tổ chức Tín dụng hợp tác; Vụ có trách nhiệm tổng hợp cùng
với báo cáo hoạt động của QTDTW để phân tích, đánh giá và báo cáo, tham mưu
đề xuất về công tác quản lý hoạt động của hệ thống QTDND đối với Thống đốc.
Từ năm 2008 do có sự thay đổi về cơ cấu tổ chức của NHNN, Cơ quan
Thanh tra Giám sát Ngân hàng được giao trách nhiệm trực tiếp tham mưu cho
Thống đốc NHNN và tổ chức triển khai thực hiện công tác quản lý nhà nước đối
với hoạt động của hệ thống TCTD là HTX.
Với việc thiết kế mô hình ngày càng hoàn thiện và triển khai công tác
quản lý Nhà nước hết sức chặt chẽ của NHNN hệ thống TCTD là HTX ở Việt
Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ và bền vững.
2.1.3.3. Ban hành cơ chế chính sách
Ngay từ khi triển khai đề án thí điểm, để tạo môi trường pháp lý đảm bảo
cho QTDND hoạt động, NHNN đã phối hợp với các Bộ, Ngành chức năng trình
Chính phủ ban hành và ban hành theo thẩm quyền một hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động QTDND một cách chặt chẽ từ cấp phép, tổ
chức và hoạt động, kế toán, tài chính, thông tin báo cáo, thanh tra, kiểm soát...
Tuỳ vào từng nội dung mà văn bản đó sẽ do NHNN hay các Bộ, ngành chức
năng ban hành. Các văn bản này khi áp dụng vào thực tiễn nếu có những vướng
mắc, bất cập đều được nghiên cứu chỉnh sửa kịp thời, vừa tạo điều kiện thuận lợi
cho QTDND hoạt động, vừa đảm bảo đáp ứng yêu cầu quản lý nhờ đó mà hoạt
động của hệ thống QTDND ổn định và phát triển bền vững.
78
2.1.3.4. Về đội ngũ nhân sự chủ chốt và công tác đào tạo nguồn nhân lực
Xác định công tác nhân sự là vấn đề có vai trò quyết định đến sự thành
công của cả hệ thống nên NHNN luôn quan tâm đến công tác đào tạo, nâng cao
trình độ quản lý và nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ của hệ thống
QTDND. Từ giai đoạn thí điểm thành lập, NHNN đã tổ chức các khóa đào tạo
ngắn và dài hạn nhằm trang bị các kiến thức về quản trị, điều hành QTDND cho
đội ngũ cán bộ, trong đó trước hết tập trung vào cán bộ chủ chốt. Sau khi Hiệp
hội QTDND ra đời, NHNN đã giao cho Hiệp hội tiếp tục triển khai các khóa đào
tạo này; Đến nay hầu như toàn bộ đội ngũ cán bộ của gần 1.200 QTDND trên
toàn quốc đều đã được qua đào tạo và chỉ những cán bộ đã có chứng chỉ của
khóa học mới được xem xét bầu vào các vị trí lãnh đạo tại QTDND.
Từ giai đoạn thí điểm thành lập, NHNN đã hỗ trợ nhân sự chủ chốt cho hệ
thống QTDND. Để hỗ trợ QTDTW hoạt động đúng theo định hướng, Thống đốc
NHNN đã cử 1 Phó Thống đốc kiêm vị trí Chủ tịch HĐQT, đồng thời điều một
số cán bộ là lãnh đạo và chuyên viên của NHNN sang giữ các cương vị chủ chốt
tại QTDTW; NHNN Chi nhánh tỉnh/thành phố cũng đã cử các cán bộ lãnh đạo
và chuyên viên sang đảm nhiệm các vị trí chủ chốt tại Chi nhánh QTDTW.
Đến nay NHNN vẫn cử cán làm đại diện phần vốn của Nhà nước, làm
việc chuyên trách, đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo chủ chốt tại NHHTX như Chủ
tịch HĐQT, Thành viên HĐQT, Tổng Giám đốc, Trưởng BKS, …; Các vị trí
Phó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng của NHHTX cũng tuân thủ quy trình quy
hoạch, bổ nhiệm cán bộ của NHNN và do Thống đốc chấp thuận bổ nhiệm.
2.2. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG QUỸ
TÍN DỤNG NHÂN DÂN
Sau hơn hai mươi năm hình thành và phát triển, loại hình TCTDHT ở
Việt Nam đã 3 lần thay đổi mô hình, đến nay tên gọi “QTDND” chỉ còn gọi cho
các QTDND ở cấp cơ sở, QTDNDTW chuyển sang tên gọi là “Ngân hàng Hợp
tác xã”. Để có cơ sở đề xuất các giải pháp phát triển bền vững cho hệ thống
QTDND trong thời gian tới, tác giả tập trung nghiên cứu thực trạng tổ chức và
79
hoạt động của hệ thống QTDND, với sự hỗ trợ của NHHTX, cùng với cơ quan
đại diện cho quyền lợi của QTDND là Hiệp hội QTDND Việt Nam.
2.2.1. Tổ chức và hoạt động của các Quỹ tín dụng nhân dân
2.2.1.1. Tổ chức
Cơ cấu tổ chức của một QTDND thông thường được mô tả như hình 2.5.
Thành viên
Thành viên
Thành viên
Thành viên
Thành viên
Thành viên
ĐHTV (hoặc Đại hội đại biểu thành viên)
Hội đồng quản trị Ban kiểm soát
Giám đốc
Hành chính
Kế toán, ngân quỹ
Kinh doanh
Phòng Giao dịch
Điểm giao dịch
Đối với QTD có quy mô lớn
Kiểm soát Điều hành
Bầu Bổ nhiệm Giám sát
Ghi chú:
Hình 2.5. Cơ cấu tổ chức của một QTDND
a) Thành viên: Thành viên của QTDND bao gồm:
- Các cá nhân: là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành
vi dân sự đầy đủ, có hộ khẩu và thường trú trên địa bàn hoặc cán bộ, công chức
80
đang làm việc tại các tổ chức, cơ quan có trụ sở chính đóng trên địa bàn hoạt
động của QTDND.
- Hộ gia đình: Là hộ gia đình có hộ khẩu thường trú trên địa bàn hoạt
động của QTDND; các thành viên trong hộ có chung tài sản để phục vụ sản xuất,
kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình.
- Các pháp nhân: Là pháp nhân (trừ Quỹ xã hội, Quỹ từ thiện) đang hoạt
động bình thường và có trụ sở chính đặt tại địa bàn hoạt động của QTDND.
Hộ gia đình và các pháp nhân phải cử người đại diện hợp pháp, đáp ứng
đủ điều kiện là thành viên cá nhân để ký đơn xin gia nhập thành viên.
Để thành lập QTDND phải có tối thiểu 30 thành viên sáng lập.
b) Đại hội Thành viên: ĐHTV là cơ quan có quyền quyết định cao nhất
của QTDND. Tuỳ theo số lượng thành viên mà có thể tổ chức ĐHTV hoặc Đại
hội đại biểu thành viên; Đại hội toàn thể thành viên và Đại hội đại biểu thành
viên có nhiệm vụ, quyền hạn như nhau. Tiêu chuẩn đại biểu và trình tự, thủ tục
bầu đại biểu tham dự do Điều lệ QTDND quy định. Đại biểu thành viên được
bầu không được ủy quyền cho người khác tham dự Đại hội.
ĐHTV họp mỗi năm 1 lần, do HĐQT triệu tập trong vòng 90 ngày kể từ
ngày khoá sổ quyết toán năm. ĐHTV nhiệm kỳ (có trách nhiệm bầu HĐQT và
BKS theo nhiệm kỳ) sẽ được tổ chức cùng với Đại hội thường niên của năm đó.
Nhiệm kỳ của HĐQT do ĐHTV quyết định và được ghi trong Điều lệ, ít nhất là
02 năm và tối đa không quá 05 năm. ĐHTV bất thường do HĐQT hoặc BKS của
QTDND có văn bản yêu cầu triệu tập để quyết định những vấn đề vượt quá
quyền hạn của HĐQT hoặc BKS theo quy định của pháp luật hoặc NHNN yêu
cầu triệu tập trong trường hợp xảy ra sự kiện ảnh hưởng đến an toàn hoạt động
của QTDND.
c) Hội đồng quản trị: HĐQT là cơ quan quản trị QTDND, chịu trách
nhiệm trước ĐHTV và trước pháp luật về các quyết định của mình. Số lượng
thành viên HĐQT của mỗi nhiệm kỳ do ĐHTV quyết định nhưng không ít hơn 3
thành viên. Điều hành hoạt động của HĐQT là Chủ tịch HĐQT và cũng là người
đại diện theo pháp luật của QTDND; Chủ tịch HĐQT và các thành viên HĐQT
do Đại hội thành lập hoặc ĐHTV bầu trực tiếp theo thể thức bỏ phiếu kín. Thành
81
viên HĐQT không đồng thời là thành viên BKS, kế toán trưởng, thủ quỹ của
QTDND và không phải là cha, mẹ, vợ, chồng, con hoặc anh chị em ruột của họ.
d) Ban kiểm soát: BKS là cơ quan chịu trách nhiệm giám sát và kiểm tra
mọi hoạt động của QTDND theo pháp luật, quy định nội bộ, Điều lệ và Nghị
quyết, quyết định của ĐHTV, HĐQT; Nhiệm kỳ BKS theo nhiệm kỳ của HĐQT.
Trưởng ban và thành viên BKS QTDND do ĐHTV, Đại hội thành lập (đối với
trường hợp mới thành lập QTDND) bầu trực tiếp, có không ít hơn 03 thành viên,
trong đó phải có ít nhất 01 thành viên chuyên trách. Đối với QTDND có nguồn
vốn hoạt động từ 8 tỷ đồng trở xuống và có dưới 1.000 thành viên thì việc bầu
BKS hoặc chỉ bầu 1 kiểm soát viên chuyên trách do ĐHTV quyết định.
đ) Giám đốc và bộ máy giúp việc: Giám đốc là người điều hành cao nhất
của QTDND, chịu trách nhiệm trước HĐQT về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ
của mình. Giám đốc có thể là thành viên cá nhân của QTDND hoặc đi thuê. Về
nguyên tắc Giám đốc không được đồng thời là Chủ tịch HĐQT và phải đảm bảo
đáp ứng được các tiêu chuẩn theo quy định của NHNN. Giúp việc Giám đốc là
các Phó Giám đốc và các bộ phận hoặc phòng, ban.
Về cơ bản cơ cấu bộ máy của các QTDND bao gồm bộ phận hành chính, kế
toán ngân quỹ và kinh doanh. Đối với một số QTDND có quy mô lớn, hoạt động
liên xã, phường thì có Phòng Giao dịch hoặc điểm giao dịch. Các bộ phận này
thực hiện công việc theo nhiệm vụ được quy định tại Điều lệ hoặc Quy chế làm
việc của QTDND.
Tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm,... của các chức danh trên
được quy định tại Thông tư số 04/2015 ngày 31/3/2015 của Thống đốc NHNN
quy định về QTDND.
2.2.1.2. Thực trạng hoạt động kinh doanh của Quỹ tín dụng nhân dân
a) Các nghiệp vụ hoạt động:
- Huy động vốn: i/ Nhận tiền gửi của thành viên, tổ chức, cá nhân khác
bằng đồng Việt Nam; ii/ Vay vốn điều hòa theo quy chế do NHHTX Việt Nam
ban hành theo quy định; iii/ Vay vốn của TCTD (trừ QTDND khác), tổ chức tài
chính khác; iv/ Vay vốn từ NHHTX Việt Nam; v/ Và tiếp nhận vốn ủy thác cho
vay của Chính phủ, tổ chức, cá nhân trong nước.
82
- Hoạt động tín dụng: Về cơ bản, các QTDND thực hiện cho vay chủ
yếu đối với thành viên, và không được cho vay bảo đảm bằng sổ góp vốn. Tổng
mức cho vay của QTDND đối với một thành viên là pháp nhân không được vượt
quá tổng số vốn góp và số dư tiền gửi của pháp nhân đó tại QTDND vào thời
điểm quyết định cho vay và thời hạn cho vay không được vượt quá thời hạn còn
lại của tiền gửi. Với khách hàng là tổ chức, cá nhân không phải là thành viên, có
tiền gửi tại QTDND; Tổng số tiền cho vay không được vượt quá số dư của sổ
tiền gửi tại thời điểm quyết định cho vay và thời hạn cho vay không được vượt
quá thời hạn còn lại của sổ tiền gửi. Với các hộ nghèo không phải là thành viên,
có đăng ký hộ khẩu và thường trú trên địa bàn; Quy trình, thủ tục, hồ sơ cho vay
hộ nghèo thực hiện theo chế độ tín dụng hiện hành áp dụng đối với thành viên.
QTDND phải báo cáo ĐHTV các khoản cho vay đối với chủ tịch và các
thành viên khác của HĐQT, trưởng ban và các thành viên khác BKS, giám đốc
của QTDND phát sinh trước thời điểm họp ĐHTV; báo cáo NHNN chi nhánh
khi phát sinh các khoản cho vay đối với các đối tượng này.
Cùng với NHHTX Việt Nam cho vay hợp vốn đối với thành viên của
QTDND theo quy định của pháp luật.
Để quản lý hoạt động cho vay, QTDND phải ban hành quy chế nội bộ về
cho vay, quản lý tiền vay để đảm bảo việc sử dụng tiền vay đúng mục đích.
- Các hoạt động khác: i/ Mở tài khoản tiền gửi tại NHNN; ii/ Mở tài
khoản thanh toán tại NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; iii/ Gửi tiền tại
NHHTX Việt Nam để điều hòa vốn; mở tài khoản thanh toán để sử dụng dịch vụ
thanh toán tại NHHTX Việt Nam; iv/ Cung ứng dịch vụ chuyển tiền, thực hiện
các nghiệp vụ thu hộ, chi hộ cho các thành viên; v/ Cung ứng dịch vụ tư vấn về
ngân hàng, tài chính cho các thành viên; vi/ Nhận ủy thác và làm đại lý một số
lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, quản lý tài sản theo quy định của
NHNN; vii/ Làm đại lý kinh doanh bảo hiểm; viii/ Tham gia góp vốn thành lập
NHHTX Việt Nam.
b) Kết quả hoạt động của các QTDND
Loại hình QTDND từ khi hình thành đến nay trải qua nhiều lần chuyển
đổi mô hình, để đánh giá sự PTBV có tính hệ thống, tác giả đã thu thập tất cả số
83
liệu cơ bản về tình hình hoạt động của hệ thống qua các giai đoạn, tuy nhiên
cách tính và tổng hợp số liệu ở mỗi giai đoạn có sự khác nhau; Vì vậy, tác giả
tập trung phân tích một số chỉ tiêu chủ yếu tại các mốc thời gian: Năm 1994, là
năm hệ thống QTDND mới thành lập; Năm 1999, kết thúc giai đoạn thí điểm
thành lập và bắt đầu củng cố chấn chỉnh hoạt động; Năm 2004, sơ kết củng cố
chấn chỉnh, bước vào hoàn thiện mô hình với sự ra đời của Hiệp hội QTDND;
Năm 2012, tổng kết củng cố chấn chỉnh và hoàn thiện hệ thống QTDND và
QTDTW chuyển đổi thành NHHTX; và đến thời điểm nghiên cứu.
b.1) Huy động vốn: Tổng hợp kết quả huy động vốn của các QTDND
trong thời gian qua được trình bày ở bảng 2.1.
Kết quả tổng hợp tại bảng 2.1 cho thấy: Tổng nguồn vốn huy động được
của toàn hệ thống QTDND năm 2016 đạt 90.111,6 tỷ đồng, gấp 1.124 lần so với
năm 1994. Quy mô vốn bình quân/QTDND tăng trưởng khá ấn tượng qua các
năm, đặc biệt là giai đoạn cuối củng cố chấn chỉnh theo Chỉ thị 57; năm 1999,
nguồn vốn bình quân là 2,38 tỷ đồng, thì năm 2016 đạt 77,28 tỷ đồng (gấp 32,5
lần); trong đó vốn huy động bình quân tăng trưởng mạnh mẽ, từ 1,56 tỷ đồng
năm 1999 lên 65,88 tỷ đồng năm 2016 (gấp gần hơn 42 lần). Điều đó cho thấy,
mô hình QTDND có khả năng huy động vốn trong dân cư khá lớn.
b.2) Hoạt động tín dụng:
Kết quả tổng hợp tại bảng 2.2 cho thấy: Diễn biến dư nợ cho vay của hệ
thống tăng đều qua các năm, đặc biệt giai đoạn 2004 - 2016 dư nợ cho vay tăng
lên mạnh mẽ do đã qua giai đoạn củng cố, chấn chỉnh, hoạt động của các
QTDND đã an toàn hơn, hiệu quả hơn, từng QTDND đã chú trọng đến việc tăng
quy mô hoạt động, đáp ứng vốn ngày càng lớn hơn cho thành viên.
Tổng dư nợ của hệ thống năm 1994 là 68,69 tỷ đồng, tăng 1.023,7 lần đạt
70.317,4 tỷ đồng vào năm 2016; Quy mô dư nợ bình quân/Quỹ năm 1994 là
0,455 tỷ đồng, tăng 132,6 lần đạt 60,307 tỷ đồng vào năm 2015; Dư nợ cho vay
đối với mỗi thành viên tăng 22,7 lần (năm 1994 bình quân chỉ là 0,0016 tỷ đồng
thì năm 2016 là 0,0363 tỷ đồng).
84
ĐVT: Tỷ đồng
Bảng 2.1. Tình hình huy động vốn của các QTDND (1994 – 2016)
Năm
1 9 9 4
1 9 9 5
1 9 9 6
1 9 9 7
1 9 9 8
1 9 9 9
2 0 0 0
2 0 0 1
2 0 0 2
2 0 0 3
2 0 0 4
2 0 0 5
2 0 0 6
2 0 0 7
2 0 0 8
2 0 0 9
2 0 1 0
2 0 1 1
2 0 1 2
2 0 1 3
2 0 1 4
2 0 1 5
2 0 1 6
Chỉ tiêu
1 3
1 6
2 1
2 8
3 3
4 4
5 4
6 6
9 0
7 7
4
5
1
1
1
2
2
2
3
7
9
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Tổng nguồn vốn
6 3 2
6 7 4
1 7 6
1 0 1
9 7 2
7 7 5
9 7 4
7 0 2
1 1 1
6 4 5
4 4 8
8 0
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
7
3
4
7
5
8
9
0
6
4
7 3 7 6
8 5 3 0
1 3 3 3
4 7 4 4
8 5 7 2
2 9 0 5
6 7 8 3
9 5 9 1
5 7 3 8
2 9 6 7
4 0 8 5
1
2
1
1
1
1
2
2
3
3
.
.
.
.
.
.
.
.
Vốn điều lệ
2 4 4
3 0 8
1 3 7
1 5 3
1 5 8
1 7 3
2 0 0
3 8 8
4 5 7
6 1 7
7 7 8
1 0
4 7
9 9
7 8
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
0 0 5 4
2 5 4 2
5 5 2 6
8 8 1 0
2 7 2 8
6 7 7 6
5 0 2 3
1 0 1 9
5
1
2
1
1
9
1
8
9
7
9
4
6
9
0
1 1
1 4
1 8
2 4
3 0
3 9
4 9
6 0
8 1
7 0
4
5
1
1
1
2
2
3
6
8
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Vốn huy động
9 7 1
6 9 4
8 1 3
9 9 6
1 4 0
9 9 9
3 1 1
3 5 1
6 8 6
3 1 0
3 6 8
9 4 0
6 4
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
6
4
4
0
5
1
5
2
6
5
0 9 3 7
0 6 0 3
2 0 8 5
5 4 0 5
9 4 4 6
2 4 5 1
4 8 3 0
0 3 9 9
2 6 4 6
1 3 2 8
0
8
9
1 2
1 5
2 1
2 6
3 5
4 3
5 5
7 6
6 5
3
3
1
1
1
1
2
4
6
9
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Vốn nhận tiền gửi
3 2 9
3 2 9
1 3 7
0 2 0
4 9 8
4 8 4
8 1 4
8 1 8
7 0 9
2 7 2
6 6 5
9 0 3
5 2
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
4
6
1
6
9
8
4
1
7
2 0 7 7
9 4 4 8
1 8 9 1
5 0 5 4
7 1 3 5
9 5 2 3
3 7 0 3
7 6 7 9
2 5 6 2
3 3 4 1
0
8
6
6
1
1
1
2
2
3
3
4
4
5
4
4
4
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Vốn đi vay
8 8 6
2 7 5
3 0 4
3 5 1
4 3 9
5 3 1
6 6 9
1 2
9 5
3 0
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
1 1 5 5
4 9 6 7
8 7 6 6
6 3 7 4
3 6 5 0
4 8 3 8
8 5 8 9
1 2 0 8
5 0 0 2
8 2 6 7
5 3 6 7
8 6 8 4
6 0 0 8
0
0
9
4
2
6
6
3
9
7
1
1
1
1
1
2
1
2
.
.
.
.
.
.
.
.
Các loại vốn khác
3 9 9
4 8 4
1 2 8
1 6 3
1 8 7
2 5 9
3 3 3
6 4 3
8 1 7
7 1 1
3 2
9 2
9 8
4
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
0 4 3 4
2 0 1 1
0 5 5 2
0 5 2 1
9 3 5 0
1 9 9 4
0 6 4 9
3 8 3 7
5
6
6
6
8
2
7
3
8
5
6
6
1
8
1
1
1
1
1
1
1
1
1
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Số QTDND cơ sở (Quỹ)
1 5 1
5 3 4
8 1 9
9 4 0
9 7 7
9 6 4
9 0 6
9 5 9
8 8 8
8 9 7
9 0 5
9 1 7
9 3 8
9 8 6
0 1 5
0 3 7
0 5 7
0 9 5
1 3 2
1 4 5
1 4 6
1 6 6
1 4 8
1 0
1 3
1 6
2 0
2 6
3 1
3 9
4 8
5 8
7 7
6 7
5
6
0
0
1
1
1
2
2
2
4
7
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
Nguồn vốn/Quỹ
0 3
8 3
4 3
4 2
5 9
0 3
5 6
0 1
2 0
2 8
6 4
2 8
4 7
5 3
8 4
3 8
5 7
9 0
3 8
7 9
2 7
0 3
9 6
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
1
1
1
1
2
3
2
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
Vốn điều lệ/Quỹ
2 7
3 4
0 7
0 9
1 2
1 5
1 6
1 6
1 8
2 0
2 3
4 2
4 9
6 3
7 7
9 7
1 9
4 2
6 6
9 9
3 4
0 0
7 0
1 2
1 4
2 0
2 3
3 1
3 7
4 8
6 5
5 7
3
4
0
0
0
0
1
1
1
2
2
5
6
9
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
Vốn huy động tiền gửi/Quỹ
1 5
7 8
0 0
7 6
3 6
9 8
7 0
8 8
2 4
5 8
3 6
3 5
5 1
8 1
9 6
2 2
5 6
7 9
1 6
6 7
2 0
6 7
4 7
Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động của hệ thống QTDND của NHNN
85
Điều này cho thấy nhu cầu vay vốn của thành viên ngày càng được các
QTDND đáp ứng mức cao hơn, đồng thời thể hiện mức độ tiếp cận của các
QTDND cao hơn của các TCTD khác, hay khả năng cạnh tranh của QTDND đối
với nhóm đối tượng khách hàng ở vùng nông thôn, khách hàng thu nhập thấp
cao hơn so với các TCTD khác hoạt động trên cùng địa bàn.
Kết quả hoạt động kinh doanh của hệ thống QTDND từ khi thành lập đến
31/12/2016 như bảng 2.3 và hình 2.6
Số liệu tổng hợp tại bảng 2.3 và hình 2.6 cho thấy, từ khi được thí điểm
thành lập và phát triển mở rộng kết quả kinh doanh của hệ thống QTDND tăng
trưởng đều đặn, tuy nhiên đến năm 1999, một số QTDND hoạt động có biểu
hiện mất an toàn, từ năm 2000 bắt đầu thực hiện Chỉ thị 57 củng cố, chấn chỉnh
và hoàn thiện hệ thống QTDND cùng với sự hình thành của các tổ chức hỗ trợ
hệ thống, hoạt động của các QTDND an toàn và phát triển bền vững hơn. Chính
vì thế, từ năm 2008, lợi nhuận của hệ thống tăng trưởng mạnh mẽ, năm 2000 lợi
nhuận trước thuế chỉ là 43,1 tỷ đồng thì đến năm 2016 đạt 803 tỷ đồng, tăng hơn
ĐVT: Tỷ đồng
900.000 800.000 700.000 600.000 500.000 400.000 300.000 200.000 100.000 -
Lợi nhuận trước thuế
18,6 lần.
Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động của HTQTDND của NHNN
Hình 2.6. Diễn biến lợi nhuận của các QTDND (1994 – 2016)
86
ĐVT: Tỷ đồng
Bảng 2.2. Tình hình dư nợ cho vay của các QTDND (1994 – 2016)
1 9 9 4
1 9 9 5
1 9 9 6
1 9 9 7
1 9 9 8
1 9 9 9
2 0 0 0
2 0 0 1
2 0 0 2
2 0 0 3
2 0 0 4
2 0 0 5
2 0 0 6
2 0 0 7
2 0 0 8
2 0 0 9
2 0 1 0
2 0 1 1
2 0 1 2
2 0 1 3
2 0 1 4
2 0 1 5
2 0 1 6
Năm Chỉ tiêu
1 1
1 4
1 8
2 3
2 8
3 5
4 4
1 1
1 8
1 4
1
1
1
1
2
2
3
4
5
6
8
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Tổng dư nợ
7 1 6
1 4 2
6 1 8
8 5 1
7 5 1
9 5 5
8 8 6
7 1 6
6 1 8
1 4 2
3 8 4
6 8
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
8
5
3
6
1
1
7
8
3
5
0 0 6 1
3 0 8 3
6 1 3 3
9 6 9 1
3 4 5 1
5 5 9 1
0 8 9 1
0 4 9 6
0 8 7 7
4 3 3 0
2 0 9 4
6
7
1 1
1 4
1 8
2 3
2 8
3 5
4 4
1 1
1 8
1 4
1
1
1
2
2
3
4
5
6
8
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Nợ trong hạn
6 5 8
0 6 7
5 2 7
7 2 2
5 9 2
6 9 7
5 4 3
6 5 8
5 2 7
0 6 7
3 8 2
9 9 3
6 8
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
4
7
5
5
3
6
1
4
5
7
2 5 5 6
5 5 1 4
8 9 5 8
2 6 4 5
5 0 3 7
0 4 7 2
0 1 5 4
0 5 4 2
3 9 9 0
1 6 6 3
6
6
3
1 2
5 2
6 1
7 3
8 0
5 5
4 1
3 4
3 3
3 3
4 3
5 8
7 4
9 0
0
1
1 2 9
1 5 8
2 5 7
3 4 3
4 5 1
7 7 3
5 9 0
Nợ quá hạn
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
5 1
6 6
9 2
2 6
5 8
4 3
9 5
1 8
5 0
9 7
1 3
3 8
7 8
8 1
0 3
8 4
5 2
6 0
3 8
7 8
4 0
4 4
9 8
0
0
1
4
3
3
3
2
1
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
1
0
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
Tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ (%)
6 4
5 1
2 4
0 2
8 4
7 2
4 4
1 7
3 6
8 4
6 6
5 3
5 3
5 0
5 3
4 9
5 4
5 5
7 2
7 7
8 6
1 0
9 7
1
1
1
1
1
1
1
1
1
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Số QTDNDCS (Quỹ)
0 1 5
0 5 7
1 5 1
5 3 4
8 1 9
9 4 0
9 7 7
9 6 4
9 0 6
8 8 8
8 9 7
9 0 5
9 1 7
9 3 8
9 8 6
9 5 9
0 3 7
0 9 5
1 3 2
1 4 5
1 4 6
1 4 8
1 6 6
0
0
1
1
1
2
2
2
3
4
5
7
8
1 1
1 3
1 7
2 2
2 6
3 1
3 9
4 5
6 0
5 2
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
Dư nợ/Quỹ
4 5 5
7 2 0
2 2 9
3 9 2
6 5 1
0 4 3
4 4 5
8 2 5
4 7 9
5 1 5
6 2 2
0 1 5
7 5 2
8 8 3
9 3 4
9 5 4
5 6 5
2 5 7
7 6 2
2 0 2
7 0 3
3 0 7
9 1 0
1
1
1
1
1
1
1
1
1
2
1
1
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Số lượng thành viên (Thành viên)
0 2 9 9 8 7
0 9 8 7 5 4
2 0 9 0 4 2
3 4 9 8 0 4
5 0 6 7 7 1
5 8 3 0 9 7
6 3 3 8 1 1
7 0 7 2 9 3
9 3 7 9 7 3
0 8 1 4 1 3
9 6 6 5 4 0
3 7 8 9 7 8
5 3 5 6 3 5
6 4 6 7 0 1
7 2 7 0 9 8
7 9 7 0 6 9
8 0 7 5 4 6
8 5 0 7 8 1
7 8 3 2 7 1
9 6 7 7 5 5
1 5 3 9 0 1
9 1 1 9 2 6
4 3 6 4 5
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
,
Dư nợ/Thành viên 0
0 0 2
0 0 3
0 0 3
0 0 2
0 0 3
0 0 3
0 0 3
0 0 4
0 0 4
0 0 5
0 0 6
0 0 7
0 1 0
0 1 0
0 1 2
0 1 5
0 1 8
0 2 1
0 2 5
0 2 7
0 3 6
0 2 9
0 0 3
Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động của hệ thống QTDND của NHNN
87
ĐVT: Tỷ đồng
Bảng 2.3. Tình hình thu nhập của các QTDND (1994 – 2016)
Năm
1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016
Chỉ tiêu
80 448 1.133 1.474 1.857 2.290 2.678 2.959 3.574 4.738 5.853 7.297 9.408 13.633 16.674 21.176 28.102 33.972 44.776 54.975 66.702 77.645 90.112
Tổng tài sản
618 1.551 2.051 2.780 2.842 3.464 4.625 5.329 6.041
Vốn chủ sở hữu
10
48 100 137 153
158 174
78 200 244 308 389 458
618
779 1.005 1.254 1.553 1.881 2.273 2.678 3.102 3.502
Vốn điều lệ
3
14
38
36
41
50
43
60
75
91 113 140 169
165
184
229
321
462
561
626
661
725
803
Lợi nhuận trước thuế
Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động của HTQTDND của NHNN
88
2.2.1.3. Tình hình thực hiện các quy định về an toàn của các Quỹ tín dụng
nhân dân
Kết quả khảo sát các QTDND trên toàn quốc, tính đến thời điểm tháng
6/2016 tình hình vi phạm quy định về an toàn của các QTDND như sau:
- Vi phạm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu: 10 QTDND.
- Vi phạm tỷ lệ đầu tư, mua sắm TSCĐ > 50% vốn điều lệ và quỹ bổ sung
vốn điều lệ: 47 QTDND.
- Vi phạm tỷ lệ lỗ lũy kế > 50% giá trị thực vốn điều lệ và các quỹ dự trữ:
26 QTDND, trong đó có 16/26 đơn vị đã bị NHNN đặt vào tình trạng kiểm soát
đặc biệt; còn lại 10/26 đơn vị theo quy định tại Điều 146 Luật các TCTD đã đủ
điều kiện để đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt nhưng chưa bị đặt vào tình
trạng kiểm soát đặc biệt.
- Vi phạm tỷ lệ nợ xấu/ tổng dư nợ từ 3% trở lên: 64 QTDND, trong đó 27
đơn vị có tỷ lệ này trên 10%.
- Vi phạm tỷ lệ nợ nhóm 2 so với tổng dư nợ từ 5% trở lên: 19 QTDND.
- Vi phạm tỷ lệ nợ nhóm 5 so với tổng dư nợ từ 2,5% trở lên: 50 QTDND.
- Có 6 đơn vị vi phạm cả 2 chỉ tiêu tỷ lệ lỗ lũy kế > 50% giá trị thực vốn
điều lệ và các quỹ dự trữ và tỷ lệ nợ xấu/ tổng dư nợ >10%, có nguy cơ mất khả
năng thanh toán chưa bị NHNN đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt là: QTDND
Phú Nghĩa, TT Quốc Oai (Hà Nội); Kim Giang (Hải Dương); Đình Tổ (Bắc
Ninh); Trung Chính (Thái Bình); Châu Đức (Vũng Tàu).
2.2.2. Thực trạng của các tổ chức hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân
2.2.2.1. Ngân hàng Hợp tác xã
a) Chuyển đổi QTDTW thành NHHTX
Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Quyết định số 254/QĐ-TTg
về đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015” đã đưa ra mô
hình NHHTX. NHHTX có vai trò là ngân hàng đầu mối của các QTDND với
mục tiêu hoạt động chính là liên kết, bảo đảm an toàn của hệ thống thông qua
việc hỗ trợ tài chính và giám sát hoạt động của hệ thống QTDND.
89
Hoạt động chủ yếu của NHHTX là điều hòa vốn và thực hiện các hoạt
động ngân hàng đối với thành viên là các QTDND; ngoài ra còn có trách nhiệm
hỗ trợ các QTDND về hoạt động, về nghiệp vụ thông qua đào tạo, hướng dẫn
nghiệp vụ, hỗ trợ kiểm toán; tham gia xử lý đối với QTDND thành viên gặp khó
khăn hoặc có dấu hiệu mất an toàn; Quản lý tiền gửi điều hòa vốn của hệ thống
QTDND;... Để thực hiện được vai trò này, NHHTX phải đồng thời giải quyết hai
vấn đề: (i) Bản thân NHHTX phải đủ mạnh về quy mô, năng lực tài chính, trình
độ quản trị, công nghệ để đảm trách vai trò là ngân hàng đầu mối của hệ thống;
(ii) Có đủ quyền hạn để xử lý các mối quan hệ trong hoạt động giữa hai pháp
nhân (NHHTX và QTDND thành viên). Muốn vậy, NHHTX cần chủ động,
chuẩn bị nguồn lực, cơ chế, điều kiện để triển khai thực hiện tốt quyền, trách
nhiệm nhằm đảm bảo cho hệ thống phát triển vững mạnh, tập trung, thống nhất.
Ngày 26/11/2012, NHNN đã ban hành Thông tư số 31/2012/TT-NHNN
quy định về NHHTX trong đó có những quy định về quyền hạn và trách nhiệm
của NHHTX đối với các QTDND thành viên.
Kết hợp với việc hệ thống QTDND triển khai tổng kết thực hiện Chỉ thị số
57-CT/TW về củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống QTDND, QTDTW tiến
hành chuyển đổi sang mô hình NHHTX.
Xác định nhiệm vụ góp phần đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống
QTDND là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, hơn nữa hệ thống QTDND không
phải trích lập dự trữ bắt buộc như các NHTM nên NHHTX luôn quan tâm, xem
xét, giải quyết kịp thời cho vay hỗ trợ khả năng chi trả tiền gửi đối với những
QTDND gặp khó khăn về thanh khoản và luôn đảm bảo mức cho vay hỗ trợ chi
trả tối đa theo quy định.
NHHTX là ngân hàng của tất cả các QTDND, được tổ chức và hoạt động
để phục vụ ngày càng tốt hơn cho các QTDND thành viên, vì vậy, NHHTX hoạt
động ổn định, bền vững, sẽ chỗ dựa vững chắc cho cả hệ thống QTDND.
b) Cơ cấu tổ chức của NHHTX bao gồm:
- Thành viên: Thành viên của NHHTX bao gồm: QTDND (là thành viên
chủ yếu của NHHTX); Các tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động trên lãnh thổ
Việt Nam có nhu cầu tham gia NHHTX và đáp ứng các điều kiện theo quy định.
90
Các QTDND là thành viên NHHTX được tham gia hệ thống điều hoà vốn,
hỗ trợ thanh toán chi trả và được hưởng các dịch vụ chăm sóc hỗ trợ của hệ
thống liên kết tài chính mà NHHTX là tổ chức đầu mối nhằm mục tiêu nâng cao
hiệu quả, đảm bảo an toàn khả năng chi trả trong hoạt động của các QTDND.
Các pháp nhân khác tham gia QTDTW trước đây (là 4 NHTM Nhà nước)
với mục tiêu chủ yếu là góp phần hỗ trợ cho hoạt động của hệ thống, sau khi
chuyển đổi thành NHHTX từ giữa năm 2013, đã rút vốn và không còn tư cách
thành viên do vậy hiện nay NHHTX chỉ có thành viên là tất cả các QTDND.
Tuy nhiên do năng lực tài chính của hệ thống QTDND còn hạn chế, số vốn
do các QTDND đóng góp vào NHHTX mới chỉ chiếm tỷ trọng gần 1% tổng số
vốn điều lệ. Vì vậy trong những năm qua Nhà nước đã hỗ trợ vốn điều lệ cho
NHHTX (tương đương 98% tổng số vốn điều lệ) cho đủ mức vốn pháp định
3.000 tỷ đồng và giao NHNN quản lý số vốn này. Để quản lý số vốn nói trên và
định hướng chỉ đạo hoạt động của NHHTX, Thống đốc NHNN đã cử các công
chức NHNN sang quản lý vốn và nắm giữ các trọng trách như: Chủ tịch HĐQT,
Tổng Giám đốc, thành viên HĐQT chuyên trách, Trưởng BKS và thành viên
BKS chuyên trách tại NHHTX; Những người này là đại biểu đương nhiên tham
dự ĐHTV và tham gia quản trị, điều hành, kiểm soát NHHTX theo quy định tại
Điều lệ NHHTX và các quy định của pháp luật có liên quan.
- Đại hội thành viên: ĐHTV là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của
NHHTX. Do có nhiều thành viên (gần 1.200 QTDND) nên NHHTX phải tổ
chức Đại hội đại biểu thành viên; việc bầu đại biểu đi dự Đại hội đại biểu do
Điều lệ NHHTX quy định nhưng đảm bảo luân phiên để trong 1 nhiệm kỳ (5
năm) QTDND thành viên nào cũng được 1 lần tham dự Đại hội đại biểu thường
niên của NHHTX. Đại hội đại biểu thành viên và Đại hội toàn thể thành viên
(gọi chung là ĐHTV) có nhiệm vụ, quyền hạn như nhau.
ĐHTV thường niên họp mỗi năm 1 lần, do HĐQT triệu tập trong vòng 3
tháng kể từ ngày khoá sổ quyết toán năm. ĐHTV nhiệm kỳ (để bầu HĐQT và
BKS theo nhiệm kỳ) sẽ được tổ chức cùng với ĐHTV thường niên của năm đó.
ĐHTV bất thường do HĐQT hoặc BKS triệu tập để quyết định những vấn đề
91
vượt quá quyền hạn của HĐQT hoặc BKS; hoặc NHNN yêu cầu triệu tập trong
trường hợp xảy ra sự kiện ảnh hưởng đến an toàn hoạt động của NHHTX.
Mọi quyết định của NHHTX được thông qua khi có hơn 1/2 tổng số đại
biểu tham dự Đại hội biểu quyết tán thành; tuy nhiên việc quyết định sửa đổi
điều lệ, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, mua lại, giải thể NHHTX phải có ít nhất
3/4 tổng số thành viên tham dự Đại hội biểu quyết tán thành. Việc biểu quyết tại
ĐHTV không phụ thuộc vào số vốn góp hay chức vụ của thành viên trong
NHHTX; mỗi thành viên hoặc đại biểu thành viên chỉ có một phiếu biểu quyết.
- Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản trị NHHTX, chịu trách nhiệm
trước ĐHTV và trước pháp luật về các quyết định của mình. Số lượng thành viên
HĐQT của mỗi nhiệm kỳ do ĐHTV quyết định nhưng không ít hơn 3; nhiệm kỳ
của HĐQT là 5 năm và được ghi trong Điều lệ. Điều hành hoạt động của HĐQT
là Chủ tịch HĐQT và cũng là người đại diện theo pháp luật của NHHTX. Thành
viên HĐQT phải là người đại diện hợp pháp của thành viên NHHTX (trừ những
người do Thống đốc NHNN cử làm người đại diện quản lý vốn hỗ trợ của Nhà
nước tại NHHTX), có phẩm chất, đạo đức tốt, có tín nhiệm, có năng lực quản lý
và hiểu biết về hoạt động ngân hàng; Thành viên HĐQT không đồng thời là
thành viên BKS, kế toán trưởng, thủ quỹ của NHHTX và không phải là cha, mẹ,
vợ, chồng, con hoặc anh chị em ruột của họ.
HĐQT của NHHTX gồm có 7 thành viên, trong đó có 4 thành viên do
Thống đốc NHNN cử sang đại diện phần vốn của nhà nước, làm việc chuyên
trách và được ĐHTV bầu giữ chức danh Thường trực HĐQT theo quy định; 3
thành viên đại diện cho các QTDND tại các vùng, miền trên cả nước:
+ 04 đại diện của NHNN bao gồm: 01 thành viên giữ chức chủ tịch
HĐQT, đại diện 25% phần vốn của Nhà nước; 01 thành viên giữ chức thành viên
HĐQT kiêm Tổng giám đốc NHHTX, đại diện 25% phần vốn của Nhà nước; 01
thành viên giữ chức thành viên HĐQT kiêm Phó Tổng giám đốc NHHTX, đại
diện 15% phần vốn của Nhà nước; 01 thành viên giữ chức thành viên HĐQT
chuyên trách NHHTX, đại diện 15% phần vốn của Nhà nước.
+ 03 thành viên còn lại là Chủ tịch HĐQT của 03 QTDND đại diện cho
các vùng, miền trên toàn quốc, làm thành viên HĐQT bán chuyên trách
92
NHHTX: 01 thành viên QTDND đại diện các tỉnh khu vực Miền Nam; 01 thành
viên QTDND đại diện các tỉnh Miền Trung và Tây Nguyên; 01 thành viên
QTDND đại diện khu vực Miền Bắc.
- Ban kiểm soát: BKS của NHHTX có 6 thành viên, trong đó có 02 thành
viên chuyên trách do Thống đốc NHNN cử sang để ĐHTV bầu giữ chức Trưởng
BKS và thành viên BKS chuyên trách (mỗi thành viên này đại diện 10% phần
vốn hỗ trợ của Nhà nước), 04 thành viên BKS bán chuyên trách đại diện cho các
QTDND được cơ cấu theo vùng, miền.
BKS có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát NHHTX hoạt động theo pháp luật,
quy định nội bộ, Điều lệ, Nghị quyết ĐHTV và quyết nghị của HĐQT; … Giám
sát an toàn trong hoạt động của NHHTX; Thực hiện kiểm toán nội bộ; Tiếp
nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo của các thành viên có liên quan đến NHHTX
theo thẩm quyền; Chuẩn bị chương trình và triệu tập ĐHTV bất thường khi
HĐQT không sửa chữa hoặc sửa không kết quả những vi phạm pháp luật, vi
phạm Điều lệ và Nghị quyết của ĐHTV mà BKS đã yêu cầu hoặc khi HĐQT
không triệu tập ĐHTV bất thường theo yêu cầu của 1/3 tổng số thành viên.
BKS được dự các cuộc họp HĐQT nhưng không tham gia biểu quyết;
được yêu cầu các bộ phận liên quan trong NHHTX cung cấp tài liệu cần thiết để
phục vụ công tác kiểm tra nhưng không được sử dụng các tài liệu này vào mục
đích khác; được sử dụng kết quả báo cáo và bộ máy kiểm tra, kiểm toán nội bộ
của NHHTX để thực hiện nhiệm vụ của BKS.
Trong khi thực hiện chức năng nhiệm vụ, BKS có trách nhiệm thông báo
cho HĐQT, báo cáo trước ĐHTV, NHNN về kết quả kiểm soát, kiến nghị
HĐQT, Tổng Giám đốc khắc phục những yếu kém, khuyết điểm, tồn tại trong
hoạt động của NHHTX.
- Tổng Giám đốc: Tổng Giám đốc là người điều hành cao nhất của
NHHTX, chịu trách nhiệm trước pháp luật và HĐQT về việc thực hiện quyền,
nghĩa vụ của mình. Tổng Giám đốc do HĐQT bổ nhiệm trong số thành viên
HĐQT (Tổng Giám đốc không được đồng thời là Chủ tịch HĐQT) và phải đảm
bảo đáp ứng được các tiêu chuẩn theo quy định của NHNN.
93
Giúp việc Tổng Giám đốc có các Phó Tổng Giám đốc và bộ máy giúp
việc của NHHTX.
Cùng với những quy định về tổ chức, nhân sự lãnh đạo của NHHTX nói
trên, những người không được đảm nhiệm chức vụ theo quy định tại Khoản 1
Điều 33 của Luật các TCTD năm 2010 sẽ không được bầu vào HĐQT, BKS
hoặc bổ nhiệm làm Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc của NHHTX.
Tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, ... của các chức danh trên
được quy định cụ thể tại Thông tư số 31/2012/TT-NHNN của Thống đốc NHNN
quy định về NHHTX.
- Tổ chức bộ máy của NHHTX gồm có:
+ Trụ sở chính với các phòng, ban và đơn vị thuộc trụ sở chính tại Hà Nội.
+ Công ty trực thuộc và đơn vị sự nghiệp.
+ Các Chi nhánh, Văn phòng đại diện.
+ Phòng giao dịch, Quỹ tiết kiệm.
Trong đó Trụ sở chính với các phòng, ban, các Trung tâm trực thuộc là cơ
quan đầu não của NHHTX, chịu trách nhiệm giúp HĐQT, BKS và Tổng Giám
đốc thực hiện quản trị, điều hành và kiểm soát mọi mặt hoạt động của toàn bộ
mạng lưới các Chi nhánh và các Phòng giao dịch, Quỹ tiết kiệm trực thuộc Chi
nhánh, văn phòng đại diện và các đơn vị sự nghiệp.
Hiện nay, tổ chức bộ máy của NHHTX gồm Trụ sở chính, 27 Chi nhánh
và 67 Phòng Giao dịch, Quỹ tiết kiệm trực thuộc Chi nhánh hỗ trợ phục vụ điều
hoà vốn, chăm sóc hỗ trợ cho gần 1.200 QTDND trên địa bàn 56/63 tỉnh, thành
phố. Trụ sở chính có 15 phòng, ban và 02 Trung tâm trực thuộc là Trung tâm
công nghệ thông tin, Trung tâm đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ. Các Trung tâm
này là đơn vị hạch toán trực thuộc, có con dấu riêng để hoạt động và được Thống
đốc NHNN chấp thuận đảm nhiệm chức năng, nhiệm vụ tương đối độc lập trong
bộ máy hoạt động của Trụ sở chính nhằm giúp cho NHHTX nâng cao hiệu quả
hoạt động hỗ trợ hệ thống QTDND.
Mặc dù tổ chức bộ máy của NHHTX đã được kiện toàn, bố trí sắp xếp lại
và đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay nhưng trong dài hạn
94
thì bộ máy tổ chức này cần phải được tiếp tục tăng cường về quy mô và nâng cao
chất lượng, hiệu quả hoạt động.
c) Hoạt động: Để đánh giá kết quả hoạt động của NHHTX, tác giả lấy số
liệu từ năm 2001 (năm bắt đầu triển khai thực hiện củng cố, chấn chỉnh và hoàn
thiện hệ thống QTDND theo Chỉ thị 57-CT/TW) đến 31/12/2016 và phân tích
thực trạng hoạt động của QTDTW từ 1994 đến 2012, NHHTX từ 2013 đến 2016
với góc độ hỗ trợ cho các QTDND thành viên.
- Tình hình nguồn vốn: Kết quả tổng hợp tại bảng 2.4, hình 2.7 cho thấy:
Tổng nguồn vốn hoạt động của NHHTX đến 31/12/2016 là 26.362 tỷ đồng, tăng
Đơn vị: tỷ đồng
30.000
25.000
20.000
15.000
10.000
5.000
-
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016
Tổng tài sản
gấp 29 lần so với cuối năm 2001.
Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động của QTDTW và NHHTX của NHNN
Hình 2.7. Tổng tài sản của QTDTW/NHHTX (2001-2016)
Cơ cấu nguồn vốn huy động, cơ cấu vốn điều lệ và quỹ được thể hiện ở hình 2.8,
2.9; trong đó:
+ Nguồn vốn huy động đến 31/12/2016 là 19.079 tỷ đồng, chiếm 72,37%,
tăng gấp 40,85 lần so với năm 2001 (hình 2.8). Điều đáng chú ý là từ năm 2011
trở về trước nguồn tiền gửi dân cư và tổ chức kinh tế luôn chiếm tỷ trọng lớn và
95
là nguồn huy động chủ yếu của QTDTW; năm 2012, hai khoản này tương đương
nhau; từ năm 2013 – QTDTW đã chuyển đổi thành NHHTX thì cơ cấu nguồn
vốn huy động có sự thay đổi rõ rệt, tiền gửi của QTDND thành viên tại NHHTX
có xu hướng tăng lên và chiếm tỷ trọng lớn nhất và tăng liên tục qua các năm
đến nay, cụ thể: Tiền gửi điều hoà của các QTDND đến 30/06/2016 là 12.116 tỷ
Đơn vị: tỷ đồng
25.000
20.000
15.000
10.000
5.000
-
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016
Tiền gửi dân cư &TCKT
Tiền gửi QCS
Tiềngửi TCTD khác
đồng chiếm 63,5%, gấp 168,3 lần so với năm 2001.
Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động của QTDTW và NHHTX của NHNN
Hình 2.8. Cơ cấu nguồn vốn của QTDTW/NHHTX (2001-2016)
Trong giai đoạn 2010 – 2012 nhiều QTDND khi gặp khó khăn được
QTDTW trực tiếp giúp đỡ, đã được khắc phục và hoạt động trở lại bình thường
nên các QTDND đã thấy rõ được vai trò và tác dụng của mối liên kết hệ thống;
mặt khác cơ chế điều hòa vốn của QTDTW và NHHTX ngày càng linh hoạt, tạo
điều kiện thuận lợi cho các QTDND gửi vốn tạm thời nhàn rỗi vì vậy các
QTDND đã gửi tiền điều hòa về NHHTX ngày càng nhiều.
96
Đơn vị: tỷ đồng
Bảng 2.4: Diễn biến nguồn vốn của QTDTW/NHHTX (2001 – 2016)
STT
Chỉ tiêu
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016
911
1.352
1.777
2.366
3.305
4.494
6.248
6.214
8.103
11.113 12.187 14.466
17.550
20.363 21.882 26.362
Tổng tài sản
194
204
216
734
1.530
1.946
2.415
2.561
2.663
2.695
3.579
3.733
1
169
173
181
186
Vốn chủ sở hữu
184
194
216
733
1.500
1.871
2.243
2.399
2.524
2.593
3.461
3.594
2
169
164
171
177
Vốn ĐL & Quỹ
112
112
150
622
1.373
1.721
2.024
2.025
2.005
2.154
3.000
3.025
2.1 Vốn điều lệ
114
111
111
111
73
82
66
111
127
151
219
374
519
439
461
570
2.2 Quỹ
55
53
60
66
3
467
788
1.068
1.369
2.130
2.846
4.500
3.985
4.565
6.057
6.564
9.298
10.879
14.208 15.708 19.079
Vốn huy động
3.1
245
360
556
803
1.116
1.431
2.031
2.992
3.377
3.919
3.819
4.664
4.824
4.740
4.046
3.944
Tiền gửi dân cư &TCKT
72
96
217
238
244
354
673
813
716
1.363
2.096
4.634
5.355
8.968 10.193 12.116
3.2 Tiền gửi QCS
150
332
295
329
770
1.061
1.797
181
472
775
650
700
500
1.470
3.020
-
34.3 Tiền gửi TCTD khác
4
247
341
465
716
823
1.223
1.138
1.201
1.842
2.826
2.804
2.195
3.250
1.147
768
1.841
Vốn vay
4.1 Vay trong nước
26
56
25
150
247
98
714
1.450
900
1.100
1.147
-
768
1.841
102
429
566
4.2 Vay nước ngoài
221
285
440
891
1.103
1.128
1.376
1.904
2.195
1
721
794
94
5
28
50
63
394
295
367
593
882
970
533
507
956
559
158
221
Vốn khác
Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động của QTDTW và NHHTX từ 2001 – 2016 của NHNN
97
Tuy nhiên, cũng cần phân tích theo khía cạnh khác đó là, từ năm 2013 đến
nay nhu cầu vay NHHTX của QTDND thành viên ít, trong khi nguồn vốn nhà
rỗi các QTDND gửi tại NHHTX tăng cao dẫn tới tình trạng nguồn vốn tại
NHHTX nhiều, trong khi cho vay doanh nghiệp và cá nhân chỉ trong hạn mức
tín dụng được NHNN cho phép và không được sử dụng nguồn vốn này để mua
trái phiếu, kỳ phiếu (do quy định tại Thông tư 36/2014/TT-NHNN), đã tạo sức
ép lớn khi NHHTX phải chịu lỗ do nhận tiền gửi của các QTDND với lãi suất
tiền gửi cao hơn so với lãi suất tiền gửi huy động dân cư có kỳ hạn tương đương
Đơn vị: tỷ đồng
4.000
3.500
3.000
2.500
2.000
1.500
1.000
500
-
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016
Vốn điều lệ
Quỹ
nhưng lại phải gửi liên ngân hàng với lãi suất thấp.
Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động của QTDTW và NHHTX của NHNN
Hình 2.9. Cơ cấu vốn điều lệ và quỹ của QTDTW/NHHTX (2001-2016)
+ Đến 31/12/2016, vốn điều lệ của NHHTX chiếm 11,47% trong tổng tài
sản, tăng gấp 26,5 lần so với năm 2001, riêng năm 2013 giảm 0,99% so với cuối
năm 2012 do 4 NHTM nhà nước rút vốn và xin ra khỏi thành viên; Cơ cấu vốn
điều lệ chủ yếu là vốn hỗ trợ của Nhà nước (chiếm 99,5%), vốn góp của
QTDND thành viên chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong vốn điều lệ.
Năm 2015, được Chính phủ cấp 400 tỷ đồng và từ nguồn vốn nội lực,
NHHTX đã có nguồn vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng đủ yêu cầu mức vốn pháp định.
98
- Tình hình sử dụng vốn: Kết quả tổng hợp tại bảng 2.5 và hình 2.10 cho
thấy, tổng dư nợ cho vay của NHHTX đến 30/6/2016 là 18.195 tỷ đồng, chiếm
69% tổng sử dụng vốn, tăng gấp 24,96 lần so với 31/12/2001; dư nợ cho vay của
QTDTW/NHHTX tăng đều hàng năm. Dư nợ cho vay các QTDND năm 2016 là
4.866 tỷ đồng, tăng gấp 9 lần so với năm 2001. Năm 2013 là 5.803 tỷ đồng, tăng
đột biến là 32,13% so với năm 2012, nguyên nhân là do năm 2013 QTDTW mới
chuyển thành NHHTX đã phát huy tốt vai trò ngân hàng đầu mối của hệ thống.
Từ năm 2014 đến nay dư nợ cho vay các QTDND giữ ở mức ổn định, tăng
Đơn vị: tỷ đồng
20.000
18.000
16.000
14.000
12.000
10.000
8.000
6.000
4.000
2.000
-
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016
Cho vay trong HT
Cho vay ngoài HT
không nhiều.
Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động của QTDTW và NHHTX của NHNN
Hình 2.10. Tổng dư nợ của QTDTW/NHHTX (2001 – 2016)
Để khắc phục tình trạng suy giảm cầu tín dụng, trong giai đoạn 2013-
2015, NHHTX đã tăng cường phát triển các sản phẩm dịch vụ theo hướng phối
hợp chặt chẽ giữa NHHTX và QTDND nhằm cung cấp các sản phẩm phù hợp,
phục vụ thành viên và người dân trên địa bàn, đẩy mạnh sản phẩm cho vay hợp
vốn, cho vay đồng tài trợ với QTDND; Đồng thời, NHHTX luôn tư vấn cho các
QTDND về công tác điều hành vốn, huy động vốn với kỳ hạn và lãi suất hợp lý,
phù hợp với nhu cầu tăng trưởng tín dụng, giảm bớt những rủi ro về kỳ hạn và
99
lãi suất cho cả QTDND và NHHTX. Bên cạnh đó để hoạt động kinh doanh hiệu
quả và có lãi nhằm thực hiện tốt hơn vai trò tổ chức đầu mối, QTDTW đã phải
đẩy mạnh cho vay khách hàng không phải là các thành viên.
+ Về chất lượng tín dụng, tỷ lệ nợ xấu của QTDTW/NHHTX qua các năm
đều giữ mức thấp (dưới 4%); Trong năm 2012, trước tình hình nợ xấu gia tăng,
NHHTX đã quyết liệt triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm tháo gỡ nợ xấu như:
cơ cấu lại nợ, đôn đốc, thu hồi nợ, tăng cường giám sát, nâng cao chất lượng tín
dụng... nhờ đó, đến 31/12/2013 nợ xấu giảm còn 327 tỷ đồng, chiếm 2,36% tổng
dư nợ và tiếp tục giảm cho những năm sau. Đến năm 2016 là 242 tỷ đồng chiếm
1,33% tổng dư nợ. Chất lượng tín dụng, tỷ lệ nợ xấu của QTDTW/NHHTX qua
Đơn vị: %
4,00
3,50
3,00
2,50
2,00
1,50
1,00
0,50
-
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016
Tỷ lệ nợ xấu
các năm được mô tả tại hình 2.11.
Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động của QTDTW và NHHTX của NHNN
Hình 2.11. Tỷ lệ nợ xấu của QTDTW/NHHTX (2001 – 2016)
100
Đơn vị: tỷ đồng
Bảng 2.5: Tình hình sử dụng vốn của QTDTW/NHHTX (2001 – 2016)
STT
Chỉ tiêu
2001 2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016
911 1.352 1.777 2.366 3.305 4.494 6.248 6.214 8.274 11.347 12.504 14.466 17.155 20.363 21.882 26.362
Tổng sử dụng vốn
1
729 1.012 1.526 2.022 2.526 3.172 4.654 5.066 6.827
8.626
9.623 11.133 13.865 14.477 16.085 18.195
Dư nợ cho vay
2
803 1.000 1.367 1.713 2.402 2.238 2.986
3.588
3.810
4.392
5.803
4.532
4.579
4.866
2.1 Cho vay trong HT
605
542
723 1.022 1.159 1.458 2.252 2.828 3.841
5.039
5.813
6.741
8.061
9.945 11.506 13.329
2.2 Cho vay ngoài HT
406
187
19
21
73
74
96
155
198
243
280
420
327
286
258
242
21
15
Nợ xấu
3
2,06
2,08
1,26
1,01
2,89
2,33
2,07
3,06
2,90
2,82
2,91
3,77
2,36
1,98
1,61
1,33
Tỷ lệ nợ xấu
4
97
120
486
987
982
631
621
1.977
2.014
2.044
1.218
780
897
980
180
72
Tiền gửi tại TCTD
5
14
55
52
2
0
1
10
1
-
460
649
3.800
3.485
5.669
15
56
Đầu tư TP, TrP
6
45
46
81
116
227
186
374
155
87
119
147 95.708
113
82
19
184
Tiền gửi tại NHNN
7
18
21
29
31
60
109
91
132
163
175
189
200
219
10
6
259
Tiền mặt, NF
8
38
49
60
64
107
144
169
235
338
482
561
483
522
32
12
828
TSCĐ
9
40
53
71
123
220
113
184
221
278
54
526
552
586
22
17
531
10
Sử dụng khác
Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động của QTDTW và NHHTX của NHNN
101
- Cung cấp sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cho các QTDND thành viên:
NHHTX đa dạng hóa, mở rộng sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại như
thanh toán thẻ, tham gia thị trường liên ngân hàng… với xu hướng tăng dần tỷ
trọng các hoạt động này trong cơ cấu tổng tài sản của đơn vị và hướng tới cung
cấp, hỗ trợ ngày một nhiều hơn và tốt hơn cho các QTDND thành viên:
+ Về hoạt động thanh toán: Hoạt động thanh toán đã phục vụ tốt cho
nghiệp vụ của bản thân NHHTX, đồng thời hỗ trợ tích cực đối với các QTDND;
NHHTX đã thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo để triển khai sản phẩm dịch vụ
Ngân hàng điện tử (CF-eBank) cho các QTDND. Thông qua hệ thống CF-ebank
đã giúp cho các QTDND trong hệ thống cung ứng dịch vụ chuyển tiền phục vụ
thành viên và dân chúng ở khu vực nông thôn. Tính đến 30/06/2015 NHHTX đã
tổ chức 17 khóa đào tạo cho hơn 1.194 lãnh đạo và cán bộ của 453 QTDND; đã
kết nạp 344 QTDND vào hệ thống CF-eBank với số liệu giao dịch ngày càng
tăng qua các năm, trong năm 2014 giao dịch qua hệ thống thanh toán nội bộ với
doanh số chuyển tiền đi đạt 91.280 tỷ đồng (237.108 món), doanh số chuyển tiền
đến đạt 87.079 tỷ đồng (71.944 món); trong 6 tháng đầu năm 2015 giao dịch qua
hệ thống thanh toán nội bộ với doanh số chuyển tiền đi đạt 99.518 tỷ đồng
(207.829 món), doanh số chuyển tiền đến đạt 93.962 tỷ đồng (53.879 món).
+ Về phát triển thẻ thanh toán và thẻ tín dụng: NHHTX đang thí điểm
triển khai thẻ thanh toán đa năng với các tính năng như rút tiền mặt, thanh toán
chi trả dịch vụ, chuyển khoản, mua hàng hóa và được chấp nhận rộng rãi trên
14000 ATM và hệ thống POS của các ngân hàng trên toàn quốc. Hệ thống máy
POS của NHHTX đã được triển khai đến 27 Chi nhánh, 67 Phòng giao dịch và
kết nối đến 38 QTDND để phục vụ các giao dịch thẻ cũng như triển khai thí
điểm máy ATM kết nối với hệ thống liên minh thẻ. Các QTDND tham gia đã
được NHHTX đào tạo nghiệp vụ phát hành thẻ cho toàn bộ cán bộ chuyên trách.
NHHTX cũng đã cung cấp và lắp đặt các thiết bị POS nhằm hỗ trợ 38 QTDND
thực hiện các giao dịch thanh toán thẻ. Các giao dịch thẻ đều được xử lý nhanh
chóng, an toàn qua hệ thống nội bộ của NHHTX và các liên minh thẻ.
102
Đặc biệt triển khai Thông tư 04/2015/TT-NHNN của Thống đốc NHNN
quy định về QTDND, NHHTX đã thiết kế, xây dựng và hướng dẫn thực hiện
thống nhất trong toàn hệ thống mẫu thẻ thành viên đúng theo quy định cho các
thành viên QTDND.
- NHHTX thành lập và quản lý Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống
QTDND (Quỹ bảo toàn):
Triển khai thực hiện Thông tư 03/2014/TT-NHNN ngày 23/1/2014 của
NHNN quy định về Quỹ bảo toàn (Thông tư 03), NHHTX đã xây dựng Quy chế
quản lý và sử dụng quỹ theo quy định và quy trình của NHNN, hướng dẫn triển
khai thực hiện đến tất cả các QTDND thành viên; thành lập Ban quản lý quỹ
gồm 07 thành viên, trong đó 04 thành viên là đại diện của NHHTX, 03 thành
viên là đại diện của các QTDND để xây dựng, ban hành các quy chế, quy định
nội bộ và triển khai thực hiện các công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ nhằm hỗ
trợ bảo đảm an toàn cho hệ thống QTDND; Giúp việc cho Ban quản lý là cán bộ
do NHHTX cử sang để thực hiện các nhiệm vụ của quỹ. Từ khi hoạt động đến
nay toàn bộ các chi phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động của
Quỹ bảo toàn đều do NHHTX đài thọ.
Đến nay, NHHTX và tất cả các QTDND đều đã tham gia đóng phí bảo
toàn theo quy định và NHHTX cũng đã xem xét giải quyết cho vay hỗ trợ đối
với một số QTDND như Khánh Hòa ở Ninh Bình, Phú Lộc ở Phú Thọ, Hát Lót ở
Sơn La, Phước Hòa ở Bình Định, Kim Giang ở Hải Dương… Qua đó, góp phần
hỗ trợ bảo đảm an toàn chung cho hệ thống QTDND.
Như vậy, NHHTX đã thực hiện tốt nhiệm vụ mới đối với hệ thống QTDND
được quy định tại Thông tư 31, Thông tư 03, tạo nền tảng hỗ trợ tái cơ cấu hoạt
động của các QTDND; đồng thời chuẩn bị tốt các điều kiện tiền đề cho giai
đoạn tiếp tục tái cơ cấu để xây dựng NHHTX phát triển thành Ngân hàng đầu
mối, đủ mạnh về quy mô, năng lực tài chính, trình độ quản trị, công nghệ để
thực sự đóng vai trò làm đầu mối điều hòa, cân đối vốn trong hệ thống QTDND
và có khả năng chăm sóc, hỗ trợ có hiệu quả cho các QTDND về chuyên môn
nghiệp vụ, vốn và tài chính.
103
2.2.2.2. Hiệp hội Quỹ tín dụng nhân dân
a) Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của Hiệp hội QTDND được mô tả ở hình 2.12.
Hình 2.12. Sơ đồ tổ chức bộ máy của Hiệp hội QTDND Việt Nam
Dưới đây là mô tả chi tiết chức năng, nhiệm vụ và kết quả hoạt động của
các yếu tố chính cấu thành:
- Thành viên:
104
i/ Thành viên chính thức bao gồm các QTDND, NHHTX và các tổ chức,
cá nhân Việt Nam tán thành Điều lệ, tự nguyện và có đơn xin gia nhập, được
BCH Hiệp hội chấp nhận.
ii/ Thành viên liên kết bao gồm các tổ chức và cá nhân hoạt động tại
Việt Nam có nguyện vọng, nhưng chưa mong muốn hoặc chưa đủ điều kiện
trở thành thành viên chính thức, tự nguyện và có đơn xin gia nhập, được BCH
Hiệp hội xem xét, công nhận.
iii/ Thành viên danh dự gồm các tổ chức, cá nhân Việt Nam có uy tín,
kinh nghiệm, có đóng góp tích cực cho Hiệp hội, được BCH Hiệp hội xem xét,
công nhận.
Theo quy định hiện hành, thành viên liên kết và thành viên danh dự được
tham gia các hoạt động và tham gia Đại hội của Hiệp hội nhưng không được
tham gia ứng cử, đề cử vào các chức danh lãnh đạo của Hiệp hội.
Điều kiện để được tham gia thành viên của Hiệp hội là khá cởi mở nhằm
thu hút và tranh thủ tối đa sự quan tâm, ủng hộ của các tổ chức, cá nhân trong
và ngoài hệ thống; điều này cho thấy, mô hình này có tính xã hội hóa rất cao.
Tuy nhiên, trên thực tế, Hiệp hội mới chỉ thu hút được thành viên là các
QTDND và QTDNDTW (NHHTX sau này).
- Đại hội thành viên: gồm ĐHTV nhiệm kỳ hoặc ĐHTV bất thường
ĐHTV nhiệm kỳ được tổ chức dưới hình thức đại hội đại biểu, được tổ chức 5
năm/lần. ĐHTV bất thường được triệu tập theo đề nghị của Chủ tịch Hiệp hội
hoặc khi có ít nhất 2/3 tổng số ủy viên ban chấp hành Hiệp hội hoặc trên ½ tổng
số thành viên chính thức đề nghị, hoặc do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền yêu cầu với lý do chính đáng theo quy định của pháp luật.
- Ban chấp hành: do đại hội nhiệm kỳ bầu ra để lãnh đạo mọi hoạt động
của Hiệp hội trong thời gian giữa 2 kỳ đại hội. Số lượng ủy viên BCH do đại hội
Hiệp hội quyết định nhưng không dưới 9 thành viên và được bầu trong số hội
viên chính thức của Hiệp hội theo phương thức biểu quyết giơ tay hoặc bỏ
phiếu kín. Chủ tịch, Phó chủ tịch (trừ Phó chủ tịch kiêm TTK) và các ủy viên
BCH làm việc theo chế độ không chuyên trách, không hưởng lương nhưng được
hưởng thù lao công vụ và công tác phí do ban chấp hành thông qua.
105
- Ban kiểm tra: do đại hội Hiệp hội bầu ra để kiểm tra mọi hoạt động
của Hiệp hội, số lượng ủy viên của BKT do đại hội quyết định nhưng không
dưới 3 ủy viên được bầu trong số thành viên chính thức của Hiệp hội. BKT
hoạt động theo quy chế tổ chức và hoạt động do BCH ban hành.
- Cơ quan thường trực: có chức năng trực tiếp tham mưu cho ban chấp
hành và tổ chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Hiệp hội. Cơ quan thường
trực gồm có: Tổng thư ký, Phó Tổng thư ký; Văn phòng, các phòng, ban chuyên
môn; văn phòng đại diện; các tổ chức, đơn vị trực thuộc.
b) Chức năng và nhiệm vụ
Hiệp hội QTDND Việt Nam là tổ chức xã hội nghề nghiệp do các
QTDND tự nguyện thành lập nhằm mục đích tập hợp, động viên các thành viên
hợp tác, hỗ trợ nhau trong hoạt động, không vụ lợi, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của thành viên, đồng thời tổ chức liên kết giữa các thành viên nhằm hỗ
trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần đảm bảo cho hệ thống QTDND hoạt
động an toàn, lành mạnh và PTBV.
Tiêu chuẩn, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan trong bộ
máy của Hiệp hội được quy định tại Điều lệ Hiệp hội QTDND Việt Nam ban
hành kèm theo Quyết định số 133/2005/QĐ-BNV ngày 14/12/2005 của Bộ
trưởng Bộ Nội vụ.
c) Đánh giá vai trò của Hiệp hội là cơ quan đại diện quyền và lợi ích
hợp pháp của hệ thống QTDND
- Thực hiện vai trò cầu nối giữa Hội viên và các cơ quan chức năng của
Nhà nước để bảo vệ quyền và lợi ích của Hội viên
Hiệp hội phối hợp với NHHTX đề xuất, kiến nghị với các cơ quan quản lý
Nhà nước (NHNN, Liên mình HTX Việt Nam, các bộ ngành chức năng...) về
một số vấn đề liên quan đến hoạt động của hệ thống QTDND để bảo vệ quyền
lợi hợp pháp và chính đáng cho hội viên, như: Tham gia ý kiến đối với một số dự
thảo luật chuyên ngành liên quan đến hoạt động của hệ thống QTDND (Luật các
TCTD năm 2010, luật thuế, luật HTX, …; một số Thông tư điều chỉnh hoạt động
đối với TCTD là HTX); Đề xuất chính sách giảm thuế thu nhập doanh nghiệp
cho hệ thống QTDND xuống còn 20% (các TCTD phải nộp 25%) , từ 1/1/2016
106
thuế thu nhập doanh nghiệp giảm xuống còn 17% (các TCTD phải nộp 20%);
Kiến nghị NHNN về chính sách lãi suất huy động, lãi suất cho vay đối với hệ
thống QTDND, về địa bàn hoạt động liên xã, liên phường;... Hầu hết những kiến
nghị, đề xuất của Hiệp hội với các cơ quan quản lý Nhà nước đều được xem xét
và có sự điều chỉnh phù hợp với thực tiễn hoạt động của hệ thống QTDND.
- Về hoạt động tư vấn, hỗ trợ:
+ Tư vấn nghiệp vụ: Hiệp hội thực hiện tư vấn, giải đáp thắc mắc về công
tác quản trị điều hành, các vướng mắc trong nghiệp vụ cho vay, xử lý lãi suất
tiền gửi; việc xử lý tài sản thế chấp, quyền thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất
khi vay vốn của QTDND...; tư vấn về thuế, về tổ chức, về thủ tục đăng ký kinh
doanh, mở phòng giao dịch; Bảo hiểm xã hội; trợ cấp thôi việc...
+ Về hoạt động hỗ trợ QTDND hội viên: Hiệp hội đã tập hợp các văn bản
quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động của QTDND theo từng mảng
nghiệp vụ và in thành sách để các QTDND tra cứu, tham khảo trong quá trình
hoạt động. Để từng bước xây dựng thương hiệu riêng cho hệ thống QTDND,
Hiệp hội đã tiến hành thiết kế huy hiệu, logo của hệ thống QTDND để in trên các
pano, sản phẩm tặng khách hàng của QTDND.
- Về hoạt động đào tạo: Hiệp hội đã xác định công tác đào tạo là một trong
những nhiệm vụ trọng tâm cần được chú trọng triển khai; các hoạt động đào tạo
được tập trung vào 04 lĩnh vực chính: Đào tạo cơ bản (trung cấp, đại học vừa
học vừa làm), đào tạo chuẩn hóa các chức danh theo Quyết định số 31/2006/QĐ-
NHNN của Thống đốc NHNN; đào tạo các khóa ngắn ngày, bồi dưỡng kiến thức
nghiệp vụ; khảo sát học hỏi kinh nghiệm trong và ngoài nước: Hiệp hội đã phối
hợp với Học viện tài chính (ở phía Bắc), Trường Đại học ngân hàng thành phố
Hồ Chí Minh (ở phía Nam) và các chi nhánh NHNN đào tạo 83 học viên cho các
tỉnh phía Bắc, 40 học viên cho các tỉnh phía Nam; đối tượng là lãnh đạo và cán
bộ các QTDND; trình độ đào tạo là trung cấp, đại học vừa học vừa làm. Hiệp hội
cũng đã mở 35 khóa đào tạo cho hơn 3.000 lượt cán bộ QTDND trên cả nước về
các chuyên đề: Kiến thức pháp luật trong hoạt động Ngân hàng & QTDND;
Nghiệp vụ tín dụng, Marketing, kế toán & kho quỹ; ... Kết quả trên đã góp phần
tăng cường chuẩn hóa đội ngũ cán bộ theo quy định của NHNN, giúp cho công
107
tác quản trị điều hành có kết quả ở các QTDND hội viên và thúc đẩy hệ thống
thực hiện nghiêm túc các quy định về an toàn trong hoạt động.
Ngoài ra, với kinh phí hỗ trợ của Ngân hàng thế giới, Hiệp hội đã tổ chức
các khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức như lớp: kỹ năng Lãnh đạo QTDND;
thẩm định tín dụng; quản lý rủi ro; kiến thức pháp luật liên quan đến hoạt động
ngân hàng; Luật đất đai cho gần 700 học viên là Lãnh đạo các QTDND.
Bằng các nguồn kinh phí khác nhau, Hiệp hội đã tổ chức nhiều chuyến
khảo sát cho khoảng 500 cán bộ của hệ thống để học hỏi kinh nghiệm tại Trung
Quốc, Hàn Quốc, Liên bang Nga, Canada,... Tổ chức 03 chuyến khảo sát giao
lưu học hỏi trong nước cho hơn 80 cán bộ QTDND khu vực phía Bắc đi thăm và
làm việc với các QTDND tại các tỉnh Kiên Giang, Huế, Lâm Đồng.
- Về hoạt động thông tin, tuyên truyền: Website Hiệp hội đã có hơn 5,3
triệu lượt truy cập, trung bình có khoảng 3.000 lượt truy cập/ngày. Đến cuối năm
2015, Hiệp hội đã phát hành được 60 số bản tin với nội dung ngày càng phong
phú, có chất lượng, cập nhật đăng tải các thông tin liên quan đến hoạt động của
Ngân hàng, các nội dung giải đáp ý kiến của hội viên ... Cùng với các hoạt động
thông tin tuyên truyền nói trên, Hiệp hội đã phối hợp với NHHT và Thời báo
Ngân hàng thực hiện chuyên trang về QTDND và thực hiện tuyên truyền hoạt
động của QTDND thông qua các Báo trong và ngoài Ngành.
- Về hoạt động đối ngoại: Hiệp hội tích cực triển khai các hoạt động đối
ngoại để kêu gọi sự tài trợ của các tổ chức nước ngoài cho hoạt động của Hiệp
hội và hệ thống QTDND. Thông qua hoạt động đối ngoại, nhiều tổ chức quốc tế
như WB), Cơ quan phát triển quốc tế Desjardins - Canada (DID) đã có những trợ
giúp về nguồn vốn tín dụng, nguồn hỗ trợ kỹ thuật cho hệ thống QTDND.
Hiệp hội phối hợp cùng NHHTX với sự trợ giúp của DID đã xây dựng và
triển khai có hiệu quả dự án “Liên kết Nông thôn - Thành thị góp phần chống đói
nghèo” do Quỹ Bill & Melinda Gates tài trợ với mục tiêu nâng cao mức độ sử
dụng dịch vụ tài chính của người nghèo ở nông thôn, mở rộng phạm vi tiếp cận
và sử dụng các dịch vụ tài chính, tăng cường sử dụng các dịch vụ chuyển tiền và
sản phẩm thẻ liên kết trong hệ thống QTDND.
108
Hiệp hội cũng đã gia nhập thành viên của Hiệp hội các Định chế Tài chính
Cộng đồng Liên kết (Proxfin) là một mạng lưới quốc tế của 30 định chế tài chính
cộng đồng và Développement International Desjardins (DID) để tranh thủ sự hỗ
trợ của Tổ chức này đối với hệ thống QTDND Việt Nam;
Thông qua các hoạt động đối ngoại nói trên, vai trò của Hiệp hội, của
NHHT và của hệ thống QTDND đối với các đối tác quốc tế được nâng lên.
- Về mở rộng mạng lưới hoạt động và công tác phát triển hội viên: Hiệp hội
hiện có 04 Văn phòng đại diện ở các khu vực có nhiều QTDND (Hà Nội, Thái
Bình, Quảng Bình và TP.Hồ Chí Minh). Các Văn phòng đại diện đã triển khai
một số hoạt động cầu nối giữa các Hội viên với Cơ quan Thường trực để đưa
hoạt động của Hiệp hội sát gần hơn đối với QTDND hội viên. Tuy nhiên hoạt
động của Văn phòng đại diện chưa được đồng đều, chưa phát huy hết vai trò của
mình trong hoạt động nêu hiệu quả vẫn còn hạn chế.
- Thành lập và phát triển công ty tin học: Xác định công nghệ thông tin là
mũi nhọn để thực hiện có hiệu quả hoạt động của QTDND, Công ty tin học của
Hiệp hội đã phối hợp với đối tác xây dựng và phát triển phần mềm quản lý
nghiệp vụ QTDND (ITD-VAPCF) đáp ứng được yêu cầu giao dịch, quản lý điều
hành và thực hiện đầy đủ chế độ thông tin báo cáo theo quy định nhằm góp phần
đảm bảo cho hệ thống QTDND hoạt động an toàn, lành mạnh. Hiện nay, Công ty
đã triển khai cài đặt phần mềm ITD-VAPCF cho hơn 350 QTDND trên địa bản
30 tỉnh/thành phố.
Qua hơn 10 năm hoạt động, Hiệp hội đã thể hiện được vai trò của một
cơ quan điều phối hệ thống, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân cả khách quan
và chủ quan, hoạt động của Hiệp hội vẫn chưa đáp ứng được sự kỳ vọng của
các QTDND.
2.2.3. Quản lý nhà nước đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân
2.2.3.1. Hệ thống các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh hệ thống
Quỹ tín dụng nhân dân
Trước thực trạng hoạt động của một bộ phận QTDND chưa bám sát mục
tiêu hoạt động, có biểu hiện chạy theo lợi nhuận, các quy chuẩn về kiểm soát nội
109
bộ, kiểm toán nội bộ chưa được coi trọng đã tạo nhiều tiềm ẩn rủi ro trong hoạt
động và gây ảnh hưởng đến sự an toàn của hệ thống; Luật các TCTD đã quy
định rất rõ, cụ thể về việc tuân thủ hệ thống kiểm soát nội bộ (Ðiều 40), kiểm
toán nội bộ (Ðiều 41) và đặc biệt là về vấn đề kiểm toán độc lập (Ðiều 42) đối
với các TCTD, trong đó bao gồm cả các QTDND. Tất cả các quy định này
hướng tới mục tiêu củng cố các TCTD nói chung, các QTDND nói riêng phải
tăng cường công tác giám sát, kiểm soát nội bộ, qua đó tự nâng cao năng lực
quản trị điều hành hoạt động, quản trị rủi ro.
Từ những định hướng cơ bản nêu trên, đồng thời, triển khai Luật các
TCTD, Quyết định số 254/QÐ-TTg, NHNN tiếp tục ban hành một số văn bản
quy phạm pháp luật được xem là nền tảng pháp lý quan trọng thực hiện mục tiêu
dần hoàn thiện mô hình TCTD là HTX hoạt động đúng bản chất, mục tiêu, định
hướng đã đặt ra.
Hệ thống QTDND được tổ chức và hoạt động theo hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật tương đối đầy đủ đảm bảo cho hệ thống QTDND có được hành
lang pháp lý để phát triển an toàn, bền vững (Phụ lục 01), trong đó có một số
quy định quan trọng như:
- Thông tư số 39/2011/TT-NHNN ngày 15/12/2011 quy định về kiểm toán
độc lập đối với TCTD chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
- Thông tư số 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011 quy định về hệ thống
kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài, trong đó, đã có những quy định riêng biệt áp dụng đối với các QTDND
dựa trên những đặc thù của các QTDND.
Việc yêu cầu các QTDND tuân thủ Thông tư số 39/2011/TT-NHNN và
Thông tư số 44/2011/TT-NHNN là những bước đi có tính đồng bộ, thiết thực đối
với các QTDND trong việc tự hoàn thiện, nâng cao chất lượng nghiệp vụ, quy
trình tác nghiệp trong hoạt động của các QTDND vốn được đánh giá là khâu yếu
kém, bị lơ là của hệ thống QTDND hiện nay.
- Thông tư số 31/2012/TT - NHNN về Ngân hàng Hợp tác xã. Ðây được
xem là nền tảng pháp lý quan trọng cho sự ra đời NHHTX - tổ chức đầu mối liên
110
kết, hỗ trợ, chăm sóc hệ thống. Ngoài ra, NHNN còn ban hành Thông tư số
03/2014/TT-NHNN ngày 23/01/2014 Quy định về Quỹ bảo đảm an toàn hệ
thống QTDND.
- Thông tư 04/2015/TT-NHNN ngày 31/3/2015 Quy định về QTDND.
Thông tư này có một số nội dung mới như: QTDND hoạt động trong địa bàn một
xã, một phường, một thị trấn; Địa bàn hoạt động liên xã của QTDND phải là các
xã liền kề với xã nơi quỹ đặt trụ sở chính thuộc phạm vi trong cùng một
quận/huyện/thị/thành phố trực thuộc tỉnh; Tổng mức nhận tiền gửi từ thành viên
của QTDND tối thiểu bằng 50% tổng mức nhận tiền gửi của QTDND. Tổng mức
cho vay của QTDND đối với một thành viên là pháp nhân không được vượt quá
tổng số vốn góp và số dư tiền gửi... Thông tư cũng quy định tổng mức góp vốn
tối đa của một thành viên không được vượt quá 10% vốn điều lệ của QTDND tại
thời điểm góp vốn. Việc thay đổi các nội dung hoạt động theo Thông tư 04 giúp
cho các QTDND hoạt động ổn định và đúng tôn chỉ mục đích hơn. Bên cạnh đó,
việc chuyển tiếp đồng thời nhiều nội dung hoạt động cũng là dịp các QTDND
phải củng cố lại nhân sự; tăng cường công tác quản trị điều hành, rà soát lại các
nội dung hoạt động của quỹ nhằm hạn chế được các rủi ro trong hoạt động và
thực hiện tái cơ cấu hệ thống QTDND theo Đề án 254 của TT Chính phủ.
2.2.3.2. Bộ máy quản lý giám sát hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân
a) Giám sát của NHNN:
NHNN là cơ quan quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt động của hệ
thống QTDND. Trong đó, cơ quan Thanh tra Giám sát Ngân hàng là cơ quan
trực tiếp giám sát, thanh tra, quản lý hoạt động của NHHTX và NHHTX phải
lập, gửi báo cáo cho NHNN theo chế độ thông tin báo cáo hoặc báo cáo đột xuất
theo yêu cầu của NHNN. Cơ quan Thanh tra Giám sát Ngân hàng tại NHNN Chi
nhánh tỉnh, thành phố là đơn vị trực tiếp quản lý, thanh tra, giám sát hoạt động
của các QTDND trên địa bàn và các QTDND phải lập, gửi báo cáo cho NHNN
Chi nhánh tỉnh, thành phố theo chế độ thông tin báo cáo hoặc báo cáo đột xuất
theo yêu cầu của NHNN Chi nhánh.
Đối với việc thanh lý QTDND do Giám đốc NHNN Chi nhánh tỉnh, thành
phố ra quyết định thanh lý, giải thể sau quá trình kiểm soát đặc biệt mà không
111
thể phục hồi. Hội đồng thanh lý QTDND (thông thường gồm đại diện NHNN
Chi nhánh tỉnh, thành phố, đại diện BHTGVN, đại diện Chi nhánh NHHTX, đại
diện cấp ủy, chính quyền địa phương, đại diện QTDND bị thanh lý, giải thể) có
thể thay mặt cho các thành viên và chủ nợ của QTDND thực hiện các quyền
pháp lý đối với các vấn đề liên quan đến thanh lý QTDND.
Hằng năm, NHNN thực hiện xếp hạng các QTDND trên cơ sở đánh giá
thông qua các tiêu chí năng lực, quản trị, điều hành, kiểm soát để có cơ sở thanh
tra, giám sát hoạt động của các QTDND.
Trước ngày 30 tháng 4 hàng năm, NHNN chi nhánh, Cục Thanh tra, giám
sát ngân hàng hoàn thành việc xếp hạng QTDND của năm trước.
Trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả xếp hạng, NHNN chi
nhánh, Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng báo cáo Thống đốc NHNN kết quả
xếp hạng QTDND trên địa bàn.
Trước ngày 15 tháng 6 hàng năm, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng
chủ trì thẩm định, trình Thống đốc NHNN ban hành quyết định phê duyệt kết
quả xếp hạng các QTDND để gửi NHNN chi nhánh, Cục Thanh tra, giám sát
ngân hàng thực hiện giám sát theo quy định.
Trong thời gian 05 ngày kể từ ngày nhận được kết quả xếp hạng NHNN
chi nhánh, Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng thông báo kết quả xếp hạng cho
từng QTDND. Kết quả xếp hạng phải được QTDND quản lý theo chế độ mật.
b) Giám sát của NHHTX:
NHNN giao cho NHHTX thực hiện việc kiểm tra, giám sát hoạt động
nghiệp vụ, việc thực hiện các quy định về an toàn cũng như thực hiện kiểm toán,
hướng dẫn và hỗ trợ kiểm toán nội bộ của các QTDND (khi QTDND có yêu cầu)
nhằm góp phần đảm bảo cho các QTDND hoạt động an toàn và tuân thủ đúng
quy định của pháp luật.
Để triển khai công tác kiểm tra nội bộ, NHHTX có Phòng Kiểm tra nội bộ
tại Trụ sở chính và tại 27 Chi nhánh đảm bảo thực hiện kiểm tra, kiểm soát hoạt
động nội bộ đơn vị. Phòng Kiểm tra nội bộ Trụ sở chính hàng năm phải có kế
hoạch kiểm tra trực tiếp hoặc từ xa ít nhất mỗi năm 1 lần đối với các Chi nhánh
trực thuộc. Sau khi tiến hành kiểm tra, Đoàn kiểm tra có trách nhiệm thông báo
112
cho Ban Giám đốc, Hội đồng tín dụng của Chi nhánh được thanh tra và yêu cầu
có kế hoạch khắc phục, sửa chữa, đồng thời báo cáo HĐQT, Ban Tổng giám đốc
để biết, chỉ đạo.
Đối với các QTDND, NHHTX thực hiện việc kiểm tra, giám sát thông
qua việc phân tích đánh giá tình hình hoạt động tại các báo cáo và kiểm tra sử
dụng vốn vay. Còn việc thực hiện kiểm toán, hướng dẫn và hỗ trợ kiểm toán nội
bộ của các QTDND thì do Phòng Kiểm toán nội bộ trực thuộc BKS đảm nhiệm
và hướng dẫn các Chi nhánh NHHTX triển khai, hiện nay NHHTX đang triển
khai đồng bộ các giải pháp để thực hiện nhiệm vụ này kết hợp với việc phân loại,
xếp hạng tín dụng nội bộ đối với các QTDND cũng như triển khai các nhiệm vụ
thuộc trách nhiệm, quyền hạn của NHHTX được quy định trong Thông tư
31/2012/TT-NHNN.
c) Kiểm tra, giám sát của BHTGVN:
Chức năng giám sát của BHTGVN được quy định chi tiết tại Nghị định
89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 của TT Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi; Đến
năm 2012, Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 được ban hành trong đó,
chức năng giám sát của BHTGVN được quy định tại Khoản 10 Điều 13 là tổng
hợp, phân tích và xử lý thông tin về tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi nhằm
phát hiện và kiến nghị NHNN xử lý kịp thời những vi phạm quy định về an toàn
hoạt động ngân hàng, rủi ro gây mất an toàn trong hệ thống ngân hàng.
Từ 2002 đến nay, BHTGVN đã thực hiện giám sát thường xuyên, liên tục
đối với 100% các tổ chức tham gia BHTG (trong đó có hệ thống QTDND) và có
báo cáo theo định kỳ hàng tháng, quý, năm.
BHTGVN đã thành lập Ban chỉ đạo xử lý QTDND có vấn đề để kịp thời
báo cáo về tình hình hoạt động của QTDND mất khả năng thanh toán, có nguy
cơ đổ vỡ và ảnh hưởng tới các QTDND khác trên địa bàn lân cận.
Trong hoạt động giám sát các tổ chức tham gia BHTG vừa là đối tượng có
hoạt động bị giám sát, vừa là đối tượng được hưởng lợi từ kết quả giám sát.
Công tác giám sát góp phần hỗ trợ các tổ chức tham gia BHTG phát hiện rủi ro
trong hoạt động, kịp thời xử lý, hạn chế tối đa những tổn hại có thể xảy ra; Và
trong tương lai gần, việc tính phí BHTG theo mức độ rủi ro sẽ được triển khai,
113
khi đó việc phát hiện sớm rủi ro để thực hiện các biện pháp giảm thiểu sẽ giúp
các tổ chức tham gia BHTG giảm mức phí phải nộp.
Hoạt động kiểm tra các tổ chức tham gia BHTG là một trong những
nghiệp vụ quan trọng nhất của BHTGVN. Theo Luật BHTG, BHTGVN có trách
nhiệm “theo dõi, kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về BHTG; kiến
nghị NHNN xử lý hành vi vi phạm quy định của pháp luật về BHTG”; Hoạt
động kiểm tra chủ yếu tiến hành theo định kỳ 2-3 năm một lần, hoặc hàng năm
tùy theo quy mô nguồn vốn hoạt động, thực trạng hoạt động của tổ chức tham
gia BHTG; Bên cạnh đó có kiểm tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện tổ
chức tham gia BHTG có dấu hiệu vi phạm quy định của pháp luật về BHTG.
Qua mỗi cuộc kiểm tra, các đơn vị được kiểm tra có cơ hội để trình bày
những thuận lợi và khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các quy định của
pháp luật về BHTG, từ đó BHTGVN có sự rà soát và sửa đổi cho phù hợp hoặc
kiến nghị với các cấp có thẩm quyền nghiên cứu giải quyết các vấn đề mang tính
vĩ mô; Các đơn vị được kiểm tra cũng có trách nhiệm hợp tác, cung cấp đầy đủ,
kịp thời các thông tin, tài liệu theo yêu cầu của Đoàn kiểm tra và giải trình các
vấn đề liên quan trong phạm vi nội dung kiểm tra, thực hiện nghiêm chỉnh kết
luận kiểm tra.
Ngoài ra, bảo vệ người gửi tiền là một trong những mục đích chính của
BHTGVN; Khi người dân gửi tiền tại tổ chức tham gia BHTG, họ biết mình
được BHTGVN bảo vệ, hoạt động của tổ chức tham gia BHTG đó được
BHTGVN giám sát chặt chẽ, người dân sẽ an tâm gửi tiền tại tổ chức tham gia
BHTG. Đây là một điều kiện thuận lợi để tổ chức tham gia BHTG huy động
nguồn tiền gửi từ dân cư.
2.3. ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA HỆ THỐNG QUỸ
TÍN DỤNG NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM TỪ KHI HÌNH THÀNH ĐẾN NAY
2.3.1. Những kết quả đạt được
Qua hơn hai mươi hai năm hình thành và phát triển, hệ thống QTDND
đã đạt được những thành quả nhất định; Phát triển ổn định và bền vững theo các
tiêu chí sau:
114
2.3.1.1. Tính bền vững về mô hình tổ chức
a) Cơ cấu tổ chức hệ thống QTDND đã được xây dựng và hoàn thiện
trên cơ sở nghiên cứu các mô hình QTDND thành công ở một số nước như
Canada và CHLB Đức và áp dụng phù hợp với thực tiễn của Việt Nam.
Cơ cấu của hệ thống QTDND Việt Nam hiện nay gồm: Bộ phận trực tiếp
kinh doanh và bộ phận liên kết phát triển; trong đó các QTDND đóng vai trò
nền tảng, NHHTX đóng vai trò trung tâm điều phối các hoạt động liên kết kinh
tế, Hiệp hội thực hiện chức năng đại diện và định hướng hoạt động chung của
toàn hệ thống. Một trong những ưu điểm nổi bật về cơ cấu tổ chức của hệ
thống QTDND Việt Nam là sự phân định chức năng, nhiệm vụ của từng bộ
phận cấu thành hệ thống khá hợp lý. Trải qua ba lần chuyển đổi cơ bản của mô
hình tổ chức để nâng cao khả năng ứng phó trước các biến động của nền kinh tế
đối với hệ thống QTDND.
b) Cơ cấu tổ chức của từng bộ phận cấu thành hệ thống khá hoàn
chỉnh, phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn của Việt Nam; trong
đó, sự phân định chức năng, nhiệm vụ của bộ máy quản trị, điều hành và kiểm
soát khá rõ ràng và phù hợp với đặc thù của loại hình TCTD là HTX. Đây
chính là điều kiện cơ bản để các QTDND phát huy nguyên tắc dân chủ, bình
đẳng và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh; đồng thời tạo
thuận lợi cho sự phối kết hợp giữa các bộ phận trong từng tổ chức.
c) Bộ máy tổ chức của QTDND gọn nhẹ, linh hoạt, các quy trình nghiệp vụ
được tối giản, dễ vận dụng nhưng vẫn đảm bảo an toàn góp phần làm giảm chi
phí hoạt động cho các QTDND.
d) Từ mô hình 3 cấp chuyển đổi sang 2 cấp để đảm bảo công tác điều hòa
vốn được thực hiện nhanh, hiệu quả hơn; NHHTX (trước đây là QTDTW) đã
thực hiện vai trò làm đầu mối kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thực hiện điều hòa
vốn; Đảm bảo khả năng chi trả và khả năng thanh toán của cả hệ thống thông
qua việc nhận tiền gửi từ các QTDND; Huy động vốn của các cá nhân, tổ chức
trong xã hội; Cho vay và là đầu mối cung ứng dịch vụ, tư vấn cho các QTDND.
115
Tính bền vững về mô hình tổ của hệ thống QTDND được đánh giá qua
các thời kỳ như sau:
Năng lực xây dựng các tình huống, kịch bản chính sách kinh tế xã hội, các mức biến động của thị trường
Năng lực ứng phó với hậu quả của các biến động • Sự chỉ đạo và bám sát của NHNN ở
Múc độ phù hợp của các tình huống, kịch bản được thiết lập • Thí điểm thành lập tại 14 tỉnh • Đánh giá kết quả thí điểm: Lựa
vùng có QTD yếu kém
chọn loại hình QTDND ở nông thôn là phù hợp
• Nghiên cứu loại hình TCTD tương tự ở các nước đã XD thành công • Tổ chức lại các HTXTD ở Việt Nam • XD Đề án thí điểm thành lập
Mức độ khả thi của các biện pháp ứng phó trước các kịch bản, tình huống đã được XD • Phát hiện dấu hiệu mất an toàn • Có biện pháp xử lý kịp thời thông qua: điều hòa vốn từ QTDKV, QTDTW
• Báo cáo và được cho phép mở rộng
thí điểm
• Phân loại: QTD có khả năng phục hồi, sớm và QTD yếu kém cho thanh lý, BHTG thực hiện chi trả tiền gửi cho khách hàng gửi tiền
QTDND với 2 phương án và lựa chọn phương án với mô hình 3 cấp
• Để điều hòa vốn, thành lập các
• Cho thanh lý các QTDCS yếu kém, BHTG chi trả cho khách hàng gửi tiền
QTDNDKV và QTDTW
- Đánh giá tính bền vững của các QTDND giai đoạn thí điểm:
- Đánh giá tính bền vững giai đoạn củng cố, hoàn thiện và phát triển:
Năng lực ứng phó với hậu quả của các biến động
Mức độ khả thi của các biện pháp ứng phó trước các kịch bản, tình huống đã được XD
• Sự chỉ đạo và bám sát của
• Thanh lý và thu hồi giấy phép
Năng lực xây dựng các tình huống, kịch bản chính sách kinh tế xã hội, các mức biến động của thị trường
NHNN
các QTD yếu kém không có khả năng phục hồi.
• Trình Bộ Chính trị, Chính
Mức độ phù hợp của các tình huống, kịch bản được thiết lập • Phân loại các QTDND • XD các phương án xử lý cho
từng nhóm
• XD và hoàn thiện mô hình • Nâng cao năng lực tài chính
• Sáp nhập QTDKV thành Chi
• Có biện pháp xử lý kịp thời thông qua: điều hòa vốn từ QTDKV, QTDTW
phủ về củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống QTDND
nhánh QTDTW
của các QTDNDCS và QTDTW
• Thanh lý và thu hồi giấy
• Cho thanh lý các QTDCS yếu kém, BHTG chi trả cho khách hàng gửi tiền
phép những QTDND không có khả năng phục hồi
• Thành lập Hiệp hội QTDND, đại
diện cho quyền lợi
116
Mức độ phù hợp của các tình huống, kịch bản được thiết lập • Chuyển đổi QTDTW sang mô hình
NHHTX
Năng lực ứng phó với hậu quả của các biến động •Sự chỉ đạo và bám sát
Mức độ khả thi của các biện pháp ứng phó trước các kịch bản, tình huống đã được XD • NHHTX thực hiện tốt điều hòa vốn trong
hệ thống QTDND
của NHNN
Năng lực xây dựng các tình huống, kịch bản chính sách kinh tế xã hội, các mức biến động của thị trường • Trình Bộ Chính trị, Chính phủ tổng kết
• Cung cấp nhiều các sản phẩm dịch vụ
• Trình xin cấp vốn của Nhà nước để nâng vốn điều lệ lên thành 3.000 tỷ đồng, nâng cao năng lực tài chính
ngân hàng cho QTDCS và cho thành viên
việc thực hiện Chỉ thị 57-CT/TW về củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống QTDND
• Định hướng phát triển của hệ thống
QTDND
- Đánh giá tính bền vững giai đoạn QTDTW chuyển đổi sang NHHTX:
Đối chiếu với những lý thuyết tính bền vững về mô hình tổ chức ở Chương
1 và thực tế xây dựng và phát triển, cho đến nay, hệ thống QTDND được đánh
giá là có mô hình tổ chức có tính bền vững cao nhất so với các loại hình HTX
khác ở Việt Nam.
đ) Về phát triển nguồn nhân lực: Xác định con người là yếu tố quyết
định đối với sự phát triển thành công, trong quá trình triển khai củng cố, chấn
chỉnh, NHNN đã tập trung chỉ đạo kiện toàn bộ máy tổ chức của tất cả các
QTDND; đồng thời đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành về cơ bản đã được đào tạo
nâng cao hơn về trình độ chuyên môn và năng lực quản lý so với giai đoạn thí
điểm; Đến nay đội ngũ cán bộ này hầu hết đã tham gia các khoá đào tạo cấp
chứng chỉ hành nghề QTDND theo quy định của NHNN và các khóa đào tạo
ngắn hạn để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tin học.... Cùng với đó
công tác đào tạo nâng cao đối với đội ngũ cán bộ quản lý điều hành và tác
nghiệp của các QTDND cũng được đẩy mạnh, tỷ lệ cán bộ có trình độ cao đẳng
và đại học ngày càng được nâng cao. Bên cạnh đó, các khóa đào tạo do Hiệp hội
117
QTDND Việt Nam; Các hội nghị tập huấn, hội thảo, các khóa đào tạo do
NHHTX tổ chức cho cán bộ lãnh đạo QTDND cũng góp phần nâng cao trình độ
quản trị điều hành, chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ của tất cả các QTDND
trên cả nước.
Đến nay có thể nói trong khu vực kinh tế HTX thì hệ thống QTDND có
đội ngũ cán bộ được đào tạo bài bản và có chất lượng cao nhất.
2.3.1.2. Tính bền vững trên cơ sở chỉ tiêu định lượng
a) Về phát triển thành viên:
Kết quả phát triển thành viên được tổng hợp tại bảng 2.6, các hình 2.13,
2.14, 2.15; Qua đó cho thấy sau hơn 22 năm hoạt động, hệ thống QTDND đã
thu hút gần 2 triệu thành viên, tăng gấp 44,4 lần so với khi mới thành lập, điều
đó chứng tỏ người dân đã thấy lợi ích thiết thực do QTDND mang lại, bên cạnh
những đặc điểm ưu việt của loại hình TCTD này như việc không phân biệt tuổi
tác, địa vị xã hội, giới tính, không phân biệt góp vốn nhiều hay ít của các thành
viên tham gia trong khi lại có quyền ngang nhau trong quản trị, kiểm soát, điều
hành; hệ thống QTDND đã tạo được vị thế khá vững chắc trên thị trường tiền
tệ, tín dụng, góp phần quan trọng vào việc xóa đói giảm nghèo, hạn chế nạn
1.400
1.200
1.000
800
600
400
200
-
Số QTDND cơ sở
cho vay nặng lãi ở khu vực nông thôn.
Hình 2.13. Số lượng QTDND (1994-2016)
2.500.000
2.000.000
1.500.000
1.000.000
500.000
-
Số thành viên tham gia QTDND cơ sở
118
2.000
1.800
1.600
1.400
1.200
1.000
800
600
400
200
-
Số thành viên/QTDND cơ sở
Hình 2.14. Số lượng thành viên tham gia QTDND (1994-2016
Nguồn: Tính toán của tác giả dựa theo số liệu báo cáo tình hình hoạt động của hệ thống QTDND từ 1994 – 2015 của NHNN
Hình 2.15. Số lượng thành viên tham gia / QTDND (1994-2016)
119
Bảng 2.6. Số lượng QTDND, số lượng thành viên tham gia hệ thống QTDND từ năm 1994 đến năm 2016
Năm
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016
Chỉ tiêu
1
1
1
1
1
1
1
1
1
.
.
.
.
.
.
.
.
.
0 1 5
0 3 7
0 5 7
0 9 5
1 3 2
1 4 5
1 4 6
1 4 8
1 6 6
Số QTDNDCS 1 5 1
5 3 4
8 1 9
9 4 0
9 7 7
9 6 4
9 5 9
9 0 6
8 8 8
8 9 7
9 0 5
9 1 7
9 3 8
9 8 6
5
9
Số QTDNDKV -
1 2
1 9
2 1
2 1
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
Số QTDND TW/NHHTX 1
1
1
1
1
1
2 2
2 3
2 4
2 4
2 4
2 6
2 6
2 7
2 7
2 7
-
-
Số chi nhánh QTDNDTW/ NHHTX
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
2
1
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
1 5 3
3 7 8
5 3 5
6 4 6
7 2 7
7 9 7
8 0 7
8 5 0
9 1 1
9 6 6
4 3
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Số thành viên tham gia QTDNDCS (Nghìn)
0 2 9 9 8 7
0 9 8 7 5 4
2 0 9 0 4 2
3 4 9 8 0 4
5 0 6 7 7 1
5 8 3 0 9 7
6 3 3 8 1 1
7 0 7 2 9 3
7 8 3 2 7 1
9 6 7 7 5 5
0 8 1 4 1 3
9 3 7 9 7 3
9 0 1
9 7 8
6 3 5
7 0 1
0 9 8
0 6 9
5 4 6
7 8 1
9 2 6
5 4 0
6 4 5
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Số thành viên/ QTDND
0 1 6
0 6 8
1 2 3
1 7 1
2 2 6
3 3 0
4 5 3
4 9 8
4 9 2
5 0 8
5 5 7
7 1 7
8 1 3
6 6 2
2 8 9
2 8 8
4 6 3
5 7 0
6 6 2
7 5 4
8 3 1
8 9 1
9 5 8
Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động của hệ thống QTDND từ 1994 – 2016 của NHNN
120
b) Chỉ tiêu phản ánh quy mô, tỷ lệ, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn
Các chỉ tiêu hoạt động của các QTDND không ngừng tăng trưởng, chất
Đơn vị tính: Triệu đồng
100.000.000
90.000.000
80.000.000
70.000.000
60.000.000
50.000.000
40.000.000
30.000.000
20.000.000
10.000.000
0
4 9 9 1
5 0 0 2
6 1 0 2
5 9 9 1
6 9 9 1
7 9 9 1
8 9 9 1
9 9 9 1
0 0 0 2
1 0 0 2
2 0 0 2
3 0 0 2
4 0 0 2
6 0 0 2
7 0 0 2
8 0 0 2
9 0 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
5 1 0 2
Tổng nguồn vốn
Vốn điều lệ
Vốn huy động
lượng tài sản không ngừng được cải thiện.
Đơn vị tính: %
500
450
400
350
300
250
200
150
100
50
0
Tăng trưởng vốn của hệ thống QTDND
Hình 2.16. Tình hình nguồn vốn của các QTDND (1994 – 2016)
Hình 2.17. Tốc độ tăng trưởng vốn của các QTDND (1994 – 2016) Nguồn: Tính toán của tác giả theo số liệu báo cáo tình hình hoạt động của hệ thống QTDND của NHNN
Đơn vị tính: Triệu đồng
90000
80000
70000
60000
50000
40000
30000
20000
10000
0
Nguồn vốn/Quỹ
Vốn điều lệ/Quỹ
Vốn huy động tiền gửi/Quỹ
121
Hình 2.18. Nguồn vốn bình quân của một QTDND (1994 – 2016) Nguồn: Tính toán của tác giả theo số liệu báo cáo tình hình hoạt động của hệ thống QTDND của NHNN
Quy mô nguồn vốn của QTDND là tổng số dư của các tài khoản, bao
gồm: Vốn huy động tiền gửi, tiền vay, vốn chủ sở hữu. Theo số liệu thu thập và
tính toán (hình 2.16, 2.17) cho thấy, nguồn vốn của các QTDND tăng trưởng đều
đặn qua các năm; số dư trên các tài khoản này tăng trưởng đều, nhất là những
năm từ 2007 đến nay (do hệ thống QTDND đã được củng cố chấn chỉnh và đi
vào hoàn thiện đã tạo được niềm tin, khẳng định được uy tín, thương hiệu nên đã
huy động được rất nhiều tiền gửi tiết kiệm trong dân cư). Giai đoạn này, nhiều
QTDND đã huy động dư thừa phải gửi tiền điều hòa về QTDTW/NHHTX.
Quy mô các loại vốn bình quân/QTDND được minh họa tại hình 2.18, qua
đó cho thấy nguồn vốn của mỗi QTDND ngày càng lớn, trong đó tỷ trọng nguồn
vốn huy động trong dân chiếm phần lớn thì khả năng phát triển càng cao.
Vốn chủ sở hữu gồm vốn điều lệ và các quỹ tăng trưởng không ngừng,
nâng cao khả năng chống chịu rủi ro, đặc biệt mở rộng và đáp ứng nhu cầu vay
vốn ngày càng cao của thành viên, mở rộng kinh doanh, cải thiện đời sống, giúp
QTDND giữ được khách hàng – không phải tìm đến những NHTM để vay vốn
với những điều kiện và thủ tục phức tạp hơn.
Quy mô tài sản của TDND là tổng số dư trên các khoản, đối với hệ thống
QTDND chủ yếu là dư nợ cho vay được minh họa ở hình 2.19, qua đó cho thấy,
122
quy mô tổng dư nợ cho vay của hệ thống QTDND tăng trưởng đều đặn qua các
Đơn vị tính: Triệu đồng
80.000.000
70.000.000
60.000.000
50.000.000
40.000.000
30.000.000
20.000.000
10.000.000
0
1 1 0 2
4 9 9 1
5 9 9 1
6 9 9 1
7 9 9 1
8 9 9 1
9 9 9 1
0 0 0 2
1 0 0 2
2 0 0 2
3 0 0 2
4 0 0 2
5 0 0 2
6 0 0 2
7 0 0 2
8 0 0 2
9 0 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
5 1 0 2
6 1 0 2
Tổng dư nợ
năm, trong đó cơ cấu cho vay sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn hơn cả.
Đơn vị tính: Triệu đồng
70.000,0
60.000,0
50.000,0
40.000,0
30.000,0
20.000,0
10.000,0
-
Dư nợ/Quỹ
Hình 2.19. Tình hình dư nợ của các QTDND (1994 – 2016)
Nguồn: Tính toán của tác giả theo số liệu báo cáo tình hình hoạt động của hệ thống QTDND của NHNN
Hình 2.20. Tình hình dư nợ bình quân 1 QTDND (1994 – 2016)
Khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của các QTDND ngày càng được cải
thiện, tăng đều qua các năm, đặc biệt là sau năm 2008 (hình 2.20), đồ thị có độ
dốc lớn hơn do quy mô của QTDND ngày càng tăng nên QTDND có khả năng
123
cho vay lớn và đáp ứng nhu cầu vay vốn của thành viên ngày một cao hơn (hình
Đơn vị tính: Triệu đồng
40
35
30
25
20
15
10
5
0
Dư nợ/Thành viên
2.21).
Nguồn: Tính toán của tác giả theo số liệu báo cáo tình hình hoạt động của hệ thống QTDND của NHNN
Hình 2.21. Khả năng đáp ứng vốn vay của QTDND (1994 – 2016)
Về chất lượng tín dụng: Sau giai đoạn củng cố, chấn chỉnh đã được cải
thiện rõ rệt, với tỷ lệ nợ quá hạn liên tục duy trì quanh mức 0,5% liên tục trong 6
năm từ 2005 đến 2011 và duy trì dưới 1% cho đến 2015, năm 2016 có cao hơn
với tỷ lệ nợ xấu của cả hệ thống là 1,1% nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với các
loại hình TCTD khác. Điều này cho thấy kết quả của việc thực hiện củng cố,
chấn chỉnh, trong đó chú trọng khắc phục những yếu kém trong quy trình tín
dụng, chấn chỉnh những biểu hiện xa rời mục tiêu tương trợ của loại hình
TCTDHT, chạy theo lợi nhuận của một số QTDND.
Nhìn chung hoạt động của hệ thống QTDND đã đáp ứng được mục tiêu
cơ bản là tương trợ thành viên, phát triển cộng đồng, đồng thời bù đắp được chi
phí, bảo tồn được vốn và tích lũy để phát triển. Từ khi thành lập đến nay, các
QTDND hoạt động hiệu quả, khoảng 90% số QTDNDCS hoạt động có lãi. Nhờ
đó quyền lợi của thành viên cũng được bảo đảm, QTDND có điều kiện tích lũy
để mở rộng phát triển bền vững.
124
Đơn vị tính: %
4,50%
4,00%
3,50%
3,00%
2,50%
2,00%
1,50%
1,00%
0,50%
0,00%
Tỷ lệ nợ xấu
Tình hình nợ xấu của hệ thống QTDND được minh họa tại hình 2.22.
Nguồn: Tính toán dựa theo số liệu báo cáo tình hình hoạt động của hệ thống QTDND của NHNN
Hình 2.22. Tình hình nợ xấu của các QTDND (1994 – 2016)
c) Chỉ tiêu phản ánh khả năng tiếp cận của QTDND:
Độ rộng của tiếp cận: Khách hàng của QTDND chủ yếu là các thành viên,
có quyền như nhau trong sử dụng các dịch vụ của QTDND, chứng tỏ độ rộng
của tiếp cận rất cao.
Độ sâu của tiếp cận là chỉ tiêu đánh giá khả năng tiếp cận đến khách hàng
của một TCTD, được thể hiện qua chỉ tiêu món vay bình quân; chỉ tiêu này càng
thấp thì mức độ tiếp cận càng sâu. Theo chuẩn quốc tế, chỉ tiêu này < 20% thì có
nghĩa các dịch vụ ngân hàng đã tiếp cận đến nhóm đối tượng có thu nhập thấp
nhất trong xã hội. Nếu chỉ tiêu này dao động trong khoảng từ 20% – 150% thì
TCTD đã giao dịch với các khách hàng trung bình và có mức độ tiếp cận rộng.
Kết quả tổng hợp tại bảng 2.7 trên cho thấy, các QTDND có độ tiếp cận ở mức
trung bình.
Như vậy, các QTDND ở Việt Nam đã tiếp cận đến hầu hết các đối tượng
thuộc nhóm trung bình và tiếp cận rộng đến nhiều đối tượng, đây là những đối
chủ yếu sinh sống ở khu vực nông nghiệp nông thôn.
125
Bảng 2.7. Quy mô món vay trung bình của QTDND giai đoạn 2010-2016
Năm
STT
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016
Chỉ tiêu Chỉ tiêu GDP/đầu người (USD)
1.273,0
1.517,0 1.749,0
1.908,0 2.052,0 2.109,0 2215,0
1
0,0191
0,0206
0,0209
0,0211 0,0212 0,0218 0,0219
2
Tỷ giá tham khảo Sở GD NHNN (triệu VND/USD)
GDP/đầu người (triệu VND)
24,31
31,28
36,47
40,26
43,50
45,98
48,60
3
Dư nợ/Thành viên (triệu VND)
15,07
17,60
21,06
25,17
26,62
29,2
36,28
4
62%
56%
58%
63%
61%
63%
75%
5
Quy mô món vay TB ((5) = (4)/(3)x100%)
Nguồn: Tính toán của tác giả theo số liệu của NHNN và Tổng cục Thống kê
d) Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời:
Việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các QTDND không chỉ căn cứ vào
chỉ tiêu lợi nhuận thu được hàng năm tăng trường về số lượng tuyệt đối mà còn
phải đánh giá bằng các chỉ tiêu chất lượng: ROA – tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài
Đơn vị tính: %
18,00
16,00
14,00
12,00
ROA
10,00
8,00
ROE
6,00
4,00
2,00
-
sản bình quân và ROE – tỷ suất lợi nhuận so với vốn tự có.
Nguồn: Tính toán của tác giả dựa theo số liệu báo cáo tình hình hoạt động của hệ thống QTDND của NHNN
Hình 2.23. ROA, ROE của hệ thống QTDND (2000 – 2016)
Minh họa tại hình 2.23 cho thấy các chỉ tiêu lợi nhuận (ROA, ROE) tăng
126
qua các năm từ 2000 - 2005, sau đó sụt giảm mạnh từ năm 2006 - 2008, giai
đoạn này hiệu quả hoạt động của các QTDND có vấn đề, do chi phí hoạt động
tăng cao, những rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh cũng tăng
trong khi thu nhập đạt được không tăng tương ứng. Sau đó chỉ tiêu ROE có xu
hướng tăng trở lại, lên 16,6% vào năm 2011 và năm 2013 có biểu hiện giảm.
Đây là một vấn đề cần quan tâm vì nếu các QTDND không cải thiện được chất
lượng và hiệu quả hoạt động thì khó có thể đảm bảo được khả năng phát triển
bền vững. ROA của các QTDND đều duy trì <2%.
2.3.1.3. Tính bền vững trên cơ sở các chỉ tiêu về bền vững hệ thống
a) Sự liên kết giữa các QTDND trong hệ thống: Do QTDND là các đơn
vị độc lập, mặc dù có cùng chung biểu tượng "Quỹ tín dụng nhân dân”, đặc điểm
tổ chức hoạt động giống nhau nhưng lại có địa bàn hoạt động khác nhau, nên về
cơ bản không có sự cạnh tranh với nhau. Các QTDND chỉ thể hiện sự tương trợ
giúp đỡ lẫn nhau bằng việc điều hòa vốn thông qua NHHTX. Mặt khác, do có
chung biểu tượng, nên nếu một QTDND hoạt động có biểu hiện mất khả năng
chi trả, khách hàng sẽ kéo đến rút tiền ồ ạt, thì các QTDND ở các địa bàn lân cận
sẽ bị ảnh hưởng, gây mất an toàn cho cả hệ thống. Vì vậy các QTDND muốn
hoạt động bền vững thì luôn phải tuân theo tôn chỉ mục tiêu hoạt động là tương
trợ giúp đỡ thành viên, đảm bảo an toàn và ổn định, giữ được uy tín của mỗi
QTDND, từ đó cũng là đảm bảo tính liên kết, tính an toàn cho cả hệ thống.
b) Bền vững nhờ các tổ chức hỗ trợ hệ thống QTDND
b.1) NHHTX: Với vai trò là ngân hàng đầu mối đã thực hiện chức năng
điều hòa vốn cho hệ thống QTDND thông qua mạng lưới 27 chi nhánh NHHTX.
- Về công tác điều hòa vốn cho các QTDND: Để đẩy mạnh công tác điều
hòa vốn, NHHTX luôn quan tâm, chú trọng theo nguyên tắc lãi suất huy động
vốn từ QTDND thành viên luôn cao hơn mức lãi suất huy động của dân cư và
các tổ chức kinh tế cùng kỳ hạn huy động, đồng thời lãi suất cho vay QTDND
127
thành viên luôn thấp hơn lãi suất cho vay khách hàng là doanh nghiệp, cá nhân
có cùng thời hạn vay vốn trong từng thời kỳ, vì vậy đã tạo điều kiện thuận lợi
cho QTDND gửi tiền tạm thời nhàn rỗi về NHHTX và vay vốn điều hòa để chi
trả tiền gửi và cho vay mở rộng thành viên.
NHHTX là ngân hàng của 1.166 QTDND - số lượng QTDND đến
31/12/2016, chỉ tăng 10,57% so với năm 2010, nhưng tổng nguồn vốn hoạt động
vẫn tăng trưởng liên tục qua các năm; đến thời điểm 31/12/2016 là 90.112 tỷ
đồng, tăng 3,2 lần so với năm 2010, cũng trong khoảng thời gian trên, tổng
nguồn vốn hoạt động của NHHTX chỉ tăng 2,37 lần. Nếu so sánh tổng nguồn
vốn hoạt động của NHHTX hiện nay cũng chỉ bằng một chi nhánh cỡ trung bình
của NHTM nhà nước và bằng 29% tổng nguồn vốn hoạt động của các QTDND;
Đây cũng là một khó khăn của NHHTX trong việc đáp ứng vai trò Ngân hàng
đầu mối thực hiện điều hòa vốn cho toàn bộ hệ thống cũng như yêu cầu hỗ trợ
đảm bảo an toàn cho hoạt động của các QTDND thành viên.
Mặc dù có những khó khăn trên nhưng trong giai đoạn 2010-2016
NHHTX cũng đã thực hiện cho vay hỗ trợ thanh khoản đối với các QTDND gặp
khó khăn hơn 3.000 tỷ đồng… giúp nhiều QTDND thoát khỏi tình trạng nguy cơ
mất khả năng chi trả, khắc phục khó khăn, trở lại hoạt động bình thường, nhưng
cũng có một số QTDND không thể khôi phục lại hoạt động, nên nguồn vốn cho
vay hỗ trợ của NHHTX có nguy cơ xảy ra rủi ro mất vốn, không thu hồi được.
Bên cạnh đó, NHHTX có kế hoạch kiểm tra, giám sát các QTDND trong
phạm vi, quyền hạn được NHNN giao, nhằm giảm thiểu nợ xấu và hạn chế rủi ro
đạo đức cho các QTDND; đồng thời rà soát, chỉnh sửa, ban hành các văn bản
nhằm triển khai thực hiện quyền hạn, trách nhiệm đối với hệ thống QTDND.
NHHTX cũng đã nghiên cứu triển khai nhiều biện pháp hỗ trợ an toàn hệ
thống; xem xét, giải quyết kịp thời cho vay hỗ trợ khả năng chi trả tiền gửi đối
với những QTDND đang gặp khó khăn về thanh khoản.
Cùng với Hiệp hội xúc tiến phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện
đại nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng cường tính liên kết hệ thống
128
- Về công tác thông tin báo cáo của QTDND với NHHTX: Để triển khai
thực hiện quyền hạn và trách nhiệm đối với các QTDND thành viên theo quy
định tại Thông tư 31/2012/TT-NHNN, NHHTX đã xây dựng phần mềm báo cáo
thống kê tập trung để tổ chức hướng dẫn QTDND thực hiện; Theo đó, các
QTDND khi thực hiện gửi báo cáo cho NHNN đồng thời gửi báo cáo cho
NHHTX để tổng hợp số liệu nắm bắt tình hình hoạt động của các thành viên để
tư vấn, khuyến nghị kịp thời, đáp ứng yêu cầu an toàn hoạt động của hệ thống.
NHHTX cũng đã hoàn thiện phần mềm và bộ chỉ tiêu của hệ thống xếp hạng tín
dụng nội bộ đối với các QTDND và xây dựng đề cương kiểm tra, giám sát thống
nhất chung trong toàn hệ thống; Trong đó chú trọng tăng cường công tác kiểm
tra, giám sát hoạt động nghiệp vụ (đặc biệt là kiểm tra sử dụng vốn vay), việc
thực hiện các quy định về an toàn của QTDND để khuyến cáo, cảnh báo về
những sai sót, vi phạm hoặc nguy cơ có thể xảy ra, nhằm giúp QTDND kịp thời
có biện pháp khắc phục, chấn chỉnh.
- Triển khai công tác tập huấn, đào tạo và phát triển các sản phẩm, dịch
vụ cho các QTDND: NHHTX đã chủ động tổ chức các lớp đào tạo nâng cao
nghiệp vụ về Phân tích tài chính, Thẩm định tín dụng và Quản lý rủi ro cho hơn
1.800 cán bộ trong đó gồm 1.200 cán bộ ở tất cả các QTDND và hơn 600 cán bộ
của NHHTX. Đặc biệt đã tổ chức 17 khóa đào tạo cho hơn 1.194 lãnh đạo và cán
bộ của hơn 400 QTDND, đồng thời chuyển giao phần mềm dịch vụ Ngân hàng
điện tử (CF-eBank) cho các QTDND tham gia Dự án. Thông qua hệ thống phần
mềm giao dịch ngân hàng điện tử CF-ebank đã giúp cho các QTDND trong hệ
thống cung ứng dịch vụ chuyển tiền phục vụ thành viên và dân chúng ở khu vực
nông thôn (thông qua hệ thống thanh toán điện tử nội bộ của NHHTX).
b.2) Hiệp hội QTDND: Hiệp hội với vai trò của tổ chức liên kết đã phối
hợp với NHHTX đề xuất, kiến nghị với các cơ quan quản lý Nhà nước về một số
vấn đề liên quan đến hoạt động của hệ thống QTDND để bảo vệ quyền lợi hợp
pháp và chính đáng cho hội viên; Thực hiện vai trò cầu nối giữa hội viên và các
cơ quan chức năng của Nhà nước; Thực hiện động tư vấn, hỗ trợ về nghiệp vụ,
129
về luật pháp; Triển khai công tác đào tạo và các hoạt động thông tin, tuyên
truyền và hoạt động đối ngoại.
Với cơ cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của Hiệp hội QTDND bước
đầu đã đảm bảo cho hệ thống hoạt động một cách có hiệu quả và bền vững.
c) Hỗ trợ quản lý, giám sát hoạt động của Nhà nước:
- NHNN đã thực hiện quản lý nhà nước đối với quá trình hình thành và
phát triển của hệ thống QTDND thể hiện trên các mặt từ nghiên cứu xây dựng và
phát triển mô hình hệ thống đến ban hành cơ chế chính sách, cung cấp đội ngũ
nhân sự chủ chốt, đào tạo nguồn nhân lực, đại diện và quản lý phần vốn của Nhà
nước tại NHHTX, quản lý nhà nước về tổ chức, hoạt động đối với hệ thống
QTDND và các tổ chức hỗ trợ hệ thống, đảm bảo cho hệ thống PTBV.
- BHTGVN thực hiện kiểm tra, giám sát hoạt động của các QTDND, đảm
bảo an toàn cho hoạt động của các QTDND và bảo vệ quyền lợi cho người gửi
tiền tại QTDND. Đặc biệt, trong những năm các các QTDND thực hiện củng cố
chấn chỉnh hoạt động, BHTGVN có vai trò rất lớn trong việc chi trả tiền gửi cho
người dân đã gửi tiền ở các QTDND bị thanh lý, giải thể bắt buộc, tạo sự ổn định
tâm lý cho người dân, tránh được ảnh hưởng lan chuyền tâm lý người gửi tiền ở
các QTDND khác đang hoạt động bình thường, giữ được ổn định an ninh, chính
trị, xã hội ở một số khu vực nông thôn.
Đánh giá chung: Các QTDND sau khi hình thành (1994 – 1999) và thực
hiện củng cố, chấn chỉnh (2000 – 2005), các chỉ tiêu có xu hướng tăng chậm lại,
số lượng QTDND còn giảm đi, tuy nhiên từ 2006 trở đi, các QTDND đã phát
triển mạnh mẽ. Điều đó cho thấy, hoạt động của hệ thống phù hợp với điều kiện
khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn, bước đầu đã phát triển tương đối ổn
định và bền vững, thể hiện:
Một là, tính bền vững thể hiện bằng sự tồn tại và ngày càng phát triển ở khu
vực nông nghiệp, nông thôn; Trong những năm qua sự có mặt của mô hình
TCTDHT đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nông thôn, cải thiện đời
sống, góp phần xóa đói giảm nghèo, hạn chế nạn cho vay nặng lãi ở nông thôn,
130
tạo thêm nhiều công ăn việc làm; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình
thành quan hệ sản xuất mới trên địa bàn nông thôn.
Hai là, hoạt động của hệ thống QTDND đúng tôn chỉ mục tiêu tương trợ
thành viên, phát triển cộng đồng, nhưng vẫn bù đắp được chi phí, bảo toàn được
vốn và có tích lũy để phát triển.
Ba là, tính bền vững thể hiện thông qua các chỉ tiêu hoạt động của các
QTDND không ngừng tăng trưởng, chất lượng tài sản liên tục được cải thiện.
Mặc dù hoạt động của QTDND không vì mục tiêu lợi nhuận nhưng hoạt động
của các QTDND ngày càng hiệu quả, trên 90% các QTDND có lãi, nhờ đó có
điều kiện tích lũy để mở rộng quy mô, đáp ứng tốt quyền lợi cho thành viên góp
vốn cũng như nhu cầu vay vốn.
Bốn là, tính bền vững của hệ thống thể hiện qua sự lớn mạnh của đơn vị
đầu mối bằng việc QTDTW/NHHTX đã làm tốt vai trò là trung tâm điều hòa
vốn hệ thống; làm tốt công tác đào tạo, tư vấn, hỗ trợ cho các thành viên trong hệ
thống và tham mưu, đề xuất với NHNN để sửa đổi một số những quy định cho
phù hợp với điều kiện đặc thù của hệ thống QTDND.
Năm là, việc ra đời và đi vào hoạt động của Quỹ bảo toàn có ý nghĩa rất
quan trọng đối với sự PTBV hệ thống QTDND, nó khẳng định tính tự chủ, tự
chịu trách nhiệm trong liên kết và tương trợ trong hệ thống thông qua việc cho
vay hỗ trợ có hoàn trả đối với QTDND khi gặp khó khăn về tài chính, khó khăn
chi trả nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động theo hướng phát triển an toàn, lành
mạnh và bền vững của cả hệ thống.
2.3.2. Những hạn chế ảnh hưởng đến sự bền vững của các Quỹ tín dụng
nhân dân
2.3.2.1. Hạn chế trong hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân
a) Một số QTDND theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, xa rời tôn chỉ mục đích
của loại hình TCTDHT - đó là hoạt động hỗ trợ thành viên
Một số QTDND, nhất là các QTDND có quy mô lớn và địa bàn hoạt động
liên xã, liên phường và liên xã - phường ở những nơi kinh tế phát triển có biểu
131
hiện chạy theo mục tiêu lợi nhuận, thoát ly nguyên tắc HTX, chỉ quan tâm cho
vay thương mại mà thiếu quan tâm đến hỗ trợ thành viên thông qua các loại hình
sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng và phúc lợi cộng đồng xã hội khác; Một số
QTDND có tốc độ tăng trưởng nóng (Qua khảo sát ở 50 QTDND có quy mô lớn
nhất - chiếm gần 40% tổng nguồn vốn của toàn hệ thống, có QTDND có tổng
nguồn vốn hoạt động lên tới gần 500 tỷ đồng), các QTDND này đã mở rộng quy
mô, địa bàn hoạt động nhưng bộ máy quản lý điều hành lại không theo kịp với
yêu cầu phát triển, có nguy cơ vượt ngoài tầm quản lý, kiểm soát; vì vậy rủi ro
tiềm ẩn không chỉ đối với bản thân các QTDND này mà còn có nguy cơ gây ảnh
hưởng đến sự an toàn của các QTDND khác trên địa bàn và của cả hệ thống.
b) Số lượng thành viên tham gia, ý thức xây dựng và phát triển QTDND
của thành viên suy giảm
Từ năm 2010 đến nay công tác tuyên truyền, chăm sóc thành viên của
QTDND chưa được coi trọng, chính sách chia cổ tức theo số vốn góp chưa hấp
dẫn do quy mô của QTDND nhỏ, hơn nữa các QTDND vẫn cần phải trích các
quỹ để tăng vốn chủ sở hữu, nên nhiều thành viên gia nhập QTDND chỉ nhằm
mục đích vay vốn mà không biết đến trách nhiệm trong việc giám sát, xây dựng
hoạt động của QTDND; Nhiều thành viên sau khi trả nợ xong món vay đã không
quan tâm đến hoạt động của QTDND nữa. Chỉ một số thành viên có số vốn góp
lớn mới quan tâm đến công tác quản trị, giám sát hoạt động của QTDND, dẫn tới
tình trạng một bộ phận QTDND đã xuất hiện việc một nhóm người chi phối hoạt
động, quản trị điều hành QTDND – xa rời dần nguyên tắc HTX.
Cùng với đó còn xuất hiện tình trạng một số người cư trú ở một địa
phương này nhưng mang tiền đến địa phương khác thành lập QTDND để tranh
thủ các cơ chế, chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với loại hình QTDND nhằm
mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, thậm chí có trường hợp cùng lúc góp vốn thành lập
nhiều QTDND ở nhiều địa phương khác nhau.
c) Hạn chế trong cạnh tranh khi cho vay khách hàng với các NHTM ở
gần/cùng địa bàn hoạt động
132
- Do các QTDND có quy mô nhỏ, để huy động được vốn, thu hút người
dân gửi tiền vào QTDND, có những giai đoạn NHNN cho phép các QTDND
được huy động với lãi suất cao hơn các NHTM một chút, cộng với vốn chủ sở
hữu của QTDND nhỏ, nên lãi suất cho vay của QTDND thường cao hơn các
NHTM.
- Mặt khác, do vốn chủ sở hữu QTDND nhỏ, nên những khách hàng tốt,
có nhu cầu vay khoản vốn lớn, vượt quy định về đảm bảo an toàn thì QTDND
không thể đáp ứng được, họ lại phải “chạy” sang NHTM để vay. Chỉ có một số ít
khách hàng này chờ được QTDND và NHHTX xem xét cho vay hợp vốn.
- Sản phẩm dịch vụ tài chính chưa có hoặc có rất ít nên chưa đáp ứng đầy
đủ cho các thành viên, cũng như khách hàng tại địa phương, họ sẽ tìm đến các
NHTM, QTDND mất khách hàng.
- Trình độ cán bộ, cơ sở vật chất của QTDND không thể bằng các NHTM
nên khả năng thu hút khách hàng đến với QTDND cũng bị hạn chế.
d) Việc chấp hành các quy định của pháp luật, nhất là các quy định về
đảm bảo an toàn trong hoạt động của một số QTDND chưa nghiêm túc dẫn đến
nguy cơ rủi ro mất an toàn
- Do không phải thực hiện dự trữ bắt buộc nên nhiều QTDND đã tận dụng
tối đa nguồn vốn huy động được để cho vay, không quan tâm đến dự phòng đảm
bảo khả năng chi trả, nên thường xuyên phải đối mặt với áp lực thiếu khả năng
thanh khoản, điều này không chỉ ảnh hưởng đến bản thân quỹ đó mà còn tạo sức
ép lên NHHTX khi cùng một thời điểm có nhiều QTDND cùng bị rơi vào tình
trạng thiếu, thậm chí mất khả năng chi trả, dễ gây rủi ro thanh khoản của một
QTDND, có thể lan truyền sang các QTDND liền kề và cả hệ thống.
- Một số QTDND để xảy ra tình trạng cho vay không tuân thủ các quy
định, quy trình thẩm định tín dụng trước khi cho vay, kiểm tra giám sát trong quá
trình cho vay và sau khi cho vay, đôn đốc thu hồi nợ và xử lý nợ khi đến hạn;
thậm chí nhiều trường hợp xảy ra vi phạm vay ké, vay khống gây thiệt hại, tổn
thất cho QTDND.
133
- Có QTDND xét duyệt cho vay vượt hạn mức quy định về đảm bảo an
toàn, vượt tầm kiểm soát, nguy cơ rủi ro cao, mất an toàn trong hoạt động;…
- Bên cạnh đó một bộ phận QTDND chưa chấp hành nghiêm túc các quy
định về an toàn kho quỹ dẫn đến tình trạng cán bộ QTDND lợi dụng tham ô gây
thất thoát vốn của QTDND.
đ) Việc quản lý, điều hành, kiểm soát của các QTDND còn bất cập, thiếu
tính chuyên nghiệp, quản lý theo kiểu gia đình; thậm chí có biểu hiện lợi ích
“cục bộ” gây mất đoàn kết nội bộ; Có trường hợp ban lãnh đạo QTDND vi phạm
quy định, cho vay ngoài thành viên hoặc cho vay không có hồ sơ tín dụng làm
thất thoát vốn, dễ dẫn đến nguy cơ phá sản QTDND.
Ở một số QTDND, việc quyết định cho vay thông thường chỉ có 1 cán bộ
tín dụng và Giám đốc, chưa có sự kiểm soát chéo hoặc thẩm định độc lập để
giám sát, chặt chẽ quy trình cho vay. Thậm chí có trường hợp Giám đốc tự quyết
định cho vay và QTDND giải ngân khi chỉ có một tờ giấy viết tay của Giám đốc
mà không lập Hồ sơ tín dụng dẫn đến rủi ro, mất vốn. Hoạt động của BKS nhiều
khi chưa phát huy hết vai trò kiểm tra, giám sát, cảnh báo tại chỗ nên không kịp
thời phát hiện được sai phạm, yếu kém của QTDND; tình trạng này cho thấy khả
năng tự giám sát và giám sát từ bên ngoài đối với hoạt động của các QTDND
còn thiếu hiệu quả dẫn đến nguy cơ rủi ro trong hoạt động của hệ thống tăng cao.
e) Phương thức cho vay của các QTDND chưa có sự gắn kết chặt chẽ,
giữa nhu cầu vay vốn thực sự của thành viên với các quy định cho vay phù hợp
với thực tế hoạt động quy mô nhỏ và hỗ trợ thành viên của QTDND, mà chỉ coi
trọng cơ chế bảo đảm tiền vay thông qua tài sản thế chấp của khách hàng vay
vốn tương tự như các NHTM; chưa chú trọng đến sự giám sát của QTDND đối
với việc sử dụng hiệu quả vốn vay của thành viên vay vốn.
g) Một số QTDND xa rời tính liên kết hệ thống
Trong nền kinh tế thị trường, nếu không kiên định mục tiêu “tương trợ
giúp đỡ lẫn nhau, không vì mục tiêu lợi nhuận” dễ xảy ra tình trạng có QTDND
khi thừa vốn sẽ gửi tiền tạm thời nhàn rỗi sang các TCTD khác có lãi suất cao
134
hơn hoặc đầu tư vào lĩnh vực có lãi hơn nhưng rủi ro sẽ lớn hơn (vì lãi suất tiền
gửi điều hòa có lúc thấp hơn lãi suất huy động của các NHTM). Tình trạng nói
trên vừa làm giảm năng lực khai thác nguồn vốn khả dụng trong nội bộ hệ thống,
vừa phá vỡ mối liên kết hệ thống (khi thừa vốn thì đem gửi TCTD khác, khi
thiếu khả năng thanh khoản thì lại yêu cầu NHHTX cho vay hỗ trợ), vừa có nguy
cơ dễ xảy ra rủi ro đạo đức gây mất an toàn trong hoạt động.
Ở một số địa phương đã có tình trạng một số QTDND vi phạm các quy
định của pháp luật trong hoạt động ngân hàng, dùng tiền của QTDND đứng tên
cá nhân cán bộ của QTDND để gửi các TCTD khác, có trường hợp khi bị xử lý
vi phạm lại gây mất đoàn kết, phao tin thất thiệt; Có trường hợp cầm cố sổ tiền
gửi lấy tiền sử dụng mục đích riêng gây thất thoát vốn… dẫn đến việc người dân
rút tiền ồ ạt, gây mất an toàn không chỉ đối với bản thân QTDND đó mà còn có
nguy cơ lây lan ảnh hưởng đến các QTDND khác trên địa bàn.
Những tồn tại, yếu kém nói trên cùng với công tác quản lý, điều hành,
kiểm soát nội bộ yếu đã để xảy ra tình trạng rủi ro đạo đức, vi phạm pháp luật
gây tổn thất về tài chính, uy tín và an toàn trong hoạt động của một số QTDND;
Việc người dân rút tiền hàng loạt tại một quỹ không chỉ làm mất khả năng chi
trả, khả năng thanh toán của bản thân QTDND đó mà còn gây ảnh hưởng đến
hoạt động của các QTDND gần kề. Điều đáng lo ngại là tình trạng này có xu
hướng phát triển trong thời gian gần đây; nếu không được chấn chỉnh kịp thời
thì sẽ có nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn trong hoạt động của hệ thống như các
trường hợp xảy ra ở các QTDND Tây Giang - Bình Định, Hoà Sơn, Chăm Mát -
Hoà Bình, Phương Tú - Hà Nội, Trần Cao - Hưng Yên, Hậu Giang - Hậu Giang,
Khánh Hoà - Ninh Bình, Hoằng Đồng - Thanh Hóa…
2.3.2.2. Hạn chế về tính liên kết của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân
a) Hệ thống QTDND chưa tạo được tính độc lập, tự chủ, tự chịu trách
nhiệm trong quản trị, điều hành và kiểm soát hoạt động: Cho đến nay hệ thống
QTDND vẫn chủ yếu trông chờ vào sự hỗ trợ, chỉ đạo, hướng dẫn của NHNN
mà chưa phát huy được đầy đủ tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm và khả năng chủ
135
động trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát hoạt động của từng QTDND
cũng như của cả hệ thống; Vai trò của Hiệp hội QTDND chưa thể hiện được rõ
nét trong việc hỗ trợ, hướng dẫn, xây dựng chính sách cho các QTDND. Vì vậy,
hệ thống QTDND chưa hình thành được một cơ chế liên kết mạnh trên cơ sở
phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của từng QTDND cũng như tính tương
trợ lẫn nhau và cơ chế giám sát qua lại giữa các thành viên trong hệ thống thông
qua một tổ chức đầu mối một cách thường xuyên và có hiệu quả.
b) Việc thiết lập các cơ chế phòng ngừa rủi ro và bảo đảm an toàn hoạt
động phù hợp với đặc thù của QTDND còn thiếu: Việc phát hiện, ngăn ngừa rủi
ro và đảm bảo an toàn cho hệ thống chủ yếu dựa vào kiểm toán độc lập và Quỹ
bảo đảm an toàn hệ thống QTDND (Quỹ này mới ra đời năm 2014, chưa được
kiện toàn và chưa phát huy được vai trò của nó); trong khi Tổ chức kiểm toán
cho hệ thống QTDND chưa ra đời.
2.3.2.3. Hạn chế của các tổ chức hỗ trợ các Quỹ tín dụng nhân dân phát triển
bền vững
a) Bất cập của NHHTX trong việc hỗ trợ các QTDND
Hạn chế về vai trò đầu mối liên kết hệ thống: Trước khi được chuyển đổi,
QTDTW với năng lực tài chính còn thấp nên chưa làm tốt vai trò tổ chức đầu
mối; từ khi chuyển đổi thành NHHTX, cùng với số vốn được tích lũy hàng năm,
năng lực tài chính của NHHTX cũng được nâng lên; Tuy nhiên do NHHTX và
các QTDND là các pháp nhân kinh tế hoạt động hoàn toàn độc lập, trách nhiệm,
nghĩa vụ của NHHTX và các QTDND chưa rõ ràng, thiếu cơ sở gắn kết nên khả
năng phát huy vai trò đầu mối cũng gặp nhiều khó khăn; Các cơ chế hỗ trợ liên
kết hệ thống chưa đầy đủ, thiếu chặt chẽ nên NHHTX cũng chưa thể làm tốt việc
hỗ trợ các QTDND.
Hơn nữa, do nguồn tiền NHHTX sử dụng để hỗ trợ thanh khoản cho các
QTDND đều là nguồn tiền huy động trong dân cư nên số vốn cho vay này mà
không thu hồi được cũng là áp lực ảnh hưởng đến kết quả hoạt động tài chính
của NHHTX.
136
Trong quá trình điều hoà vốn NHHTX đã phát hiện nhiều QTDND lâm
vào tình trạng khó khăn chi trả tạm thời, nhưng do chưa có cơ chế dự phòng chi
trả chung của hệ thống, NHNN cũng chưa có cơ chế hỗ trợ xử lý rủi ro nên
NHHTX cũng chưa thể chủ động cho vay hỗ trợ các QTDND này.
Hạn chế về vai trò kiểm tra giám sát, cảnh báo: Tuy là tổ chức đầu mối
nhưng NHHTX không được cung cấp thông tin đầy đủ về hoạt động của
QTDND mà chỉ biết thông tin qua công tác kiểm tra sử dụng vốn khi các
QTDND có vay vốn của NHHTX; tuy nhiên, việc kiểm tra này cũng chỉ cung
cấp được thông tin rất hạn chế về hoạt động của QTDND; Đồng thời NHHTX
cũng không được kiểm tra các mặt hoạt động nghiệp vụ khác, nên khó phát hiện
sai phạm của các QTDND, từ đó không phát huy được vai trò của một tổ chức
đầu mối của hệ thống, đặc biệt là trong việc giúp cho NHNN quản lý, giám sát
hoạt động, cảnh báo các tiềm ẩn rủi ro của các QTDND.
b) Hạn chế của Hiệp hội QTDND
Việc triển khai tư vấn về chuyên môn, nghiệp vụ cho QTDND của Hiệp
hội QTDND còn hạn chế; vai trò cầu nối giữa QTDND hội viên với các cơ quan
quản lý nhà nước chưa thường xuyên, còn thụ động; việc triển khai công tác đào
tạo cán bộ cho hệ thống chưa mang tính dài hạn, mới chỉ đáp ứng được một
phần nhu cầu trước mắt.
Bộ máy tổ chức của Hiệp hội chưa được kiện toàn đầy đủ nên vai trò đầu
mối trong phối hợp liên kết và thúc đẩy liên doanh, liên kết giữa các QTDND
hội viên; hỗ trợ các QTDND hội viên trong việc chuyển giao công nghệ, kinh
nghiệm quản lý, xúc tiến các hoạt động cho các QTDND còn yếu.
Hoạt động của Cơ quan thường trực Hiệp hội và các văn phòng đại diện
còn hạn chế, chưa chủ động kịp thời quán triệt, phổ biến, tuyên truyền, hướng
dẫn cơ chế, chính sách do NHNN ban hành đối với hoạt động của QTDND cũng
như thể hiện vai trò cầu nối giữa các QTDND hội viên với các cơ quan quản lý
nhà nước và NHHTX.
137
Trình độ của một số cán bộ Hiệp hội QTDND vẫn chưa đáp ứng được các
tiêu chuẩn, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt tại các Phòng, Ban của Cơ quan
thường trực.
2.3.2.4. Hạn chế của công tác quản lý nhà nước đối với hệ thống Quỹ tín dụng
nhân dân
a) Không có cơ quan chuyên trách quản lý hệ thống QTDND: Trước đây,
NHNN có Vụ chuyên trách trực tiếp tham mưu quản lý hệ thống QTDND, nên
tình hình hoạt động của hệ thống được nắm chắc và quản lý chặt chẽ. Từ năm
2008 đến nay việc này được phân chia về một số Vụ thuộc Cơ quan Thanh tra
Giám sát Ngân hàng, do đó việc giám sát chưa đầy đủ, việc tham mưu đề xuất về
những vấn đề liên quan đến những nơi có trách nhiệm chậm và chưa sát.
Trước đât tại các địa phương, nhất là những nơi có nhiều QTDND thì Chi
nhánh NHNN có một phòng chuyên trách quản lý, hướng dẫn, thanh tra, giám
sát các QTDND trên địa bàn. Từ sau giai đoạn củng cố, chấn chỉnh, phòng quản
lý các QTDND không còn ở các chi nhánh NHNN, nên công tác thanh tra, kiểm
tra, giám sát QTDND còn nhiều nơi không sâu sát, việc nắm bắt tình hình để
quản lý hệ thống QTDND của NHNN còn thiếu, không đồng bộ.
b) Các quy định về tổ chức, hoạt động, đặc biệt là các quy định về bảo
đảm an toàn trong hoạt động của các QTDND do NHNN ban hành thường được
quy định giống như đối với các NHTM; trong khi đó các QTDND là loại hình có
những yếu tố đặc thù, điều kiện nhân lực, khả năng quản trị cũng thấp hơn nhiều
so với các NHTM, vì vậy chưa thật sự phù hợp với yêu cầu thực tiễn tổ chức
hoạt động của QTDND.
c) Cơ chế giải thể, thanh lý, sáp nhập QTDND với nhau chưa phù hợp với
thực tiễn nên quá trình xử lý củng cố chấn chỉnh các QTDND hoạt động yếu
kém còn chậm, hiệu quả thấp.
d) Công tác quản lý, kiểm tra, thanh tra giám sát hoạt động QTDND của
một số NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố chưa tốt; sau khi hoàn thành công tác
củng cố, chấn chỉnh các QTDND yếu kém, một số nơi có biểu hiện lơi lỏng
138
trong cấp phép, quản lý và thanh tra giám sát dẫn đến tình trạng tái vi phạm
trong hoạt động của các QTDND trên địa bàn.
đ) Hạn chế của BHTG: BHTG tiến hành kiểm tra hoạt động của các
QTDND như nội dung thanh tra của NHNN, gây chồng chéo chức năng thanh
tra, kiểm tra mà không có sự phối hợp với NHNN; BHTG quy định cơ chế cho
vay hỗ trợ QTDND quá phức tạp, vai trò của BHTG trong việc hỗ trợ kịp thời
cho các QTDND khắc phục khó khăn thanh khoản để trở lại hoạt động bình
thường còn rất hạn chế.
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế
2.3.3.1. Nguyên nhân khách quan
a) Cơ chế, chính sách về QTDND còn tồn tại nhiều vấn đề, thể hiện ở:
a.1) Cơ chế, chính sách về tổ chức và hoạt động của các QTDND còn
chưa phù hợp với nguyên tắc HTX
- Cơ chế góp vốn gia nhập thành viên và cơ chế phân phối lợi nhuận của
QTDND hiện nay làm suy yếu quyền và nghĩa vụ của đa số thành viên khi tham
gia quản lý, kiểm tra giám sát hoạt động của QTDND.
- Điều kiện thành lập QTDND quy định về vốn điều lệ ban đầu chỉ có 100
triệu đồng; yêu cầu về hộ tịch hộ khẩu đối với thành viên sáng lập chỉ cần có
giấy khai báo tạm trú KT3 nên có tình trạng nhiều người ở thành phố, thị xã đưa
tiền về các vùng nông thôn, thiết lập các mối quan hệ xin thành lập QTDND; đây
cũng là một nguyên nhân dễ dẫn đến hoạt động biến tướng của QTDND thành
mô hình TCTD cổ phần, do một nhóm người có vốn góp lớn chi phối.
- Cơ chế tổ chức và hoạt động của QTDND áp dụng cơ chế hoạt động
giống như các NHTM mà chưa dựa trên tính chất cộng đồng, tương trợ giữa các
thành viên với nhau, vì vậy, các QTDND còn coi thành viên của mình tương tự
như khách hàng của NHTM, việc xét duyệt cho vay, cơ chế cho vay,... không
được ban hành cụ thể, rõ ràng, hoặc có ban hành nhưng thiếu sự gắn kết với quan
hệ xóm giềng, sự ràng buộc, nghĩa vụ của thành viên trong QTDND với nhau
cũng như nghĩa vụ của thành viên với QTDND, nhằm giám sát, đảm bảo cho loại
139
hình QTDND này hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích. Đặc biệt tình trạng này
càng rõ hơn đối với các QTDND hoạt động theo mô hình liên xã, liên phường,
liên xã phường, thị trấn.
- Việc đưa các quy chế quản lý của các TCTD có các nghiệp vụ ngân hàng
hiện đại, quy mô lớn áp dụng cho hệ thống QTDND là chưa phù hợp (VD: Áp
dụng chế độ hạch toán dự thu dự chi với QTDNDCS; Chế độ tín dụng quy định
các thành viên của QTDND phải thế chấp tài sản và làm các thủ tục giao dịch
đảm bảo tiền vay để vay vốn của QTDNDCS như đối với các khách hàng thông
thường của các NHTM; ...).
a.2) Hệ thống các văn bản liên quan đến hoạt động của hệ thống còn
gây ra một số khó khăn cho QTDND
Đối với quy định về điều kiện trở thành thành viên (Điều 31, TT 04): Việc
quy định thành viên phải có hộ khẩu thường trú trên địa bàn sẽ làm giảm số
lượng thành viên, từ đó có thể làm giảm vốn hoạt động của quỹ. Thực tế, nhiều
thành viên có hộ khẩu khác địa bàn, nhưng lại đăng ký tạm trú dài hạn ở trong
phạm vi địa bàn của quỹ; Đặc biệt, có nhiều nhân viên đang làm việc tại trụ sở
giao dịch của Quỹ theo hợp đồng dài hạn, nhưng có hộ khẩu và thường trú khác
địa bàn.
Tổng mức vốn góp tối đa của một thành viên không được vượt quá 10%
vốn điều lệ của QTD tại thời điểm góp vốn: Quy định này sẽ làm cho việc
chuyển nhượng vốn của QTDND mất nhiều thời gian và chi phí hơn. Tại một số
QTDND, có những thành viên trước đây đã góp vốn cao hơn nhiều so với tỷ lệ
10% theo quy định tại Thông tư 04. Mặc dù Thông tư 04 có quy định chuyển
tiếp để xử lý về tỷ lệ vốn góp tối đa của thành viên trong thời gian 12 tháng,
nhưng việc chuyển nhượng vốn của QTDND cho thành viên khác vẫn còn gặp
khó khăn nhất định.
Quy định về mức vốn góp xác lập tư cách thành viên và mức vốn góp
thường niên của QTDND (Điều 28, TT 04): Với việc phải góp vốn xác lập tư
cách thành viên 300.000 đồng, mỗi năm phải duy trì vốn góp thường niên thêm
140
100.000 đồng thì việc triển khai thực tế có thể phát sinh khó khăn vì thành viên
có người đã di chuyển khỏi địa phương, không muốn tiếp tục tham gia; thành
viên ảo, thành viên không có khả năng duy trì việc đóng góp.
Quy định về tỷ lệ tổng mức nhận tiền gửi từ thành viên trên tổng mức
nhận tiền gửi của QTDND (TT04): Với quy định tổng mức nhận tiền gửi từ
thành viên tối thiểu bằng 50% tổng mức nhận tiền gửi của QTDND, đây là thách
thức với QTDND vì điều này QTD khó thuyết phục người gửi tiền trở thành
thành viên. Hiện nay, các NHTM có nhiều chính sách hậu mãi tốt, mời chào lãi
suất cạnh tranh so với QTDND, buộc lãi suất huy động của QTDND luôn phải
cao hơn để giữ chân người gửi tiền. Với việc phải góp vốn xác lập tư cách thành
viên và vốn góp thường niên thì đương nhiên người gửi tiền sẽ tính toán thiệt
hơn, dù mức lợi tức cho phần vốn này hiện cao hơn nhiều lãi suất tiền gửi dài
hạn, nhưng rõ ràng khoản tiền này khi thành viên cần lại không rút ra được trừ
khi xin ra khỏi thành viên.
Quy định về gửi vốn nhàn rỗi tại NHHTX: Theo quy định tại Luật các
TCTD, NHHTX là ngân hàng đầu mối của hệ thống QTDND; Một số quy định
tại Thông tư số 04 nhằm tăng tính liên kết, khả năng tương trợ giữa NHHTX với
QTDND và giữa các QTDND với nhau, tuy nhiên, nếu lãi suất gửi tiền tại
NHHTX thấp hơn lãi suất huy động của QTDND, trong khi không cho phép
QTDND gửi tiền tại TCTD khác ngoài NHHTX thì có thể sẽ làm cho thu không
đủ bù chi, điều này sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của các QTDND.
Thông tư 03/2014/TT-NHNN Quy định về Quỹ đảm bảo an toàn hệ thống
QTDND: Hiện nay, QTDND đồng thời đóng 2 khoản phí với hai mục đích khác
nhau: (1) Phí bảo hiểm tiền gửi với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người gửi tiền khi QTDND lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả hoặc phá
sản; (2) Phí đảm bảo an toàn hệ thống với mục đích để cho vay hỗ trợ các
QTDND khi khó khăn về tài chính, khó khăn chi trả để có thể khắc phục trở lại
hoạt động bình thường. Chỉ riêng quy định trích nộp phí tham gia Quỹ bảo toàn
bằng 0,08% trên tổng dư nợ bình quân hàng năm và được hạch toán vào chi phí
141
hoạt động của QTDND để đóng vào NHHTX quản lý quỹ bảo toàn cũng làm gia
tăng chi phí hoạt động của Quỹ.
Thông tư số 39/2011/TT-NHNN quy định về kiểm toán độc lập và Thông
tư 44/2011/TT-NHNN Quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ
của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Theo quy định của Thông tư 39,
các QTDND có tổng tài sản từ 50 tỷ VND trở lên phải thực hiện tiến hành kiểm
toán độc lập, hay quy định tại Thông tư số 44, các QTDND phải tiến hành thành
lập bộ máy kiểm toán nội bộ theo quy định là rất khó thực hiện do QTDND
hoạt động chủ yếu tại các vùng nông nghiệp, nông thôn nên thường có quy mô
nhỏ và khó tiếp cận với dịch vụ kiểm toán độc lập. Mặc dù Thông tư
31/2012/TT-NHNN đã giao NHHTX thực hiện việc hướng dẫn, hỗ trợ hoạt động
kiểm toán nội bộ của các QTDND thành viên tuy nhiên, NHHTX mới thành lập
không lâu, chưa có nhiều kinh nghiệm nên việc hướng dẫn hỗ trợ này là rất
khiêm tốn.
b) Vai trò quản lý nhà nước còn mờ nhạt, thiếu tính kịp thời
Do chưa quán triệt sâu sắc về nguyên tắc tổ chức, hoạt động của loại hình
TCTD là HTX và các yêu cầu đòi hỏi trong việc hoàn thiện và phát triển mô
hình QTDND; đồng thời các cơ quan chức năng chưa chú ý đến sự khác biệt
giữa mô hình QTDND với các loại hình TCTD khác, nhất là NHTM; vì vậy cơ
quan quản lý nhà nước đối với QTDND chưa kịp thời có những định hướng phát
triển, quy định về tổ chức, hoạt động cũng như quy định về quản lý, kiểm tra
giám sát phù hợp nhằm đảm bảo cho loại hình TCTD là HTX này hoạt động ổn
định và phát triển an toàn, bền vững.
2.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan
a) Trình độ cán bộ của các QTDND còn hạn chế, mặc dù đã được tuyển
chọn theo quy định của NHNN về tiêu chuẩn chức danh, nhưng một số QTDND
mới chỉ đáp ứng được những yêu cầu cơ bản, còn kiến thức chuyên môn, nghiệp
vụ hàng ngày thì chưa được đào tạo hoặc đào tạo ngắn ngày nên quá trình xử lý
công việc còn chưa chuyên nghiệp; Một bộ phận cán bộ chủ chốt làm việc ở
142
QTDND, nhất là ở vùng sâu vùng xa chưa được đào tạo cơ bản về chuyên môn
trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng. Hiệp hội cũng hỗ trợ về nghiệp vụ, đào tạo
chuyên môn và quản lý cho đội ngũ cán bộ nhưng mới dừng lại ở mức độ tổ
chức các chương trình theo dự án để hướng dẫn, đào tạo một số nghiệp vụ cho
cán bộ của các QTDND thành viên tham gia dự án. Bên cạnh đó chức năng liên
kết của NHHTX và Hiệp hội trong đào tạo, tư vấn, hỗ trợ và hướng dẫn nghiệp
vụ… cho các QTDND cũng còn chồng chéo, chưa phân định rõ ràng, dẫn đến
việc triển khai các hoạt động này hiệu quả còn chưa cao.
b) Về công tác cán bộ:
- Trình độ cán bộ QTDND còn ở mức thấp hơn so với cán bộ làm việc ở
các NHTM, phần lớn được đào tạo qua lớp ngắn ngày (45 ngày), một số được
đào tạo Trung cấp, Sơ cấp nhưng ở các ngành, lĩnh vực khác; số cán bộ QTDND
có trình độ Đại học, Cao đẳng về hoạt động ngân hàng rất ít.
- Độ tuổi của cán bộ chủ chốt làm việc ở các QTDND tương đối cao; Mặt
khác do cơ chế lãnh đạo theo nhiệm kỳ nên đội ngũ cán bộ chủ chốt cũng thường
xuyên thay đổi, công tác đào tạo cũng chưa được tổ chức kịp thời, thường xuyên
dẫn đến việc hạn chế khả năng quản lý, điều hành hoạt động QTDND.
- Quan hệ làm việc ở một số QTDND còn mang tính gia đình, tác phong
làm việc còn tuỳ tiện; Ở một số QTDND đã xuất hiện tình trạng phân chia lợi ích
cục bộ. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến các sai phạm trong thực hiện Quy chế
làm việc, quy trình nghiệp vụ và mất đoàn kết, kiện tụng tố cáo nội bộ, làm mất
ổn định hoạt động của QTDND, gây hoang mang, mất niềm tin đối với thành
viên và người dân trên địa bàn.
- Phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận cán bộ QTDND bị
giảm sút, thoái hoá; Đa số các vụ việc vi phạm xảy ra ở QTDND trong những
năm vừa qua đều do cán bộ lợi dụng làm sai, tham ô tham nhũng, gây mất ổn
định, mất an toàn trong hoạt động, thậm chí mất khả năng thanh toán buộc
NHNN Chi nhánh các tỉnh, thành phố phải thu hồi giấy phép hoạt động.
143
c) Công tác kiểm tra, kiểm soát và kiểm toán nội bộ của các QTDND
còn yếu kém
- Do hệ thống QTDND chưa có Trung tâm đào tạo nghiệp vụ, các
QTDND lại hoạt động độc lập với nhau, nên khi có sự thay đổi về cơ chế, chính
sách và các vấn đề liên quan đến hoạt động của hệ thống thì khả năng tiếp nhận
và tiếp thu bị hạn chế. Hiệp hội QTDND cũng đã mở các lớp tập huấn nhưng do
năng lực của cơ quan thường trực Hiệp hội cũng còn hạn chế nên không thể đáp
ứng kịp thời cho cán bộ QTDND được.
- Kể từ khi thành lập đến nay, hầu như chưa có vụ việc sai phạm lớn nào
được phát hiện bởi BKS hoặc kiểm toán nội bộ của QTDND chủ động báo cáo,
mà chủ yếu do các cơ quan quản lý nhà nước phát hiện. Tình trạng BKS của
QTDND chưa phát huy hết vai trò trách nhiệm một phần do trình độ chuyên môn
còn hạn chế; một phần do phong cách làm việc của thành viên BKS mang tính
gia đình, cả nể, thiếu kiểm tra nhắc nhở hoặc do tình trạng lợi ích cục bộ gây ra
mất đoàn kết; thậm chí một số nơi còn xảy ra việc Trưởng BKS hoặc Kiểm soát
viên chuyên trách cùng tham gia vào các vụ việc sai phạm.
d) Về cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu và thiếu tính đồng bộ,
không chỉ ở các QTDND mà ngay cả văn phòng làm việc, trang thiết bị của Hiệp
hội, một số chi nhánh NHHTX còn kém nhiều so với các NHTM.
Kết luận Chương 2
Qua kết quả thu thập, phân tích và đánh giá những thông tin về quá trình
hình thành và phát triển hệ thống QTDND ở Việt Nam, đã cho thấy:
1/ Xu hướng thay đổi của loại hình TCTDHT ở Việt Nam từ HTXTD
sang QTDND và từ mô hình 3 đến mô hình 2 cấp là hoàn toàn phù hợp với điều
kiện thực tế Việt Nam.
2/ Tùy từng điều kiện cụ thể về đặc điểm kinh tế - xã hội, về yêu cầu lịch
sử, về tiến trình nhận thức của xã hội mà loại hình TCTDHT này có những thay
đổi cho phù hợp để hoạt động hiệu quả hơn, bền vững hơn; việc ra đời Hiệp hội
144
QTDND Việt Nam và thành lập Quỹ bảo toàn hệ thống đã giúp bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp cho các QTDND và bảo đảm an toàn cho từng QTDND; thay
đổi mạnh mẽ nhất, hiệu quả nhất đó là việc chuyển đổi QTDND Trung ương
thành NHHTX, sẽ phát huy và nâng cao vai trò của Ngân hàng đầu mối của hệ
thống QTDND. Cho dù loại hình TCTDHT này ở Việt Nam từ khi thành lập đến
nay có lúc thăng lúc trầm, nhưng nó vẫn hoạt động và làm tốt sứ mệnh của mình
ở khu vực nông nghiệp và nông thôn.
3/ Hoạt động của hệ thống trong giai đoạn hiện nay mặc dù đã đạt được
những thành tự đáng kể nhưng vẫn còn tồn tại một số hạn chế ảnh hưởng đến
tính bền vững của hệ thống như sau:
(i) Hạn chế trong hoạt động của QTDND thể hiện trên các mặt: phát triển
xa rời tôn chỉ mục đích của loại hình TCTD là HTX; xa rời tính liên kết hệ
thống; quản lý, điều hành, kiểm soát của các QTDND còn nhiều bất cập; Hạn
chế trong cạnh tranh khi cho vay khách hàng với các NHTM ở gần/ cùng địa bàn
hoạt động; phương thức cho vay của các QTDND chưa có sự gắn kết chặt chẽ
giữa nhu cầu vay vốn thực sự của thành viên với các quy định cho vay.
(ii) Hạn chế và bất cập của tổ chức đầu mối là NHHTX trong việc hỗ trợ
các QTDND phát triển an toàn và bền vững (Hạn chế về vai trò đầu mối liên kết
hệ thống, hạn chế về vai trò kiểm tra giám sát, cảnh báo).
(iii) Hạn chế trong việc hoàn thiện mô hình liên kết hệ thống QTDND:
Việc triển khai tư vấn về chuyên môn, nghiệp vụ cho QTDND của Hiệp hội
QTDND còn hạn chế; Hoạt động của Cơ quan thường trực Hiệp hội và các văn
phòng đại diện còn hạn chế, chưa thể hiện được vai trò cầu nối giữa các QTDND
hội viên với các cơ quan quản lý nhà nước và NHHTX.
(iv) Hạn chế của công tác quản lý nhà nước đối với hệ thống QTDND:
Không có cơ quan chuyên trách quản lý hệ thống QTDND; Các quy định về tổ
chức, hoạt động, chưa thật sự phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong tổ chức hoạt
động của QTDND; Công tác quản lý, kiểm tra, thanh tra giám sát hoạt động
QTDND của một số NHNN chi nhánh tỉnh/thành phố chưa tốt…
145
Nguyên nhân của những hạn chế đó là:
(i) Nguyên nhân khách quan
- Cơ chế, chính sách về QTDND còn tồn tại nhiều vấn đề; cơ chế, chính
sách về tổ chức và hoạt động của các QTDND còn chưa phù hợp; Hệ thống các
văn bản liên quan đến hoạt động của hệ thống còn chồng chéo và bất cập.
- Vai trò quản lý nhà nước còn mờ nhạt, thiếu tính kịp thời.
(ii) Nguyên nhân chủ quan.
- Trình độ cán bộ của các QTDND còn hạn chế.
- Về công tác cán bộ còn chưa có những chiến lược phù hợp.
- Công tác kiểm tra, kiểm soát và kiểm toán nội bộ của các QTDND còn
yếu kém.
4/ Để hệ thống QTDND ngày càng phát triển một cách bền vững, đáp ứng
tốt hơn yêu cầu của thực tiễn, đòi hỏi phải có những giải pháp dựa trên những
đặc điểm nội tại, những tồn tại và nguyên nhân của nó.
146
Chương 3
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG HỆ THỐNG
QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM
3.1. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN BỀN
VỮNG CỦA HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM
Nền kinh tế nước ta đang ngày càng hội nhập sâu hơn, rộng hơn với kinh tế
khu vực và kinh tế thế giới; Một số đợt khủng hoảng tài chính toàn cầu những
năm gần đây đã tạo ra cho ngành ngân hàng nói chung và hệ thống QTDND nói
riêng nhiều cơ hội nhưng cũng phải đối mặt với không ít thách thức. Các
QTDND phải tận dụng được các cơ hội, đồng thời vượt qua khó khăn, thách thức
để phát triển bền vững.
3.1.1. Cơ hội
Một là, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến khu vực kinh tế tập thể,
trong đó có loại hình TCTD là HTX như hệ thống QTDND. Hơn nữa, loại hình
QTDND đã được Đảng và Nhà nước chủ trương xây dựng và được kiểm nghiệm
hơn 22 năm qua, khẳng định là phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam, nhất
là ở khu vực nông thôn.
Hai là, những kết quả và thành tựu đã đạt được trong hơn 22 năm qua đã
khiến người dân ngày càng tin tưởng và tham gia tích cực hơn vào hệ thống
QTDND. Đây là một trong những yếu tố rất thuận lợi để các QTDND mở rộng
quy mô hoạt động.
Ba là, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm và huy động mọi nguồn
lực để phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, đồng thời đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp
nhỏ và vừa, trong khi hoạt động của QTDND gắn liền với khu vực nông nghiệp,
nông thôn và sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Do đó, nhu
cầu về vốn cho đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và phục vụ đời
147
sống cho khu vực nông thôn và doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ ngày càng tăng cao,
tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của hệ thống QTDND.
Bốn là, hệ thống các TCTD đang triển khai tích cực việc cơ cấu lại theo
Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2012 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 -
2015", theo đó hệ thống QTDND cũng phải thực hiện cơ cấu lại theo Đề án này
và đã có kết quả nhất định và có nhiều đổi mới cả về mô hình tổ chức, năng lực
quản trị, cũng như quy mô và chất lượng hoạt động.
Năm là, nền kinh tế nước ta đã và đang hội nhập sâu, rộng vào khu vực và
quốc tế, Việt Nam đã ký nhiều các cam kết kinh tế với nhiều khối, quốc gia ở
khu vực và thế giới, nên Việt Nam đang hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về ngân
hàng nói chung và về QTDND nói riêng theo hướng linh hoạt, phù hợp với
thông lệ quốc tế và phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
Sáu là, lĩnh vực tài chính ngân hàng ngày càng mở rộng các quan hệ hợp
tác với các tổ chức, quốc gia trên thế giới, đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa
thông qua các chương trình, dự án hỗ trợ kỹ thuật từ nước ngoài. Hơn nữa, loại
hình TCTD là HTX cũng được nhiều chính phủ, quốc gia quan tâm phát triển,
các tổ chức tài chính quốc tế, các cơ quan của Liên hiệp quốc nghiên cứu triển
khai nhiều chương trình hỗ trợ cho các nhóm đối tượng bị hạn chế điều kiện tiếp
cận các dịch vụ tài chính. Nhờ đó, hệ thống QTDND ngày càng có nhiều cơ hội
để tiếp cận, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm với các loại hình TCTD là HTX ở các
nước trên thế giới và có điều kiện tiếp nhận các chương trình, dự án hỗ trợ kỹ
thuật của các chính phủ, các tổ chức quốc tế.
3.1.2. Thách thức
3.1.2.1. Đối với loại hình Quỹ tín dụng nhân dân
Một là, kinh tế thế giới liên tục thay đổi và có nhiều diễn biến phức tạp, khó
lường, đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế của Việt Nam, theo đó
hệ thống các TCTD nói chung và các QTDND nói riêng phải đối mặt với nhiều
khó khăn thách thức.
148
Hai là, sự đổ vỡ của loại hình TCTD là HTX trước đây – trước khi
QTDND được thí điểm thành lập năm 1993, với tên gọi là HTXTD vẫn còn có
ảnh hưởng đến niềm tin của một bộ phận người dân đối với loại hình này.
Ba là, QTDND là TCTD hoạt động kinh doanh ngân hàng ở khu vực nông
thôn, tiềm ẩn rất nhiều rủi ro về môi trường tự nhiên (thiên tai, dịch bệnh,...), về
môi trường kinh tế, xã hội. Do đó, hoạt động tín dụng của các QTDND cũng dễ
gặp rủi ro trong hoạt động.
Bốn là, nền kinh tế ngày càng phát triển thì sự chênh lệch giữa khu vực đô
thị và nông thôn, giữa miền núi và đồng bằng ngày càng lớn, các QTDND hoạt
động ở các vùng kinh tế không đồng đều, mặc dù có cùng tên gọi nhưng mỗi
QTDND lại có những chiến lược phát triển khác nhau phù hợp với điều kiện
kinh tế xã hội địa phương, đồng thời phải chủ động hỗ trợ, liên kết chặt chẽ với
nhau trong hệ thống đảm bảo an toàn, bền vững.
3.1.2.2. Đối với nội tại của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân
Một là, sức cạnh tranh trong nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính
nói riêng ngày càng khốc liệt, các NHTM và các TCTD khác đang tìm cách xâm
nhập vào khu vực nông thôn, do đó các QTDND sẽ phải đương đầu với sức ép
cạnh tranh ngày càng lớn từ các NHTM có quy mô hoạt động lớn hơn, trình độ
công nghệ cao hơn, sản phẩm dịch vụ ngân hàng phong phú hơn; năng lực cán
bộ và cơ sở vật chất tốt hơn nhiều QTDND; trong khi hầu hết các QTDND chưa
xây dựng được chiến lược phát triển, nhất là chiến lược phát triển thị trường để
có thể cạnh tranh được với các loại hình TCTD khác.
Hai là, nhu cầu về vốn trung, dài hạn ở khu vực nông nghiệp, nông thôn
ngày càng lớn trong khi khả năng nguồn vốn này của các QTDND rất hạn chế,
nên các QTDND sẽ gặp khó khăn trong hoạt động.
Ba là, cơ sở vật chất nghèo nàn, vốn tự có thấp, trình độ công nghệ hạn chế
khiến cho QTDND gặp khó khăn trong việc mở rộng quy mô và nâng cao hiệu
quả hoạt động.
149
Bốn là, việc thu hút và giữ cán bộ có trình độ, có năng lực làm việc cho
QTDND gặp nhiều khó khăn trong điều kiện quy mô QTDND nhỏ, mà cạnh
tranh trên thị trường lao động cũng khốc liệt.
Năm là, các QTDND hoạt động với mục tiêu tương trợ giúp đỡ lẫn nhau,
không vì mục tiêu lợi nhuận nhưng trong bối cảnh phải cạnh tranh thị trường với
các NHTM, các QTDND rất dễ xa rời mục tiêu, chạy theo lợi nhuận trong khi
khả năng về vốn và năng lực quản lý hạn chế sẽ rất dễ xảy ra mất vốn, gây bất ổn
cho các QTDND.
3.2. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN
DÂN
3.2.1. Quan điểm có tính định hướng phát triển hệ thống Quỹ tín dụng nhân
dân
1/ Loại hình TCTD này phát triển được hơn 20 năm, đã trở thành một bộ
phận quan trọng trong hệ thống các TCTD, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn trong
khu vực nông thôn và từng bước tại khu vực đô thị, tham gia phục vụ người
nghèo, người có thu nhập thấp, các doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ. Vì
vậy, QTDND sẽ tiếp tục tồn tại và cần được phát triển theo hướng lành mạnh, an
toàn, bền vững. Hơn nữa, trong Luật Các TCTD năm 2010 cũng xác định rõ định
hướng phát triển loại hình TCTD là HTX bao gồm NHHTX và QTDND.
2/ Loại hình QTDND luôn quán triệt nguyên tắc HTX, không đi chệch mục
tiêu, chính vì vậy các QTDND không thể phát triển thành NHTM đa năng.
3/ Hiện nay, với số lượng 1.166 QTDND, loại hình TCTD này vừa duy trì
hoạt động hiệu quả, an toàn, bền vững, vừa củng cố các QTDND yếu kém, vừa
xem xét cho thành lập mới hoặc phát triển quy mô. Các QTDND sẽ tiếp tục tăng
trưởng cả về số lượng và quy mô tài sản: Ở những nơi, những lĩnh vực có nhu
cầu và đủ điều kiện thành lập thì cho phép ra đời QTDND; những QTDND hiện
có nếu có đủ năng lực tài chính, năng lực quản trị điều hành và đủ điều kiện theo
quy định thì có thể mở rộng, phát triển quy mô, đảm bảo hiệu quả, an toàn.
150
4/ Các QTDND đảm bảo tính liên kết chặt chẽ hơn, phát triển năng lực tài
chính, năng lực quản lý của các tổ chức hỗ trợ liên kết hệ thống hiện có (Hiệp
hội QTDND Việt Nam, NH HTX); tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ
chế, định chế hỗ trợ hệ thống QTDND; hình thành mới các tổ chức tham gia hỗ
trợ hệ thống QTDND.
5/ Là TCTD nên loại hình QTDND cũng đang thực hiện cơ cấu lại như các
loại hình TCTD khác, nên trong xu thế chung này, tổ chức và hoạt động của hệ
thống này sẽ được cải thiện.
3.2.2. Nguyên tắc phát triển bền vững
Trên cơ sở định hướng chung nêu trên, việc phát triển của hệ thống
QTDND được xác định theo các nguyên tắc sau:
Một là, hệ thống QTDND muốn PTBV thì mục tiêu, cơ cấu tổ chức và hoạt
động phải theo nguyên tắc HTX; Đây là nguyên tắc đặc trưng của QTDND so
với các loại hình TCTD khác. QTDND không thể phát triển được nếu xa rời mục
tiêu tương trợ cộng đồng, tuy nhiên để PTBV, QTDND cũng phải hoạt động có
lãi để bảo tồn nguồn vốn và có tích lũy để tăng cường năng lực tài chính, đồng
thời nâng cao khả năng phục vụ thành viên.
Cơ cấu tổ chức của QTDND phải đảm bảo được tính dân chủ, bình đẳng,
đó là: Mọi tổ chức, cá nhân tự nguyện gia nhập nếu có đủ các điều kiện hoặc ra
khỏi QTDND theo quy định; (ii) Mọi thành viên đều có quyền ngang nhau trong
việc tham gia vào các quyết định quan trọng và được quyền tham gia vào bộ
máy quản trị, điều hành, kiểm soát của QTDND. Tính bình đẳng ở đây thể hiện
ở nguyên tắc “mỗi thành viên - một phiếu bầu” chứ không phụ thuộc vào số vốn
góp, điều này còn có ý nghĩa sâu xa là không một tổ chức hay cá nhân nào có
quyền thâu tóm quyền lực hoặc gây tác động ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt
động của QTDND.
Hai là, các QTDND vừa duy trì củng cố, chấn chỉnh, làm lành mạnh hóa
hoạt động, vừa hoàn thiện mô hình hệ thống để nâng cao năng lực quản trị và
năng lực tài chính để hệ thống PTBV. Mỗi QTDND là một pháp nhân độc lập,
151
nhưng lại có sự thống nhất về mục tiêu, nguyên tắc tổ chức, hoạt động và có
cùng biểu tượng; hơn nữa, hoạt động ở những nơi người dân sinh sống, hoạt
động sản xuất kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp – khu vực kinh tế
nhạy cảm, dễ bị tổn thương, rất dễ gây ảnh hưởng tâm lý và tác động lan chuyền
lớn. Mặt khác, quy mô của mỗi QTDND còn rất nhỏ lại hoạt động trên những
địa bàn khác nhau, có đặc điểm, lợi thế, khó khăn khác nhau dẫn tới việc có lúc
QTDND bị rơi vào tình trạng khó khăn do khách hàng của QTDND chủ yếu là
những người làm ăn, sinh sống trên địa bàn đó gặp khó khăn. Vì vậy việc hoàn
thiện mô hình hệ thống đòi hỏi một quy trình khoa học, hợp lý, tránh gây xáo
trộn hoạt động của các QTDND.
Ba là, hệ thống QTDND PTBV thì cần phải tách bạch chức năng kinh
doanh phục vụ thành viên với chức năng hỗ trợ liên kết phát triển hệ thống. Như
đã nêu ở Chương I, kinh nghiệm của các nước xây dựng mô hình thành công thì
hệ thống QTDND thường gồm: Bộ phận trực tiếp kinh doanh phục vụ thành
viên gồm các QTDND và NHHTX; Bộ phận liên kết phát triển hệ thống (gồm:
Cơ quan điều phối – Hiệp hội và các thiết chế do các QTDND và NHHTX thành
lập nên để thực hiện các hoạt động liên kết phát triển.
Bốn là, do các nguồn lực về vốn, nhân lực, công nghệ của hệ thống
QTDND còn yếu nên để PTBV, hệ thống QTDND cần tăng cường sự liên kết
giữa các QTDND nhằm tối đa hóa các nguồn lực, chia sẻ rủi ro và tận dụng
được mạng lưới rộng lớn của hệ thống QTDND, tăng khả năng phục vụ khách
hàng, nâng cao sức cạnh tranh của hệ thống với các loại hình TCTD khác.
Năm là, PTBV hệ thống QTDND theo hướng đa dạng hóa và nâng cao tính
tiện ích của các sản phẩm dịch vụ. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu
cầu của thành viên đối với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng ngày càng đòi hỏi
cao hơn, đa dạng, phong phú hơn, trong khi các sản phẩm dịch vụ từ các NHTM
phát triển mạnh mẽ, vì vậy đòi hỏi các QTDND cần cải thiện để tăng tính tiện
ích cho các sản phẩm đang là lợi thế của mình, đồng thời đầu tư nâng cao và
phát triển các sản phẩm dịch vụ mới để phục vụ thành viên của mình.
152
Sáu là, hướng tới phát triển hệ thống QTDND trở thành một định chế tài
chính lớn với mạng lưới rộng khắp, đến tận các vùng sâu, vùng xa, khó khăn
trên toàn quốc. Tổ chức này có mối liên kết về sở hữu, về thị trường, về sản
phẩm; tập hợp nguồn lực, chia sẻ rủi ro, nâng cao sức cạnh tranh để đạt được
mục tiêu chung của hệ thống QTDND.
3.2.2. Mục tiêu phát triển bền vững cho hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân
Thứ nhất, phát triển số lượng QTDND ở những nơi có nhu cầu
Như phân tích ở chương I và chương II, các QTDND chỉ PTBV khi hoạt
động đúng mục tiêu và nguyên tắc HTX, vì thế với năng lực quản lý và năng lực
tài chính của loại hình TCTD này không thể phát triển như NHTM đa năng
được, trong khi ở nhiều nơi nguồn vốn tín dụng và dịch vụ ngân hàng vẫn còn
chưa đến được nhiều đối tượng, nên thời gian tới NHNN tiếp tục cho phép thành
lập mới các QTDND ở những nơi có đủ điều kiện, trong đó trọng tâm là phát
triển ở những địa bàn nông nghiệp, nông thôn nơi mạng lưới các TCTD chưa
phát triển; nghiên cứu thí điểm thành lập một số QTDND ngành nghề để thúc
đẩy khu vực kinh tế HTX tại đô thị, đồng thời tăng cường tính liên kết trong hệ
thống giữa 2 loại hình QTDND ngành nghề và QTDND cộng đồng.
Để đáp ứng vốn và dịch vụ ngân hàng thông qua QTDND cho khu vực
nông thôn, khu vực doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ,... theo định hướng và xu hướng
phát triển kinh tế chung thì mục tiêu từ nay đến năm 2020, số lượng QTDND là
1.200 và đến năm 2030 sẽ là 1.400.
Thứ hai, nâng cao khả năng cung ứng vốn và dịch vụ ngân hàng của
QTDND cho các đối tượng khó hoặc không có điều kiện tiếp cận vốn của các
NHTM
Với nguyên tắc tổ chức và hoạt động là tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau nên
việc phát triển QTDND sẽ giải quyết và phát huy có hiệu quả nguồn vốn tại chỗ,
nhỏ lẻ trong dân thông qua khuyến khích tiết kiệm, sử dụng có hiệu quả nguồn
vốn tiết kiệm của các thành viên để hỗ trợ các nhu cầu về vốn cho sản xuất, kinh
153
doanh, cải thiện đời sống cho các thành viên, hướng tới phục vụ người nghèo,
người có thu nhập thấp, các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.
Bên cạnh đó, nâng cao năng lực về tài chính cho tổ chức đầu mối là
NHHTX để cung ứng, điều hòa vốn, dịch vụ ngân hàng cho các QTDND nhằm
đáp ứng nhu cầu cho các thành viên của QTDND thực hiện các hoạt động sản
xuất kinh doanh.
Thứ ba, phát triển đảm bảo an toàn cho từng QTDND và cho cả hệ thống
Với đặc trưng riêng của loại hình TCTD này, QTDND phát triển an toàn thì
không thể đi “chệch“ mục tiêu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của mình; thực
hiện nghiêm các quy định về bảo đảm an toàn, phòng ngừa rủi ro; quản trị, kiểm
soát tốt, hiệu quả. Các QTDND cần thiết lập mối liên kết chặt chẽ với nhau, mỗi
QTDND là một pháp nhân độc lập hoạt động trên một địa bàn riêng biệt, trong
quá trình hoạt động các QTDND thường gặp khó khăn bất thường nếu không có
sự hỗ trợ kịp thời trong hệ thống thì khó có thể vượt qua. Hơn nữa, các QTDND
có quy mô nhỏ, năng lực tài chính hạn hẹp, cơ sở vật chất, kỹ thuật hạn chế khó
có thể phát triển trong môi trường cạnh tranh. Việc các QTDND liên kết với
nhau là tất yếu khách quan, đúng với đặc tính của loại hình TCTD hợp tác là
tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, phát huy sức mạnh đoàn kết của hệ thống.
Thứ tư, nâng cao năng lực tài chính và tăng cường kiểm tra, giám sát
các QTDND cho các tổ chức hỗ trợ hệ thống: NHHTX, Quỹ bảo toàn hệ
thống
Thứ năm, tạo lập các tổ chức kiểm toán, tổ chức tư vấn cho hệ thống
QTDND
Hiện nay, hệ thống QTDND mới chỉ được đảm bảo an toàn bằng liên kết
nghiệp vụ điều hòa vốn thông qua NHHTX và cho vay hỗ trợ khó khăn thông
qua Quỹ bảo toàn. Nhưng hoạt động của các QTDND luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro
nên mục tiêu của hệ thống là tiếp tục xây dựng cơ chế an toàn cho các QTDND.
Bên cạnh đó, hệ thống QTDND cần có cơ quan kiểm toán riêng để kiểm toán
154
tính tuân thủ của các QTDND, cảnh báo, tư vấn cho QTDND hoạt động đúng
mục tiêu và PTBV.
3.3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG
NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM
3.3.1. Giải pháp phát triển bền vững đối với từng Quỹ tín dụng nhân dân
3.3.1.1. Xây dựng chiến lược phát triển
- Đối với các QTDND hiện có căn cứ tình hình kinh tế xã hội địa phương,
nhu cầu vốn, khả năng huy động vốn; các loại hình, số lượng các định chế tài
chính có mặt ở địa phương để xây dựng chiến lược phát triển phù hợp, đảm bảo
hoạt động ổn định, bền vững.
- Đối với những địa phương có nhu cầu thành lập QTDND trên địa bàn
hoặc theo ngành nghề ngoài những căn cứ trên cần nghiên cứu thêm cả lĩnh vực
ngành nghề hoạt động để xây dựng kế hoạch thành lập, kế hoạch sản xuất kinh
doanh và chiến lược phát triển phù hợp.
3.3.1.2. Hoàn thiện các quy trình nội bộ
Các QTDND dựa trên các quy định của NHNN xây dựng các quy định,
quy trình nghiệp vụ như: Quy chế làm việc của HĐQT; KBS; Quy trình cho vay,
quy trình nghiệp vụ tín dụng bảo đảm tăng cường sự giám sát của QTDND và
của cả các thành viên đối với thành viên vay vốn, làm cơ sở cho việc nâng cao
chất lượng và hiệu quả hoạt động tín dụng; Quy trình kiểm soát nội bộ; …
3.3.1.3. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản trị, điều hành, kiểm soát hoạt
động Quỹ tín dụng nhân dân
Thông qua việc đào tạo, đào tạo lại nhằm nâng cao kiến thức nghiệp vụ tài
chính ngân hàng, khả năng quản trị, điều hành và kiểm soát và đạo đức nghề
nghiệp; QTDND cần xây dựng kế hoạch đào tạo, đào tạo lại hàng năm và tập
huấn nghiệp vụ mới; Chủ động liên hệ, đề xuất, kiến nghị để nhân sự QTDND
được tham gia các khóa đào tạo do Hiệp hội, NHHTX, NHNN tổ chức.
155
Có quy chế tuyển dụng trong đó quy định rõ tiêu chuẩn, ưu tiên những
người có trình độ, được đào tạo chính quy để vào các vị trí nghiệp vụ, tiếp tục
đào tạo, bồi dưỡng để giao giữ các nhiệm vụ quan trọng của QTDND.
Cần phân tách rõ nhiệm vụ, trách nhiệm của Ban kiểm soát, tránh bị chi
phối của HĐQT và Ban Giám đốc (hay Ban điều hành). Nâng cao tính độc lập
của BKS và nhất là kiểm soát viên chuyên trách để ngăn ngừa và phòng tránh
những nguy cơ mất an toàn của các QTDND.
3.3.1.4. Nâng cấp, hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và nâng cao năng
lực công nghệ thông tin của các Quỹ tín dụng nhân dân
Mỗi QTDND cần chú trọng đầu tư xây dựng trụ sở, các trang thiết bị, hệ
thống thông tin quản lý, tin học hóa trong quản trị, điều hành nghiệp vụ, bảo đảm
100% QTDND có cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu an toàn hoạt động và được lắp
đặt internet, fax; Hoàn thiện lắp đặt hệ thống thông tin quản lý thống nhất trong
toàn hệ thống để các QTDND hoạt động chuyên nghiệp.
3.3.1.5. Cơ cấu lại hoạt động của các Quỹ tín dụng nhân dân theo hướng tập
trung cho vay vốn đối với các thành viên và người nghèo
Phát triển các dịch vụ ngân hàng của QTDND thông qua đầu mối
NHHTX phù hợp với năng lực quản trị của QTDND và hướng tới phục vụ ngày
một tốt hơn cho các thành viên và khách hàng trên địa bàn nông nghiệp - nông
thôn, vùng khó khăn, góp phần hỗ trợ phát triển cộng đồng – đúng mục tiêu hoạt
động của loại hình TCTDHT.
1) Đối với các QTDND hoạt động trên địa bàn một xã và hiện đang hoạt
động bình thường: Tiếp tục phát triển về quy mô và nâng cao chất lượng, hiệu
quả hoạt động mà trọng tâm là chất lượng tín dụng, năng lực quản trị, điều hành,
an toàn thanh khoản, hoạt động tuân thủ đúng quy định pháp luật và mục tiêu hỗ
trợ thành viên:
- Nâng cao năng lực tài chính của QTDND theo hướng tăng vốn điều lệ,
thu hút thêm thành viên mới trên cơ sở gắn kết giữa mở rộng nguồn vốn với hỗ
trợ cho vay thành viên.
156
- Đa dạng hóa các phương thức huy động vốn của QTDND trong đó chú
trọng nâng dần tỷ trọng huy động vốn từ thành viên, kể cả các khoản tiền gửi có
quy mô nhỏ, lẻ nhưng có tính ổn định lâu dài.
2) Đối với QTDND hoạt động trên địa bàn liên xã và hiện đang hoạt động
bình thường: Cơ cấu lại nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động mà trọng
tâm là chất lượng tín dụng, năng lực quản trị, điều hành, an toàn thanh khoản,
hoạt động đúng quy định của pháp luật và mục tiêu hỗ trợ thành viên; đồng thời
đa dạng hoá phương thức huy động vốn, trong đó chú trọng nâng dần tỷ trọng
huy động vốn từ thành viên, các QTDND loại này sẽ phải tập trung xử lý điều
chỉnh địa bàn hoạt động theo quy định.
3) Đối với QTDND yếu kém
- Tiếp tục củng cố, chấn chỉnh tổ chức và hoạt động của các QTDND yếu
kém (loại 4 và 5 theo quy định về xếp loại QTDND hàng năm của NHNN) nhằm
từng bước khắc phục khó khăn, yếu kém, khôi phục hoạt động trở lại bình
thường.
- Các QTDND yếu kém tiến hành đánh giá về tình hình, làm rõ các
nguyên nhân khách quan, chủ quan để có hướng xử lý, giải quyết. Trong quá
trình củng cố, chấn chỉnh các QTDND cần có sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của
NHNN Chi nhánh tỉnh, thành phố và tranh thủ tối đa sự ủng hộ của cấp ủy, chính
quyền địa phương.
- Trong quá trình xử lý củng cố chấn chỉnh, các QTDND yếu kém được
vay vốn hỗ trợ từ NHHTX hoặc Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống để giải quyết khó
khăn thanh khoản, khôi phục hoạt động
- Đối với các QTDND yếu kém có tỷ lệ nợ xấu cao cần tập trung chỉ đạo
xử lý nợ xấu; đồng thời các QTDND cần triển khai thực hiện nghiêm túc các quy
định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro theo quy định của
pháp luật.
- Xử lý dứt điểm các vi phạm pháp luật trong hoạt động của các QTDND
yếu kém.
157
- Đối với các QTDND yếu kém có địa bàn hoạt động liên xã, bên cạnh
việc phải triển khai các giải pháp củng cố, chấn chỉnh nêu trên, các QTDND này
còn phải thực hiện điều chỉnh địa bàn hoạt động theo quy định.
- Đối với QTDND yếu kém hoạt động thua lỗ kéo dài, mất khả năng chi
trả sau khi đã áp dụng các biện pháp chấn chỉnh, củng cố mà vẫn không khắc
phục trở lại hoạt động bình thường sẽ phải xử lý thu hồi giấy phép hoạt động,
giải thể, thanh lý theo quy định của pháp luật.
4) Đối với QTDND có biểu hiện đi chệch nguyên tắc HTX
Khắc phục triệt để những tồn tại hiện có, đưa hoạt động của các QTDND
này theo đúng nguyên tắc HTX và tuân thủ mục tiêu hỗ trợ thành viên, tương trợ
cộng đồng.
5) Tiến hành sáp nhập, hợp nhất các QTDND có quy mô nhỏ, có địa bàn
hoạt động liền kề nhau. Việc sáp nhập, hợp nhất sẽ tạo điều kiện cho các
QTDND nâng cao năng lực tài chính, giảm thiểu chi phí vận hành và cải thiện
hiệu quả hoạt động.
3.3.1.6. Mở rộng, điều chỉnh phạm vi hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân
có địa bàn hoạt động liên xã
Phạm vi hoạt động của các QTDND liên xã là các xã liền kề với xã mà
QTDND đặt trụ sở chính thuộc phạm vi trong cùng một quận, huyện, thị xã,
thành phố trực thuộc tỉnh. Trên cơ sở đó, các QTDND liên xã có phạm vi địa bàn
hoạt động rộng hơn (hoạt động trên địa bàn nhiều xã hơn) thì càng phải đáp ứng
yêu cầu tiêu chí về an toàn và PTBV cao hơn.
Đối với các QTD liên xã này có thể thành lập chi nhánh hoặc phòng giao
dịch ở các xã, phường liền kề với xã có trụ sở chính.
3.3.1.7. Thành lập Quỹ tín dụng nhân dân mới cần phải nghiên cứu về môi
trường kinh tế, địa phương nơi có nhu cầu
Xuất phát từ nhu cầu của địa phương, nơi đó người dân cần vốn để sản
xuất kinh doanh và cải thiện đời sống nhưng hầu như không hoặc rất ít có điều
kiện tiếp cận các nguồn vốn tín dụng ngân hàng; một số người có năng lực quản
158
lý và được sự ủng hộ của các cấp chính quyền địa phương. Đồng thời cần phải
nghiên cứu thị trường: điều kiện kinh tế xã hội, số lượng các loại hình TCTD có
mặt ở địa phương đó để đảm bảo phân khúc khách hàng của QTDND không bị
các TCTD khác xâm lấn nhiều.
3.3.2. Tăng cường tính liên kết giữa các Quỹ tín dụng nhân dân
3.3.2.1. Liên kết để phát triển bền vững
Với mỗi nội dung, mỗi giai đoạn liên quan đến quá trình phát triển của hệ
thống QTDND, cần có sự phân công phân cấp một cách rõ ràng, tránh tình trạng
khi thì chồng chéo, khi thì có những khoảng trống dẫn đến sự vận hành của cả hệ
thống chậm chạp, kém hiệu quả.
Hệ thống QTDND cần được phân cấp rõ ràng nhưng cũng cần phải đáp
ứng các tiêu chuẩn liên kết bền vững, đó là các giải pháp sau:
a) Tăng cường khả năng đưa các nguồn lực của các QTDND vào sử dụng
chung và khả năng tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ chung
Các QTDND thường có quy mô nhỏ, năng lực quản lý, năng lực tài chính
hạn chế, chính vì vậy các QTDND cần xác định có trách nhiệm đối với hệ thống
của mình bằng cách tham gia tích cực các tổ chức của hệ thống như Hiệp hội
QTDND, Quỹ bảo toàn hệ thống, Quỹ dự phòng khả năng chi trả, Quỹ bảo hiểm
tương hỗ và các tổ chức hỗ trợ khác để các QTDND vừa thực hiện tương trợ
giúp đỡ lẫn nhau – đúng tôn chỉ hoạt động, vừa khai thác và phát huy các nguồn
lực của từng QTDND tạo sức mạnh liên kết hệ thống. Bên cạnh đó, các QTDND
có thể tiếp cận được các sản phẩm, dịch vụ chung của hệ thống.
b) Chuẩn hóa quy trình hệ thống
Đó là việc chuẩn hóa các quy trình hoạt động nghiệp vụ, các thể lệ, chính
sách, các sản phẩm dịch vụ và tạo dựng hình ảnh hệ thống. Qua phân tích ở
Chương 2, hiện nay các QTDND đã có hệ thống tương đối đầy đủ các thể chế,
quy định, hồ sơ mẫu để các QTDND có thể căn cứ vào hệ thống tài liệu này xây
dựng các văn bản riêng của mình cho phù hợp, từ hồ sơ thành lập cho đến các
văn bản (điều lệ, các quy định nội bộ, chính sách, các sản phẩm dịch vụ,...). Tuy
159
nhiên, hệ thống các văn bản này chưa được quản lý một cách thống nhất. Vì vậy,
tác giả đề xuất việc quản lý và tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản, quy trình
nghiệp vụ, thể lệ, chính sách, hình ảnh hệ thống tập trung ở một đơn vị trực
thuộc Hiệp hội QTDND, có thể là Trung tâm thông tin để quản lý và hướng dẫn
các QTDND.
Các QTDND khi xây dựng chiến lược và các quy tắc nội bộ cho các
QTDND cần đảm bảo yêu cầu cơ cấu tổ chức có tính đại diện dân chủ và tập
trung quyền lực quản lý, tuân thủ nguyên tắc hoạt động của loại hình TCTDHT
là tương trợ giúp đỡ lẫn nhau; có cơ chế giám sát nội bộ trong từng quy trình
công việc cũng như giám sát các chức danh quản trị, điều hành. Xây dựng cơ chế
gia nhập và ra khỏi hệ thống QTDND rõ ràng về quyền lợi, nghĩa vụ và trách
nhiệm.
c) Tăng cường liên kết hệ thống thông qua các hợp đồng giữa các
QTDND
i- Tương quan quy mô của các QTDND, đó là các QTDND có quy mô
khác nhau cần có ký kết hợp đồng thỏa thuận khai thác hoạt động, cũng như phát
triển các dịch vụ tài chính ngân hàng phù hợp, tránh tình trạng trong hệ thống có
hiện tượng „cá lớn nuốt cá bé“ hoặc cạnh tranh không lành mạnh.
ii- Đóng góp các loại phí: Như đã nêu ở trên, việc tham gia các quỹ của
hệ thống là nghĩa vụ và trách nhiệm của các QTDND để đảm bảo tính liên kết hệ
thống; tuy nhiên khi xây dựng quy chế quản lý các quỹ này cần tính toán các
mức phí cho phù hợp với từng nhóm, đảm bảo an toàn và phát triển cho hệ
thống.
iii- Chú trọng kiểm soát mở rộng các điểm giao dịch: Khi một QTDND có
nhu cầu mở rộng các điểm giao dịch, cơ quan quản lý (cụ thể là NHNN) cần xem
xét nhiều yếu tố bên ngoài và nội tại của QTDND đó để ra quyết định, đảm bảo
an toàn, hiệu quả và không xâm lấn địa bàn hoạt động của các QTDND liền kề.
iv- Hệ thống điều hòa vốn từ NHHTX đến các QTDND có nhu cầu đảm
bảo kịp thời, lãi suất hợp lý. Chính vì vậy, cần phát triển NHHTX đủ mạnh về
160
quy mô, năng lực tài chính, trình độ quản trị, công nghệ để thực sự đóng vai trò
làm đầu mối điều hòa, cân đối vốn trong hệ thống QTDND và có khả năng chăm
sóc, hỗ trợ có hiệu quả cho các QTDND.
v- Cơ chế an toàn hệ thống
* Phát huy vai trò của Quỹ bảo toàn hệ thống trong việc bảo đảm sự ổn
định của các QTDND
Quỹ bảo toàn đóng một vai trò quan trọng, bảo đảm cho các QTDND hoạt
động an toàn, hiệu quả. Điều đó cũng đã được chứng minh qua kinh nghiệm hơn
100 năm phát triển của QTD Desjardins - Canada và thực tiễn triển khai những
năm qua ở Việt Nam.
Cơ chế an toàn hệ thống được xây dựng thông qua cơ chế đóng phí và sử
dụng Quỹ bảo toàn hệ thống.
- Đóng phí là để hướng đến mục tiêu an toàn và phát triển bền vững hệ
thống QTDND.
Tại Thông tư 06/2017/TT-NHNN ngày 5/7/2017 của Thống đốc NHNN
sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư 03/2014/TT-NHNN ngày 23/01/2014
quy định về Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND và Thông tư 04/2015/TT-
NHNN ngày 31/03/2015 quy định về QTDND quy định mức phí trích nộp Quỹ
bảo toàn hàng năm 0,08% dư nợ cho vay bình quân năm liền kề trước kết thúc
vào ngày 31/12 của NHHTX, QTDND.
Mức trích nộp Quỹ bảo toàn hệ thống 0,08% không ảnh hưởng nhiều tới
chi phí tài chính của QTDND, trừ những QTDND vốn đã có kết quả kinh doanh
thua lỗ. Thực tiễn đã khẳng định việc an toàn trong hoạt động để phát triển bền
vững là mục tiêu quan trọng hàng đầu vì thế mức đóng phí 0,08% dư nợ cho vay
bình quân năm liền kề là hợp lý.
Khi nào tổng nguồn vốn hoạt động của Quỹ bảo toàn đạt 1,5 lần tổng tài
sản có của hệ thống, Quỹ bảo toàn sẽ tạm thời ngừng thu phí tham gia của các
thành viên, nhưng vẫn thu phí từ NHHTX và các QTDND của năm đó; sẽ tiếp
tục thu phí khi tổng nguồn vốn hoạt động của Quỹ bảo toàn thấp hơn mức nêu
161
trên. Khi Quỹ bảo toàn đủ lớn và đủ khả năng hỗ trợ xử lý rủi ro, NHHTX (với
tư cách là tổ chức đầu mối quản lý Quỹ bảo toàn) sẽ tham mưu và đề xuất
NHNN và Chính phủ xem xét miễn, giảm phí bảo hiểm tiền gửi cho hệ thống
QTDND.
- Sử dụng Quỹ bảo toàn: Ban quản lý quyết định cho vay các QTDND yếu
kém để khắc phục trở lại hoạt động bình thường. Để thực hiện việc cho vay hỗ
trợ từ Quỹ bảo toàn, Ban quản lý cần tiếp tục đổi mới, xây dựng các cơ chế hỗ
trợ được phân loại theo “mức độ cảnh báo nguy cơ” mất an toàn hoạt động (theo
hình 3.2), trên cơ sở phối hợp chặt chẽ với NHNN để thu thập và có thông tin
đầy đủ về tình hình hoạt động của các QTDND; và sau này Quỹ bảo toàn hệ
thống sẽ phối hợp với Công ty kiểm toán QTDND để có thông tin tiến hành phân
Danh sách QTD
Danh sách QTD
Danh sách QTD
Danh sách QTD
Danh sách QTD
loại.
Hình 3.1. Phân loại các QTDND theo “mức độ cảnh báo nguy cơ”
Các QTD từ mức độ cảnh báo màu CAM đến màu ĐỎ, Ban Quản lý sẽ
xem xét cho vay hỗ trợ, nhất là các QTD có mức độ cảnh báo màu ĐỎ. Các
QTD có mức độ cảnh báo màu VÀNG được đưa vào diện theo dõi. Với cách
phân loại như vậy, Quỹ bảo toàn hệ thống sẽ hỗ trợ kịp thời các QTD khó khăn
về thanh khoản sớm có thể khắc phục và trở lại hoạt động bình thường, hạn chế
thấp nhất số lượng các QTDND mất khả năng thanh toán, tránh ảnh hưởng lan
truyền, gây mất an toàn cho các QTD lân cận và cả hệ thống.
* Thành lập Tổ chức kiểm toán QTDND dưới hình thức Công ty
162
Theo quy định hiện hành, các TCTD phải được kiểm toán bởi một tổ
chức kiểm toán độc lập được NHNN chấp thuận; Tuy nhiên, từ khi mô hình
QTDND được thành lập đến nay vẫn chưa phải thực hiện quy định này.
Nguyên nhân là do các QTDND với quy mô hoạt động còn nhỏ bé, năng lực tài
chính còn hạn chế, trong khi phí kiểm toán phải trả cho công ty kiểm toán độc
lập thườngcao; Các kiểm toán viên độc lập chủ yếu thực hiện việc xác nhận
tính chính xác, trung thực, hợp pháp của các tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo
tài chính; nhận xét, đánh giá việc chấp hành chính sách, chế độ tài chính, kế
toán và kiến nghị với tổ chức được kiểm toán các vấn đề phát hiện trong quá
trình kiểm toán; Trong khi đó, các QTDND rất cần những ý kiến tư vấn để
khắc phục kịp thời những điểm yếu kém và nâng cao trình độ của đội ngũ cán
bộ, nhân viên.
Mặt khác, công tác kiểm toán còn giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước
giám sát hoạt động của các QTDND một cách sát sao hơn.
Do đó, để các QTDND phát triển an toàn, bền vững, việc thành lập một
Công ty kiểm toán riêng cho hệ thống là hết sức cần thiết. Công ty này sẽ do
Hiệp hội QTDND thành lập và quản lý, hoạt động với mục tiêu chủ yếu là hỗ
trợ các QTDND, không vì mục tiêu lợi nhuận. Khi đó các QTDND sẽ được
kiểm toán, sớm phát hiện và chấn chỉnh kịp thời, được tư vấn, khuyến nghị đảm
bảo cho các QTDND hoạt động tuân thủ các quy định của pháp luật, an toàn,
hiệu quả mà chi phí ít tốn kém.
Công ty kiểm toán và Quỹ bảo toàn hệ thống có mối quan hệ hữu cơ và
bổ sung cho nhau để hệ thống QTDND PTBV: Thông qua báo cáo kiểm toán,
Quỹ bảo toàn mới có cơ sở để cho vay hỗ trợ kịp thời, tránh đổ vỡ tổ chức.
Hiện nay, Quỹ bảo toàn hệ thống đã ra đời và hoạt động, vì vậy Hiệp hội cần
phối hợp với NHHTX đề xuất với NHNN sớm xây dựng Đề án xây dựng tổ
chức kiểm toán của hệ thống dưới hình thức Công ty, trên cơ sở đó tiến hành
thành lập Công ty kiểm toán cho hệ thống QTDND.
163
vi- Cơ chế tăng cường năng lực tài chính:
* Tăng cường năng lực tài chính cho NHHTX để có đủ khả năng hỗ trợ tài
chính cho các QTDND mở rộng tín dụng và xử lý các khó khăn về thanh khoản
tạm thời đối với các QTDND thông qua các kênh:
- Vốn góp của thành viên.
- Tiền gửi điều hoà của các QTDND thành viên.
- Tăng cường huy động tiền gửi dân cư và các tổ chức kinh tế thông qua
công tác thông tin tuyên truyền, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ của
NHHTX; đồng thời có chính sách khuyến khích nhằm thu hút, đẩy mạnh huy
động nguồn vốn tiết kiệm từ dân cư và tiền gửi của các tổ chức kinh tế.
- Tích cực tìm kiếm nguồn vốn hỗ trợ từ chính phủ, tổ chức, cá nhân nước
ngoài: Phát huy và tăng cường khai thác thêm các nguồn vốn hỗ trợ của chính
phủ và các Dự án của các tổ chức tài chính quốc tế đối với hệ thống QTDND
thông qua NHHTX.
* Nâng quy định về mức vốn pháp định đối với QTDND để QTDND tăng
vốn điều lệ thông qua vốn góp của các thành viên nhằm từng bước tăng cường
năng lực tài chính cho QTDND.
* Tăng cường huy động tiền gửi từ thành viên thông qua việc nâng cao vai
trò, chất lượng thành viên của QTDND.
3.3.2.2. Hoàn thiện mô hình hệ thống
a) Phát triển và đa dạng loại hình QTDND:
Qua nghiên cứu một số mô hình TCTD thành công trên thế giới, căn cứ
vào thực tiễn điều kiện Việt Nam, hệ thống QTDND thời gian tới cần cho phép
thành lập QTDND ngành nghề (theo mô hình mô tả ở hình 3.2), QTDND cộng
đồng và QTDND ngành nghề sẽ tăng cường tính liên kết hỗ trợ trong hệ thống.
164
* Các QTDND cộng đồng: Là các QTDND hiện có sẽ được cơ cấu lại
bằng cách ở những huyện có nhiều QTDND sẽ lựa chọn 1 QTDND vững mạnh,
quy mô lớn, trình độ cán bộ đủ đáp ứng tốt cho phát triển thành QTDND cấp
huyện và sáp nhập các QTDND có quy mô nhỏ, năng lực tài chính và trình độ
cán bộ hạn chế. Như vậy QTDND cấp huyện sẽ lớn mạnh hơn so với QTDND
hiện nay về quy mô, tổ chức, trình độ cán bộ, công nghệ và các hoạt động nghiệp
vụ. Các QTDND còn lại sẽ được hợp nhất với QTDND huyện và chuyển thành
các Chi nhánh hoặc Phòng giao dịch trực thuộc QTDND cấp huyện.
Tại các tỉnh, thành phố có nhiều QTDND có thể thành lập 8-10 QTDND
cấp huyện (hoặc liên huyện); Tỉnh có ít QTDND thì thành lập 1-3 QTDND cấp
huyện (hoặc liên huyện) tuỳ theo số lượng QTDND hiện có trên địa bàn.
* Các QTDND ngành nghề: được thành lập mới, hoạt động theo các lĩnh
vực mà thành viên có cùng ngành nghề, công việc như: QTDND của giáo viên;
QTDND của công an, quân đội; QTDND của viên chức y tế; QTDND của các
công chức, viên chức chính quyền... Loại hình QTDND ngành nghề chỉ huy
động và cho vay trong thành viên; trường hợp các QTDND này có dư thừa vốn,
do được thành lập và hoạt động chủ yếu ở các thành phố, đô thị lớn thì sẽ được
điều hoà đến các QTDND cộng đồng cấp huyện (hoạt động chủ yếu ở nông thôn)
thông qua NHHTX. Như vậy, mô hình hệ thống QTDND này một mặt sẽ góp
phần thúc đẩy khu vực kinh tế HTX phát triển mạnh mẽ hơn ở đô thị, nâng cao
chất lượng kinh tế HTX (do các QTDND ngành nghề này có chất lượng thành
viên trình độ cao; năng lực tài chính tốt - do thành viên có thu nhập lương ổn
định); Mặt khác, sẽ tăng cường sự liên kết giữa các QTDND ngành nghề hoạt
động ở thành thị với các QTDND cộng đồng hoạt động ở khu vực nông nghiệp -
nông thôn thông qua NHHTX đầu mối của hệ thống.
165
TỔ CHỨC ĐẦU MỐI LIÊN KẾT KINH TẾ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG HỢP TÁC XÃ
TỔ CHỨC LIÊN KẾT PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG HỢP TÁC XÃ
NGÂN HÀNG HỢP TÁC XÃ HIỆP HỘI QTDND VIỆT NAM
HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN
QTDND NGÀNH NGHỀ
QTDND CỘNG ĐỒNG
QTDND của giáo viên
QTDND cấp huyện
QTDND cấp huyện
QTDND của cán bộ ngành y tế
QTDND của công an, quân đội
Chi nhánh QTDND
Chi nhánh QTDND
Phòng Giao dịch
Phòng Giao dịch
Ghi chú: Quan hệ liên kết kinh tế, hỗ trợ nghiệp vụ và điều hoà vốn Quan hệ hội viên Hiệp hội
Hình 3.2. Đề xuất áp dụng mô hình hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân
166
b) Nâng cao vai trò của các tổ chức hỗ trợ hệ thống QTDND
b.1. Đối với NHHTX cần phát huy đầy đủ và chủ động vai trò là Tổ chức
đầu mối liên kết kinh tế của hệ thống, chịu trách nhiệm trước hết về hiệu quả và
sự PTBV của hệ thống QTDND; ; đồng thời là đầu mối để phối hợp với các đơn
vị chức năng của NHNN trong quản lý hoạt động và hỗ trợ xử lý khó khăn trong
quá trình hoạt động của các QTDND với mục tiêu phát hiện sớm và xử lý nhanh
các vấn đề khó khăn.
NHHTX cần phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại trong hoạt
động của NHHTX phù hợp với yêu cầu hoạt động hỗ trợ thành viên của
QTDND:
- Hiện đại hoá công nghệ thanh toán và phát triển các dịch vụ tiện ích
thanh toán hiện đại để mở rộng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt
trong nền kinh tế; Mở rộng các dịch vụ ngân hàng điện tử theo hướng tiện ích,
tối ưu và an toàn nhất cho khách hàng; đồng thời nghiên cứu và xây dựng các
sản phẩm dịch vụ phù hợp cung cấp cho các QTDND để tăng cường mối liên kết
với NHHTX với mục tiêu giao dịch thuận tiện an toàn, chi phí hợp lý; Đặc biệt
là hướng tới các sản phẩm cho thành viên thu nhập thấp ở vùng nông thôn, khó
tiếp cận dịch vụ ngân hàng thông qua các dịch vụ giao dịch từ xa với mức chi
phí thấp nhưng vẫn đảm bảo an toàn.
- Tiếp tục đẩy mạnh cung cấp phát triển sản phẩm dịch vụ chuyển tiền liên
kết (chuyển tiền điện tử) cho tất cả QTDND thành viên thông qua hệ thống thanh
toán của NHHTX để phục vụ nhu cầu thanh toán của các thành viên trong hệ
thống trên toàn quốc; theo đó NHHTX sẽ tập trung đầu tư xử lý giao dịch
chuyển tiền với quy mô hiện đại bao gồm: xây dựng mạng WAN kết nối đến
toàn bộ hệ thống QTDND, hệ thống bảo mật cho các giao dịch, hệ thống chữ ký
điện tử, hệ thống phần mềm xử lý giao dịch tập trung, hệ thống Backup dữ
liệu… Đến 2020, NHHTX sẽ kết nạp tất cả các QTDND có nhu cầu và có đủ
điều kiện tham gia hệ thống thanh toán này.
- Phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại với chi phí hợp lý,
an toàn và hiệu quả, ngoài các sản phẩm giao dịch truyền thống sẽ tập trung
167
nghiên cứu và phát triển các sản phẩm giao dịch mới nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh, đủ sức phát huy vai trò đầu mối hỗ trợ của NHHTX cho toàn hệ
thống QTDND; đồng thời nâng cao mức độ tiếp cận và sử dụng dịch vụ tài chính
của các thành viên QTDND và người nghèo ở nông thôn thông qua việc phát
triển các sản phẩm dịch vụ tăng cường mối liên kết giữa nông thôn với thành thị
như: thẻ ghi nợ nội địa, thẻ tín dụng thông qua mạng lưới chấp nhận thẻ POS,
ATM trên toàn quốc; tích cực phát triển các hình thức sản phẩm dịch vụ đa kênh
như Home banking, Internet banking, Mobile banking, SMS banking, Phone
banking... Đây cũng chính là nền tảng cơ bản để giúp phát triển các sản phẩm,
dịch vụ ngân hàng hiện đại của NHHTX và thay đổi cách tiếp cận giữa thành
viên, khách hàng với ngân hàng cả về mặt không gian lẫn thời gian.
- Tập trung nghiên cứu phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế phục vụ nhu
cầu của khách hàng và các thành viên của QTDND, thí điểm cung cấp dịch vụ
cho các QTDND có đủ điều kiện làm đại lý dịch vụ chuyển tiền Union Westen,
các dịch vụ thanh toán quốc tế khác để rút kinh nghiệm triển khai nhân rộng cho
toàn hệ thống.
- Bên cạnh việc tiếp tục đầu tư tín dụng và cung cấp các sản phẩm dịch vụ
cho các QTDND thành viên và các đối tượng khách hàng chiến lược như đã nêu
trên, NHHTX sẽ đặt trọng tâm vào việc tiếp tục đa dạng hóa các sản phẩm dịch
vụ, tăng thêm tiện ích nhằm gia tăng nguồn thu từ hoạt động ngân hàng theo
hướng khách hàng vay sẽ sử dụng các dịch vụ ngân hàng - tài chính đi kèm của
NHHTX.
b.2) Đối với Hiệp hội QTDND, cần nâng cao năng lực để phát huy vai trò
là đại diện quyền và lợi ích hợp pháp của các QTDND; Phối hợp với NHHTX
xây dựng và thành lập các tổ chức hỗ trợ hệ thống về kiểm toán, đào tạo nhân
lực, … Đại diện cho hệ thống đề xuất, kiến nghị với các cơ quan quản lý để xây
dựng các quỹ bảo hiểm, bảo trợ cho hoạt động của các QTDND như:
+ Hiệp hội cần nâng cao năng lưc trong việc xây dựng chiến lược, định
hướng phát triển, các quy chế quản lý nội bộ, các quy tắc đạo đức nghề nghiệp
và các chuẩn mực hoạt động áp dụng thống nhất trong hệ thống QTDND.
168
+ Hiệp hội cần quảng bá, nâng cao hình ảnh, thương hiệu của hệ thống
QTDND: Sau hơn 23 năm hoạt động, hệ thống QTDND đã đạt được khá nhiều
kết quả rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, nhận thức của các cơ quan nhà nước, các
tổ chức và cá nhân về hệ thống QTDND vẫn còn rất hạn chế. Một trong những
nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là do hệ thống QTDND chưa quan tâm
đến công tác quảng bá, nâng cao thương hiệu. Trong khi đó, thương hiệu là một
trong những yếu tố hết sức quan trọng góp phần làm nên thành công của hệ
thống QTDND.
+ Hiệp hội cần chủ trì thiết lập hệ thống quản trị rủi ro và hệ thống thông
tin quản lý cho các QTDND: Quản trị rủi ro và hệ thống thông tin quản lý là
những yếu tố hết sức quan trọng đảm bảo cho sự an toàn và hiệu quả trong hoạt
động, vì vậy, Hiệp hội cần hướng dẫn các QTDND áp dụng các chuẩn mực, quy
trình thiết lập các hệ thống này thống nhất cho toàn hệ thống, sau này sẽ được
quản lý tại Trung tâm thông tin của hệ thống – do NHHTX quản lý.
+ Hiệp hội QTDND triển khai tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn hội viên
thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực hoạt động
QTDND. ới vai trò đầu mối, trong khi chưa thiết lập được Trung tâm đào tạo
của hệ thống, Hiệp hội cần phối hợp với NHNN chi nhánh, NHHTX, các cơ sở,
đào tạo để tổ chức tập huấn, đào tạo nghiệp vụ mới cho các cán bộ QTDND; Bổ
sung chỉnh sửa nội dung bộ giáo trình cho phù hợp với tình hình thực tế.
+ Hiệp hội QTDND cần phối hợp với NHHTX, nghiên cứu, xây dựng, thí
điểm đề án kiểm toán độc lập đối với hệ thống QTDND. Theo quy định tại
Thông tư số 39/2011/TT-NHNN ngày 15/12/2011 “Quy định về kiểm toán độc
lập đối với Tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài” các QTDND có
tổng nguồn vốn từ 50 tỷ đồng trở lên hàng năm đều phải thực hiện kiểm toán
độc lập. Do hiện nay chưa có đơn vị kiểm toán độc lập riêng cho các QTDND
nên các QTDND đều phải thuê các công ty kiểm toán độc lập cho các NHTM để
thực hiện nên một mặt các QTDND phải chịu mức chi phí cao; mặt khác việc
kiểm toán này mới chủ yếu tập trung đánh giá báo cáo kế toán tài chính hàng
năm nên chưa thật sự phù hợp với yêu cầu đánh giá toàn diện hoạt động của
169
QTDND với mục tiêu hỗ trợ thành viên. .
+ Nghiên cứu và sớm xây dựng phần mềm thống nhất (core banking) với
hệ thống chỉ tiêu, mẫu biểu báo cáo nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý đối với hệ
thống QTDND, tích hợp giữa QTDND với NHNN chi nhánh tỉnh/thành phố.
3.3.2.3. Hỗ trợ thanh khoản bằng cách thiết lập Quỹ dự phòng khả năng chi
trả
Để khắc phục tình trạng một số QTDND rơi vào tình trạng khó khăn về
khả năng chi trả, dễ dẫn đến mất khả năng thanh toán tạm thời, ảnh hưởng đến
sự an toàn của hệ thống, hệ thống QTDND cần thiết lập Quỹ dự phòng khả
năng chi trả thông qua việc duy trì một tỷ lệ nhất định (khoảng 3- 5% trên
tổng số tiền gửi huy động), vì các QTDND đến nay chưa phải thực hiện trích
dự trữ bắt buộc theo một tỷ lệ tính trên số dư tiền gửi của QTDND do NHNN
quy định giống như các NHTM. Quỹ này do NHHTX quản lý, phù hợp với
chức năng của NHHTX là đảm bảo khả năng thanh khoản cho toàn hệ thống.
Trong trường hợp cần thiết, các QTDND được nhanh chóng tiếp cận nguồn
ngân quỹ này để đảm bảo khả năng chi trả, tránh được hiện tượng rút tiền
hàng loạt do yếu tố tâm lý; qua đó góp phần nâng cao uy tín hoạt động cho cả
hệ thống QTDND.
3.3.2.4. Xây dựng Quỹ bảo hiểm tương hỗ
Một trong những lý do căn bản khiến các tổ chức bảo hiểm chưa chú trọng
đến địa bàn nông thôn là do chi phí hoạt động cao, giao thông liên lạc khó khăn,
cư dân chưa có tập quán sử dụng các dịch vụ bảo hiểm. Tuy nhiên, với mạng
lưới các QTDND rộng khắp và sự am hiểu về khách hàng thì những cản trở trên
sẽ được khắc phục. Hơn nữa, hoạt động của Quỹ bảo hiểm tương hỗ rất phù hợp
với các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống QTDND, tạo điều kiện
cho các QTDND thực hiện tốt hơn mục tiêu tương trợ giữa các thành viên, phát
triển cộng đồng, đồng thời lại giúp cho các thành viên của mình được thụ hưởng
những dịch vụ bảo hiểm với chi phí hợp lý nhất.
Quỹ bảo hiểm tương hỗ là loại hình bảo hiểm được thành lập và quản lý
bởi các tổ chức, cá nhân hoạt động trong cùng lĩnh vực, sinh sống trong cùng địa
170
bàn hoặc có cùng loại rủi ro; hoạt động nhằm hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên
chứ không nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận như các loại hình tổ chức bảo
hiểm khác. Nói cách khác, Quỹ bảo hiểm tương hỗ là một loại hình HTX hoạt
động trong lĩnh vực bảo hiểm; trong đó, thành viên lập nên là các QTDND. Quỹ
bảo hiểm tương hỗ có thể cung cấp các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ và phi nhân
thọ tương tự như các doanh nghiệp bảo hiểm khác. Tuy nhiên, trong thời gian
trước mắt, Quỹ này nên tập trung vào loại hình bảo hiểm nhân thọ tín dụng. Với
loại hình bảo hiểm này, khách hàng vay tiền của QTDND sẽ được Quỹ đứng ra
trả nợ cho QTDND trong trường hợp người vay gặp các rủi ro dẫn đến mất khả
năng thanh toán nợ (bệnh tật, tai nạn làm mất sức lao động, chết,). Phí bảo
hiểm được tính trên giá trị món vay và do QTDND nơi khách hàng vay vốn chịu.
Nếu Quỹ này được thành lập thì đây sẽ là một loại hình tổ chức bảo hiểm
rất mới ở Việt Nam nhưng bảo hiểm tương hỗ rất phù hợp với mục tiêu, tôn chỉ
và đặc thù của loại hình QTDND.
Để thành lập Quỹ bảo hiểm tương hỗ:
- Đối với Hiệp hội: Chịu trách nhiệm làm đầu mối xây dựng đề án và
vận động các QTDND tham gia thành lập Quỹ bảo hiểm tương hỗ.
- Các QTDND và NHHTX: Quán triệt chủ trương và tích cực tham gia
xây dựng, triển khai thực hiện đề án thành lập Quỹ bảo hiểm tương hỗ theo
đúng quy định của Chính phủ (Nghị định 18/2005/NĐ-CP ngày 24/02/2005
của Chính phủ với việc thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức bảo hiểm
tương hỗ) và hướng dẫn của Bộ Tài Chính.
3.3.2.5. Kiện toàn và nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ
Số lượng nhân sự của cả hệ thống QTDND ước tính khoảng hơn 15.000
người, nhưng phần lớn mới chỉ qua các lớp đào tạo cơ bản, hơn nữa những kiến
thức mang tính đặc thù của loại hình QTDND vẫn chưa được đưa vào giảng dạy
tại các trường đại học và cao đẳng. Chính vì vậy nhu cầu đào tạo nguồn nhân
lực cho hệ thống QTDND là rất lớn và cấp thiết. Để đáp ứng với yêu cầu hệ
thống QTDND ngày càng phát triển sâu hơn, rộng hơn và hiệu quả hơn, việc
nâng cao năng lực và trình độ cán bộ phải được quan tâm một cách toàn diện ở
171
cả khâu tuyển dụng mới, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ hiện có.
* Tuyển dụng mới: Xây dựng bộ chỉ tiêu cho từng chức danh cụ thể
(trong đó có sự điều chỉnh theo yếu tố vùng, miền); Công tác tuyển dụng phải
được tiến hành một cách công tâm, minh bạch.
* Đào tạo và đào tạo lại lực lượng cán bộ hiện có theo hướng:
- Việc đào tạo nhân lực nhằm trang bị cho cán bộ QTDND những kiến
thức cơ bản về tài chính, tiền tệ, tín dụng; quản trị, điều hành và nghiệp vụ đặc
thù QTDND; các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động của QTDND.
Như vậy, đào tạo cán bộ QTDND sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao
chất lượng quản trị, điều hành và hoạt động nghiệp vụ của hệ thống QTDND, từ
đó giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cho các QTDND. Công tác đào tạo cán bộ
QTDND cần được thực hiện một cách bài bản, chủ động hơn, có tính chiến
lược lâu dài.
- Thành lập Trung tâm đào tạo nhân lực QTDND dưới sự quản lý của
Hiệp hội, có chức năng đào tạo chuyên về lĩnh vực QTDND. Trung tâm được
đặt tại Hà Nội và khi năng lực của hệ thống QTDND phát triển có thể có các
Chi nhánh của Trung tâm tại một số khu vực; Các chi nhánh này sẽ thực hiện
các khoá đào tạo cơ bản, bồi dưỡng và nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đối
tượng là cán bộ, nhân viên QTDND trên địa bàn; Học viên là Giám đốc, Phó
giám đốc, Trưởng BKS, Kế toán trưởng, sau khi được đào tạo cơ bản ở các chi
nhánh sẽ phải được đào tạo chuyên sâu tại Trung tâm.
Mặc dù việc thành lập Trung tâm đào tạo không quá phức tạp nhưng lại
đòi hỏi phải có thời gian để thực hiện các bước chuẩn bị, nhất là cơ sở vật chất
nên cần có sự phân cấp như sau:
+ Đối với NHNN: Chỉ đạo Hiệp hội nghiên cứu, xây dựng đề án và
chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thành lập Trung tâm; đồng thời trình Chính
phủ chấp thuận chủ trương cho phép chuyển phần lợi tức hàng năm từ nguồn
vốn góp của Nhà nước tại NHHTX để làm kinh phí xây dựng và vận hành
Trung tâm đào tạo.
+ Đối với Hiệp hội: Triển khai nghiên cứu, xây dựng đề án và chuẩn bị
172
các công việc cần thiết cho việc thành lập Trung tâm đào tạo; đồng thời tìm
kiến các nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
+ Đối với các QTDND: Hưởng ứng việc thành lập Trung tâm đào tào
thông qua việc đóng góp xây dựng theo lời kêu gọi của Hiệp hội.
3.3.2.6. Cơ chế cung cấp thông tin
Để tạo sự gắn kết trong hệ thống cần có một cơ chế rõ rang trong việc
chia sẻ thông tin giữa các QTDND với nhau; Chia sẻ và cung cấp thông tin
giữa các QTDND với các tổ chức đầu mối, tổ chức liên kết và phát triển hệ
thống.
3.3.3. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về mô hình tổ chức hoạt động của Quỹ
tín dụng nhân dân và của các tổ chức hỗ trợ hệ thống
Hoàn thiện các cơ chế chính sách và hành lang pháp lý để hỗ trợ các
QTDND phát triển theo đúng nguyên tắc HTX, phù hợp với đặc thù của một loại
hình TCTDHT có quy mô nhỏ, đẩy mạnh tính hợp tác của các thành viên trong
nội bộ từng QTDND, tăng cường tính liên kết với cộng đồng và sự giám sát của
cộng đồng đối với hoạt động của QTDND; đảm bảo cho QTDND thực sự hoạt
động trên tinh thần tương trợ giữa các thành viên nhưng có nghĩa vụ với nhau và
tăng cường gắn kết giữa các thành viên với QTDND; Gắn chặt hơn hoạt động
của QTDND với hoạt động sản xuất, kinh doanh đặc thù tại địa bàn của các
thành viên. Đến nay mô hình này đang được điều chỉnh bởi hệ thống các văn bản
(nêu tại Phụ lục 1). Tuy nhiên, các quy định về cơ chế đảm bảo an toàn, bền
vững còn thiếu, cơ chế thiết lập cảnh báo rủi ro, các cơ chế thiết lập các tổ chức
kiểm toán, tổ chức tư vấn cần được sớm xây dựng.
3.3.3.1. Xây dựng, hoàn thiện hành lang pháp lý
* Đối với các QTDND: NHNN tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các
quy định về tổ chức và hoạt động hiện hành cho phù hợp với thực tế đòi hỏi và
xu hướng phát triển của hệ thống như: Quy định về phát triển thành viên (quy
định thành viên của loại hình QTDND ngành nghề, mức vốn góp,...); Mở rộng
địa bàn hoạt động phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng phục vụ thành
173
viên (theo khả năng quản trị và năng lực tài chính,....); Quy định về hoạt động tín
dụng, quản trị rủi ro;...
* Đối với các tổ chức hỗ trợ hệ thống:
- NHHTX: NHNN tiếp tục bổ sung các quy định để NHHTX đảm nhiệm tốt
vai trò là ngân hàng đầu mối của hệ thống QTDND: Quy chế điều hòa vốn đảm
bảo thu hút được tiền gửi tạm thời nhàn rỗi của các QTDND, đồng thời cơ chế
cho vay điều hòa phù hợp để hỗ trợ kịp thời các QTDND cần vốn (lãi suất, mức
cho vay, xét duyệt cho vay,...); Sớm xây dựng Quy chế trích lập và sử dụng Quỹ
dự phòng khả năng chi trả để hỗ trợ các QTDND mất khả năng thanh khoản, khả
năng chi trả và giao NHHTX quản lý; Xây dựng các cơ chế cho Trung tâm thông
tin QTDND phát triển các hoạt động hỗ trợ thông tin cho các QTDND (hạ tầng
kỹ thuật, hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu, các chương trình tin học hỗ trợ và tin
học hóa quản lý nghiệp vụ cho các QTDND và kết nối hệ thống,...).
- Hiệp hội QTDND: Xây dựng các đề án thiết lập các tổ chức hỗ trợ
QTDND như: Thành lập tổ chức kiểm toán QTDND, thành lập Trung tâm đào
tạo,... đề nghị NHNN phê duyệt để triển khai.
3.3.3.2. Nghiên cứu và hoàn thiện khuôn khổ thể chế
- Do quy mô và năng lực quản trị của QTDND rất nhỏ, lại có mặt ở nhiều
xã phường trên cả nước nên thực tế hoạt động sẽ có QTDND rơi vào tình trạng
phá sản, vì vậy NHNN cần xây dựng quy định về phá sản QTDND đảm bảo khi
QTDND đó phá sản, việc xử lý hạn chế tối đa biến động, giữ được ổn định tình
hình kinh tế, chính trị xã hội địa phương.
- Xử lý vướng mắc về chính sách hiện hành: NHHTX đang rất cần sự hỗ
trợ của NHNN và các bộ ngành trong việc tháo gỡ những rào cản pháp lý như
đối với nội dung quy định tại Khoản 4 Điều 17 Thông tư 36, đề nghị NHNN xem
xét, bổ sung quy định áp dụng riêng đối với NHHTX, theo đó cho phép NHHTX
được phép tính nguồn vốn ngắn hạn bao gồm cả các khoản tiền gửi của QTDND
tại NHHTX.
- NHNN sớm ban hành Thông tư quy định về mạng lưới NHHTX và
QTDND, Thông tư quy định về chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, thanh lý, phá sản
174
đối với hệ thống TCTD là HTX và các văn bản pháp quy khác tạo hành lang
pháp lý giúp tăng cường kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ quá trình hoạt động, nhằm
hướng dẫn, chấn chỉnh và uốn nắn các QTDND hoạt động đúng mô hình tổ chức
HTX, đúng tôn chỉ mục đích, phát triển an toàn, hiệu quả và bền vững theo mục
tiêu chung của hệ thống. Đối với các khoản NHHTX cho vay hỗ trợ chi trả tiền
gửi đối với các QTDND gặp khó khăn không có khả năng thu hồi, đề nghị
NHNN có cơ chế xử lý rủi ro phù hợp.
3.3.4. Tăng cường thanh tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước
3.3.4.1. Tăng cường thanh tra, giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời những tồn
tại, yếu kém của các Quỹ tín dụng nhân dân
- Tiếp tục chỉ đạo giám sát các QTDND triển khai thực hiện Phương án cơ
cấu lại (trọng tâm là hướng về thành viên, kiểm soát chất lượng tín dụng, xử lý
nợ xấu, tăng vốn điều lệ, thu hẹp phạm vi hoạt động, hoàn thiện cơ cấu quản trị,
điều hành, BKS);
- Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giám sát từ xa trong việc phân
tích, đánh giá để phát hiện và cảnh báo sớm các rủi ro, yếu kém, vi phạm pháp
luật trong hoạt động của từng QTDND cũng như hệ thống QTDND; đồng thời
xác định trọng tâm và trọng điểm cho công tác thanh tra tại chỗ.
- Tổ chức đào tạo, tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ QTDND, nhất là tập huấn
các văn bản nghiệp vụ mới ban hành; tổ chức các buổi trao đổi kinh nghiệm
công tác để các QTDND có thể học hỏi từ QTDND làm tốt và rút kinh nghiệm từ
QTDND yếu kém.
3.3.4.2. Tập trung xử lý quyết liệt những Quỹ tín dụng nhân dân yếu kém
* Đối với những QTDND không có khả năng khắc phục trở lại hoạt động
bình thường
- Đối với QTDND đang bị kiểm soát đặc biệt: NHNN đánh giá lại thực
trạng, khả năng khắc phục của từng QTDND để xử lý theo các phương án:
+ Phương án 1: QTDND có khả năng phục hồi thì NHNN giám sát đặc biệt
và tái cơ cấu để nhanh chóng đưa QTDND trở lại hoạt động bình thường;
175
+ Phương án 2: QTDND không có khả năng khắc phục thì NHNN nghiên
cứu xây dựng phương án xử lý phù hợp (sáp nhập, hợp nhất, giải thể, mua lại
hoặc phá sản ...).
- Đối với QTDND có dấu hiệu lâm vào tình trạng kiểm soát đặc biệt (theo
Khoản 3 Điều 146 Luật Các TCTD): NHNN rà soát, đánh giá thực trạng của
từng QTDND để hỗ trợ, giúp đỡ, xử lý, khắc phục, giải quyết các khó khăn đối
với từng QTDND theo quy định của pháp luật.
- Đối với QTDND bị xếp loại yếu kém (ngoài những QTDND bị xếp loại
yếu kém đã thuộc 2 nhóm trên) và những QTDND tuy chưa bị xếp loại yếu kém
nhưng trong hoạt động còn tồn tại, hạn chế: NHNN chỉ đạo các QTDND khắc
phục các mặt yếu kém, tồn tại; đặc biệt là các hành vi lạm quyền, vi phạm pháp
luật.
* Đối với những QTDND có khó khăn có thể trở lại hoạt động bình thường
NHNN chi nhánh cần:
- Tăng cường công tác thanh tra, giám sát, phát hiện và kịp thời xử lý
những tồn tại, yếu kém của QTDND; đặc biệt là đối với các QTDND được xếp
loại từ loại 3 đến loại 5.
- Tăng cường các cuộc kiểm tra đột xuất, thời gian khoảng vài ngày, nội
dung kiểm tra về một trong các nghiệp vụ như: quy trình kiểm soát nội bộ, quản
lý kho quỹ, bảo quản ấn chỉ quan trọng, quy trình xét duyệt cho vay... để kịp thời
ngăn chặn những rủi ro về đạo đức nghề nghiệp của cán bộ QTDND.
3.3.4.3. Nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm thanh tra, giám sát hoạt động
của các Quỹ tín dụng nhân dân từ Trung ương đến địa phương
- Ở Trung ương: Sớm thành lập đơn vị chuyên trách – một vụ hoặc cục
quản lý hệ thống QTDND thuộc Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng - để xây
dựng cơ chế, thanh tra giám sát tổ chức, hoạt động của cả mô hình hệ thống
QTDND (bao gồm: Tổ chức liên kết phát triển hệ thống và Tổ chức trực tiếp
phục vụ thành viên).
- Ở các địa phương: Xem xét lại nguồn nhân lực làm công tác thanh tra,
giám sát và quản lý QTDND của NHNN chi nhánh tỉnh/thành phố, nếu thiếu thì
176
xem xét bổ sung theo số lượng và quy mô hoạt động của QTDND trên địa bàn.
Trên cơ sở đó, ở NHTW có vụ/ cục quản lý, ở tại các địa phương, NHNN Chi
nhánh tỉnh, thành phố cũng thành lập phòng hoặc một tổ chuyên theo dõi tình
hình hoạt động của các QTDND trên địa bàn.
3.3.5. Hỗ trợ của chính quyền địa phương, lãnh đạo chỉ đạo của các tổ chức
xã hội
3.3.5.1. Tham gia hỗ trợ của chính quyền địa phương các cấp
Quá trình thành lập, hoạt động của QTDND được an toàn và PTBV rất cần
sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, vì vậy cần nâng cao vai trò, trách nhiệm
của chính quyền sở tại về các mặt:
- Tạo điều kiện môi trường kinh doanh thuận lợi cho QTDND hoạt động,
có chính sách ưu tiên cho loại hình TCTD này hoạt động, không bị các NHTM
khác cạnh tranh không lành mạnh;
- Hỗ trợ, tạo điều kiện về trụ sở, phòng giao dịch, cơ sở vật chất cho
QTDND;
- Giới thiệu nguồn nhân lực cho QTDND có đủ phẩm chất đạo đức, trình độ
phù hợp ngay từ đầu khi thành lập QTDND hoặc để thay thế khi cần thiết.
3.3.5.2. Tham gia hỗ trợ của các tổ chức xã hội
a) Liên minh các HTX Việt Nam: Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho các HTX trong đó có QTDND; kiến nghị với các cấp có thẩm quyền
giải quyết khó khăn, vướng mắc đối với QTDND và đề xuất có chính sách ưu
tiên đối với QTDND.
b) Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức hội (Hội nông dân, hội cựu chiến binh,
hội phụ nữ,…) tham gia ủng hộ, hỗ trợ hoạt động kinh doanh của QTDND (bảo
lãnh, các hoạt động tín dụng, thẩm định tín dụng,...).
3.3.6. Tăng cường sự tham gia của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
- Tăng cường sự phối hợp tham gia của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong
việc hỗ trợ xử lý các QTDND yếu kém.
177
- Tiếp tục theo dõi, giám sát, kiểm tra chặt chẽ đối với các QTDND vi
phạm. Thực hiện báo cáo Ban chỉ đạo và Tổ chỉ đạo giám sát, kiểm tra và xử lý
đối với QTDND và hướng dẫn giám sát QTDND có vấn đề.
- Phối hợp chặt chẽ với NHNN Chi nhánh các tỉnh trên địa bàn trong việc
chia sẻ thông tin về tình hình hoạt động cũng như các biện pháp xử lý, chấn
chỉnh sai phạm của các QTDND được phát hiện qua kiểm tra, giám sát; các
QTDND có biểu hiện bất thường để có phương án xử lý kịp thời.
- Kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về Bảo hiểm tiền
gửi. Trong đó có quy định về cấp và thu hồi Chứng nhận tham gia BHTG, quy
định về niêm yết Chứng nhận tham gia BHTG.
- Tăng cường công tác tuyên truyền chính sách của nhà nước về bảo hiểm
tới các khách hàng của QTDND, NHHTX.
3.4. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
3.4.1. Đối với Quốc hội
- Đề nghị giảm 50% mức thuế hiện hành áp dụng đối với NHHTX và các
QTDND; đồng thời tạo điều kiện cho việc tiếp tục cơ cấu lại hệ thống TCTD là
HTX theo tinh thần đề án “cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015”.
- Đề nghị xem xét, sửa đổi bổ sung Luật Bảo hiểm tiền gửi để tạo cơ chế
thuận lợi trong việc chi trả tiền gửi cho người gửi tiền vào QTDND khi QTDND
đó bị lâm vào tình trạng thanh lý, giải thể.
3.4.2. Đối với Chính phủ
- Tiếp tục có chính sách ưu đãi dành cho NHHTX và các QTDND về vốn
từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc vốn vay, viện trợ nước ngoài; NHNN làm đầu
mối phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương vận động, thu hút nguồn lực từ các
tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để hỗ trợ cho QTDND.
- Chính phủ chỉ đạo các cấp, các ngành hỗ trợ hệ thống QTDND trong
việc cấp đất, giao đất, cho thuê đất để NHHTX và các QTDND có điều kiện xây
dựng trụ sở ổn định và đảm bảo an toàn trong hoạt động.
- Bộ Tài chính nghiên cứu, tham mưu có chính sách về thuế, cơ chế tài
chính hợp lý đối với hệ thống NHHTX và các QTDND.
178
3.4.3. Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- Tái lập một đơn vị chuyên trách quản lý loại hình TCTDHT gồm hệ
thống QTDND, các đơn vị hỗ trợ,…
- Hỗ trợ cho hệ thống QTDND khi thành lập các tổ chức hỗ trợ: Hướng
dẫn hệ thống QTDND thành lập Tổ chức kiểm toán, Trung tâm đào tạo,…
- Để triển khai việc cơ cấu lại các QTDND theo mô hình bao gồm
QTDND cộng đồng và QTDND ngành nghề, NHNN cần nghiên cứu và tiến
hành thí điểm thành lập các QTDND ngành nghề trên địa bàn một số khu đô thị,
thành phố (QTD giáo viên, QTD quân đội, QTD công an, QTD ngành dệt may,
QTD ngành cao su,…), nhằm rút kinh nghiệm và có định hướng phát triển cụ thể
cho phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam.
Kết luận chương 3
Bằng việc phân tích đánh giá những kết quả đạt được, những khó khăn tồn
tại và nguyên nhân của nó; Trên cơ sở định hướng phát triển của hệ thống
QTDND trong những năm tới, những đặc điểm nội tại, đặc biệt là những đặc
điểm mang tính chất đặc thù; Trong bối cảnh trong nước và quốc tế ngày càng
xuất hiện nhiều những khó khăn thách thức, một số nhóm các giải pháp nhằm
phát triển bền vững hệ thống QTDND ở Việt Nam trong những năm tới đã được
đề xuất bao gồm:
1/ Nhóm giải pháp để PTBV với từng Quỹ tín dụng nhân dân:
i/ Xây dựng chiến lược phát triển phù hợp cho các QTDND hiện có cũng
như các QTDND dự kiến mở mới.
ii/ Hoàn thiện các quy trình nội bộ dựa trên các quy định của Ngân hàng
Nhà nước.
iii/ Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản trị, điều hành, kiểm soát hoạt
động Quỹ tín dụng nhân dân thông qua việc đào tạo, đào tạo lại; Có quy chế
tuyển dụng trong đó quy định rõ tiêu chuẩn, ưu tiên những người có trình độ,
179
được đào tạo chính quy để vào các vị trí nghiệp vụ, tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng
để giao giữ các nhiệm vụ quan trọng của QTDND.
iv/ Nâng cấp, hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và nâng cao năng
lực công nghệ thông tin của các Quỹ tín dụng nhân dân.
v/ Cơ cấu lại hoạt động của các QTDND theo hướng tập trung cho vay
vốn đối với các thành viên và người nghèo; Phát triển các dịch vụ ngân hàng của
QTDND thông qua đầu mối NHHTX phù hợp với năng lực quản trị của QTDND
và hướng tới phục vụ ngày một tốt hơn cho các thành viên và khách hàng trên
địa bàn nông nghiệp - nông thôn, vùng khó khăn, góp phần hỗ trợ phát triển cộng
đồng – đúng mục tiêu hoạt động của loại hình TCTDHT.
vi/ Mở rộng, điều chỉnh phạm vi hoạt động của QTDND có địa bàn hoạt
động liên xã; Đối với các QTD liên xã này có thể thành lập chi nhánh hoặc
phòng giao dịch ở các xã, phường liền kề với xã có trụ sở chính.
vii/ Thành lập Quỹ tín dụng nhân dân mới cần phải nghiên cứu về môi
trường kinh tế, địa phương nơi có nhu cầu
2/ Nhóm giải pháp nhằm tăng cường tính liên kết giữa các QTDND
i/ Tăng cường liên kết để phát triển bền vững: Với mỗi nội dung, mỗi giai
đoạn liên quan đến quá trình phát triển của hệ thống QTDND, cần có sự phân
công phân cấp một cách rõ ràng, tránh tình trạng khi thì chồng chéo, khi thì có
những khoảng trống dẫn đến sự vận hành của cả hệ thống chậm chạp, kém hiệu
quả. Để làm được điều đó cần:
a) Tăng cường khả năng đưa các nguồn lực của các QTDND vào sử dụng
chung và khả năng tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ chung
b) Chuẩn hóa quy trình hệ thống
c) Tăng cường liên kết hệ thống thông qua các hợp đồng giữa các
QTDND.
ii/ Hoàn thiện mô hình hệ thống với các nội dung:
a) Phát triển và đa dạng loại hình QTDND bao gồm QTDND cộng đồng,
QTDND ngành nghề nhằm tăng cường tính liên kết hỗ trợ trong hệ thống.
180
b) Nâng cao vai trò của các tổ chức hỗ trợ hệ thống QTDND: Đối với
NHHTX cần phát huy đầy đủ và chủ động vai trò là Tổ chức đầu mối liên kết
kinh tế, chịu trách nhiệm trước hết về hiệu quả và sự PTBV của hệ thống
QTDND; Đối với Hiệp hội QTDND cần nâng cao năng lực để phát huy vai trò là
đại diện quyền và lợi ích hợp pháp của các QTDND; Phối hợp với NHHTX xây
dựng và thành lập các tổ chức hỗ trợ hệ thống về kiểm toán, đào tạo nhân lực, …
Đại diện cho hệ thống đề xuất, kiến nghị với các cơ quan quản lý để xây dựng
các quỹ bảo hiểm, bảo trợ cho hoạt động của các QTDND.
iii/ Hỗ trợ thanh khoản bằng cách thiết lập Quỹ dự phòng khả năng chi trả
để giúp các QTDND khắc phục tình trạng tình trạng khó khăn về khả năng chi
trả, dễ dẫn đến mất khả năng thanh toán tạm thời, ảnh hưởng đến sự an toàn
của hệ thống QTDND.
iv/ Xây dựng Quỹ bảo hiểm tương hỗ nhằm tạo điều kiện cho các
QTDND thực hiện tốt hơn mục tiêu tương trợ giữa các thành viên, phát triển
cộng đồng, đồng thời lại giúp cho các thành viên của mình được thụ hưởng
những dịch vụ bảo hiểm với chi phí hợp lý nhất.
v/ Kiện toàn và nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ nhằm
đáp ứng tốt hơn cho quá trình hội nhập và cạnh tranh với các loại hình kinh
doanh tiền tệ khác.
vi/ Hiện đại hóa hệ thống thông tin gắn với cơ chế cung cấp và chia sẻ
thông tin giữa các QTDND với nhau, giữa QTDND với NHHTX và với các tổ
chức liên kết khác.
3/ Nhóm giải pháp về hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về mô hình tổ
chức hoạt động của QTDND và của các tổ chức hỗ trợ hệ thống
Hoàn thiện các cơ chế chính sách và hành lang pháp lý để hỗ trợ các
QTDND phát triển theo đúng nguyên tắc HTX, phù hợp với đặc thù của một loại
hình TCTDHT có quy mô nhỏ, đẩy mạnh tính hợp tác của các thành viên trong
nội bộ từng QTDND, tăng cường tính liên kết với cộng đồng và sự giám sát của
cộng đồng đối với hoạt động của QTDND; đảm bảo cho QTDND thực sự hoạt
động trên tinh thần tương trợ giữa các thành viên nhưng có nghĩa vụ với nhau và
181
tăng cường gắn kết giữa các thành viên với QTDND; Gắn chặt hơn hoạt động
của QTDND với hoạt động sản xuất, kinh doanh đặc thù tại địa bàn của các
thành viên. Nhóm giải pháp này bao gồm:
i/ Xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động của các
QTDND cũng như cho các tổ chức hỗ trợ hệ thống.
ii/ Nghiên cứu và hoàn thiện khuôn khổ, thể chế
4/ Nhóm giải pháp về tăng cường công tác thanh tra, giám sát của cơ
quan quản lý nhà nước
1/ Tăng cường công tác thanh tra, giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời
những tồn tại, yếu kém của các Quỹ tín dụng nhân dân
2/ Tập trung xử lý quyết liệt những Quỹ tín dụng nhân dân yếu kém
3/ Nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm thanh tra, giám sát hoạt động của
các Quỹ tín dụng nhân dân từ Trung ương đến địa phương
5/ Nhóm giải pháp tăng cường hỗ trợ của chính quyền địa phương,
lãnh đạo chỉ đạo của các tổ chức xã hội
i/ Cần có sự tham gia hỗ trợ của chính quyền địa phương các cấp
ii/ Sự tham gia ủng hộ, hỗ trợ của các tổ chức xã hội như Liên minh các
HTX Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức hội (Hội nông dân, hội cựu chiến
binh, hội phụ nữ,…).
6/ Tăng cường sự tham gia của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong hỗ
trợ xử lý các QTDND yếu kém; Trong theo dõi, giám sát, kiểm tra chặt chẽ đối
với các QTDND vi phạm. Thực hiện báo cáo Ban chỉ đạo và Tổ chỉ đạo giám
sát, kiểm tra và xử lý đối với QTDND và hướng dẫn giám sát QTDND có vấn
đề; Phối hợp chặt chẽ với NHNN Chi nhánh các tỉnh trên địa bàn trong việc chia
sẻ thông tin về tình hình hoạt động cũng như các biện pháp xử lý, chấn chỉnh sai
phạm của các QTDND được phát hiện qua kiểm tra, giám sát; các QTDND có
biểu hiện bất thường để có phương án xử lý kịp thời; Kiểm tra việc chấp hành
các quy định của pháp luật về Bảo hiểm tiền gửi. Trong đó có quy định về cấp và
thu hồi Chứng nhận tham gia BHTG, quy định về niêm yết Chứng nhận tham gia
BHTG…
182
Một số kiến nghị:
- Quốc hội: Cần có những ưu đãi về thuế và sửa đổi bổ sung một số luật
có liên quan đến hoạt động của hệ thống QTDND.
- Chính phủ: Cần có những chính sách ưu đãi dành cho NHHTX và các
QTDND về vốn; Về cấp đất, giao đất, cho thuê đất để NHHTX và các QTDND
có điều kiện xây dựng trụ sở ổn định và đảm bảo an toàn trong hoạt động.
- Bộ Tài chính: Cần tiếp tục nghiên cứu, tham mưu có chính sách về thuế,
cơ chế tài chính hợp lý đối với hệ thống NHHTX và các QTDND.
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Tái lập một đơn vị chuyên trách quản lý
loại hình TCTDHT gồm hệ thống QTDND, các đơn vị hỗ trợ,…; Hỗ trợ cho hệ
thống QTDND khi thành lập các tổ chức hỗ trợ: Hướng dẫn hệ thống QTDND
thành lập Tổ chức kiểm toán, Trung tâm đào tạo,….; Thí điểm thành lập
QTDND ngành nghề
183
KẾT LUẬN
Từ những kết quả nghiên cứu của luận án “Phát triển bền vững hệ thống
Quỹ tín dụng nhân dân ở Việt Nam” có thể rút ra một số kết luận sau:
a) Qua việc khái quát, hệ thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn của hệ
thống TCTD là HTX, tác giả đã làm rõ được “Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình
TCTD hợp tác xã do các thành viên gồm những pháp nhân, cá nhân và hộ gia
đình có cùng đặc điểm về nơi cư trú, nghề nghiệp hoặc các đặc điểm chung khác
tự nguyện thành lập. QTDND được tổ chức, quản lý, kiểm soát bởi các thành
viên theo tôn chỉ và nguyên tắc HTX” và “QTDND được coi là PTBV nếu duy
trì được sự cân bằng giữa an toàn – sinh lời trong thời gian dài; phục vụ lợi ích
của thành viên; và gia tăng lợi ích cho cộng đồng, xã hội, môi trường” ; Những
nhân tố ảnh hưởng đến sự PTBV của hệ thống QTDND để từ đó lựa chọn được
bộ chỉ tiêu đánh giá sự PTBV của hệ thống QTDND gồm ba nhóm: định tính,
định lượng và chỉ tiêu liên kết hệ thống.
b) Từ kinh nghiệm về quá trình xây dựng và pháp triển của một số mô
hình TCTDHT thành công trên thế giới, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm
cho việc PTBV hệ thống QTDND ở Việt Nam là: Hoạt động đúng mục tiêu;
Đảm bảo phát huy tính liên kết chặt chẽ; Phát huy được chức năng, nhiệm vụ của
Cơ quan điều phối hệ thống (QTDND đầu mối) và các cơ chế liên kết; Cần phát
huy vai trò, chức năng của các đơn vị hỗ trợ liên kết phát triển; Và phải có sự
quản lý và giám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành đối
với mọi hoạt động của QTDND.
c) Hoạt động của hệ thống trong giai đoạn hiện nay mặc dù đã đạt được
những thành tự đáng kể nhưng vẫn còn tồn tại một số hạn chế như: Hoạt động
một số QTDND xa rời tôn chỉ mục đích của loại hình TCTD là HTX; xa rời tính
liên kết hệ thống; Quản lý, điều hành, kiểm soát của các QTDND còn nhiều bất
cập. NHHTX chưa phát huy tốt vai trò đầu mối liên kết hệ thống. Mô hình liên
kết còn lỏng lẻo. Công tác quản lý nhà nước đối với hệ thống QTDND còn chưa
184
sâu sát; Các quy định về tổ chức, hoạt động, chưa thật sự phù hợp với yêu cầu
thực tiễn trong tổ chức hoạt động của QTDND.
d) Bằng việc phân tích đánh giá những kết quả đạt được, những khó khăn
tồn tại và nguyên nhân của nó; Trên cơ sở định hướng phát triển của hệ thống
QTDND, những đặc điểm nội tại, đặc biệt là những đặc điểm mang tính chất đặc
thù; trong bối cảnh trong nước và quốc tế ngày càng xuất hiện nhiều khó khăn,
thách thức, đặc biệt là trong các vấn đề kinh tế, phát triển, hệ thống các nhóm
giải pháp nhằm phát triển bền vững hệ thống QTDND ở Việt Nam trong những
năm tới đã được đề xuất bao gồm:
1/ Nhóm giải pháp để PTBV với từng Quỹ tín dụng nhân dân
2/ Nhóm giải pháp nhằm tăng cường tính liên kết giữa các QTDND
3/ Nhóm giải pháp về hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về mô hình tổ chức
hoạt động của QTDND và của các tổ chức hỗ trợ hệ thống
4/ Nhóm giải pháp về tăng cường công tác thanh tra, giám sát của cơ quan
quản lý nhà nước
5/ Nhóm giải pháp tăng cường hỗ trợ của chính quyền địa phương, lãnh
đạo chỉ đạo của các tổ chức xã hội
6/ Tăng cường sự tham gia của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Đồng thời cũng có một số kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài
chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
185
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1. Các bài báo đăng tạp chí, kỷ yếu hội thảo
TT Tên bài viết Nơi xuất bản Tên tác giả/ đồng tác giả
1
ThS. Nguyễn Thị Ngọc Anh Tạp chí Ngân hàng, Tháng 12 năm 2011, Số 24, từ trang 70 đến trang 75
2
Tạp chí Ngân hàng, Tháng 7 năm 2013, Số 13, từ trang 32 đến trang 37 Cơ hội và thách thức đối với việc hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015 Một chủ trương đúng và kịp thời thực hiện tái cơ cấu hiệu quả hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân
3
Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long ThS. Nguyễn Thị Ngọc Anh ThS. Nguyễn Thị Ngọc Anh và Nhóm tác giả Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Phát triển thị trường tín dụng và dịch vụ ngân hàng ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long", tháng 4 năm 2012
4
ThS. Nguyễn Thị Ngọc Anh
Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Những khuyến nghị chính sách kinh tế và điều hành chính sách tiền tệ 2014 - 2015”, tháng 11 năm 2013 Những nhận định, khuyến nghị và dự báo về kinh tế Việt Nam năm 2014 của các chuyên gia, tổ chức trong nước và nước ngoài tại Việt Nam
5 Vốn cho phát triển sản suất nông – lâm – thủy sản ThS. Nguyễn Thị Ngọc Anh
6
ThS. Nguyễn Thị Ngọc Anh Vốn cho phát triển nông nghiệp vùng Đồng bằng Sông Cửu Long
Kỷ yếu Hội thảo "Giải pháp phát triên mô hình sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao", tháng 5 năm 2014, từ trang 127 đến trang 142. Hội thảo "Vai trò của ngân hàng trong việc tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới vùng Đồng bằng Sông Cửu Long", tháng 11 năm 2014, từ trang 253 đến trang 259
…
186
2. Các giáo trình, tài liệu tham khảo, sách đã xuất bản
Nguyễn Thị Ngọc Anh (2005), Tăng cường quản lý nhà nước đối với hệ
thống QTDND ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ.
3. Các giáo trình, tài liệu tham khảo, sách đã xuất bản
- Tham gia thành viên Ban soạn sách “Lịch sử Ngân hàng Việt Nam”, xuất bản
năm 2016.
- Tham gia thành viên Ban soạn sách “60 năm Ngân hàng Việt Nam: Tư liệu và
hình ảnh”, xuất bản năm 2011.
- Tham gia thành viên Ban soạn sách “Hệ thống Ngân hàng Việt Nam: Hội
nhập và phát triển”, xuất bản năm 2010.
4. Các dự án, đề tài khoa học đã được nghiệm thu
4.1. Thư ký khoa học Dự án khoa học cấp Ngành, tên dự án "Thiết lập Quỹ an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân ở Việt Nam”, bảo vệ thành công năm 2007
4.2. Thư ký khoa học đề tài khoa học cấp Ngành, tên đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thông tin - tuyên truyền của ngành Ngân hàng Việt Nam trong điều kiện xã hội thông tin hiện nay”, bảo vệ thành công năm 2012.
4.3. Thành viên đề tài khoa học cấp Ngành, tên đề tài “Xử lý khủng hoảng
truyền thông trong lĩnh vực ngân hàng”, bảo vệ thành công tháng 6 năm 2016.
5. Các dự án, đề tài khoa học đang thực hiện
Thành viên Dự án khoa học cấp Ngành, tên đề tài “Lịch sử đồng tiền Việt
Nam – Quá trình hình thành và phát triển”, dự kiến bảo vệ năm 2018.
187
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban chỉ đạo Trung ương thí điểm thành lập QTDND (2000), Báo cáo tổng kết giai đoạn thí điểm, phương hướng củng cố, phát triển hệ thống QTDND trong thời gian tới, Hà Nội.
2. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Chỉ thị số 57- CT/TW của Bộ chính trị về củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống QTDND, Hà Nội.
3. CGAP – “Các thực tiễn tốt trên toàn cầu về chuyển đổi và tự vững”/“Sustainable Interest Rate Setting and Risk Management in Microfinance Institutions”, Hội thảo của IFC-TYM-VMFWG ngày 16/5/2013.
4. Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2012), Thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam, Báo cáo quốc gia tại Hội nghị cấp cao của Liên Hợp Quốc về Phát triển bền vững (RIO + 20).
5. Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2012), Nghị định số 48/2001/NĐ-CP ngày 13/8/2001 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của QTDND.
6. Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2012), Nghị định số 69/2005/NĐ-CP ngày 26/5/2005 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 48/2001/NĐ-CP ngày 13/8/2001 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của QTDND.
7. Doãn Hữu Tuệ (2010), Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của hệ thống
QTDND Việt Nam, Luận án tiến sĩ.
8. Denis Goulet (2006), "Sự phát triển đích thực có phải là phát triển bền vững
không" – Viện NC Chiến lược, Chính sách và khoa học Hà Nội.
9. Đặng Ngọc Đức (2011), Tăng cường khả năng phát triển bền vững của NHTM Việt Nam rong điều kiện hội nhập, Đề tài nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
188
10. Đỗ Mạnh Hùng (2011), “Chuyển đổi Quỹ tín dụng TW thành NHHTX”,
Thông tin Quỹ tín dụng TW (Số 10), tr. 8-11.
11. Hiệp hội QTDND Việt Nam (2012), Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ
thị 57 - CT/TW ngày 10/10/2000 của Bộ Chính trị.
12. NHNN Việt Nam (2006), Định hướng Chiến lược phát triển hệ thống
QTDND giai đoạn 2006-2020.
13. NHNN Việt Nam (2001), Kế hoạch triển khai Chỉ thị số 57-CT/TW của Bộ Chính trị về củng cố hoàn thiện và phát triển hệ thống QTDND, Hà Nội. 14. NHNN Việt Nam (2001), Báo cáo kết quả khảo sát mô hình tổ chức hệ
thống các NHHTX tại CHLB Đức do Phó Thống đốc NHNN Trần Minh Tuấn
làm trưởng đoàn, Hà Nội.
15. NHNN Việt Nam (2000), Phương án củng cố chấn chỉnh và xử lý các
QTDND yếu kém, Hà Nội.
16. NHNN Việt Nam (1999), Luật công ty Quỹ an toàn Quebec, Canada, tài liệu
dịch, Hà Nội.
17. NHNN Việt Nam (1999), Quy chế của Tổng liên đoàn Desjardins về Quỹ khả dụng, Quỹ tiền gửi và đầu tư của các Liên đoàn và về một số chuẩn mực Tài chính áp dụng đối với các Quỹ và các Liên đoàn Quebec, Canada, tài liệu dịch, Hà Nội.
18. NHNN Việt Nam (1999), Quy chế quản lý nội bộ Tổng liên đoàn các Quỹ tiết kiệm và tín dụng Desjardins Quebec, Canada, tài liệu dịch, Hà Nội.
19. NHNN Việt Nam (1997), Luật Hợp tác xã và các văn bản pháp quy về Quỹ
tín dụng, Hà Nội.
20. NHNN Việt Nam (1995), Hệ thống hoá các văn bản về QTDND, Tập I, Hà
Nội.
21. NHNN Việt Nam (1995), Hệ thống hoá các văn bản về QTDND, Tập II, Hà
Nội.
22. NHNN Việt Nam (1995), Hệ thống hoá các văn bản về QTDND, Tập III, Hà
Nội.
189
23. NHNN Việt Nam (1991, 1994), Báo cáo kết quả khảo sát mô hình Quỹ tín
dụng Desjardins tại Quebec, Canada.
24. NHNN Việt Nam (1991), Luật về Tổng thanh tra các Định chế tài chính
Quebec, Canada, tài liệu dịch.
25. NHNN Việt Nam (1992), Luật về công ty tài chính nông nghiệp Quebec,
Canada, tài liệu dịch.
26. NHNN Việt Nam (1992), Luật về Bảo hiểm cho vay nông nghiệp và lâm
nghiệp, Canada, tài liệu dịch.
27. NHNN Việt Nam (1992), Luật về Bảo hiểm tiền gửi Quebec, Canada, tài
liệu dịch.
28. NHNN Việt Nam (1992), Luật về Hợp tác xã Quebec, Canada, tài liệu dịch.
29. Nguyễn Kim Anh, Ngô Văn Thứ, Lê Thanh Tâm và Nguyễn Thị Tuyết Mai
(2012), Tài chính vi mô với giảm nghèo tại Việt Nam: Kiểm định và so sánh,
Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.
30. Nguyễn Kim Anh (2013), Mức độ bền vững của các tổ chức tài chính vi mô
Việt Nam: Thực trạng và một số khuyến nghị, Nhà xuất bản Giao thông Vận
tải, Hà Nội.
31. Nguyễn Thị Ngọc Anh (2005), Tăng cường quản lý nhà nước đối với hệ
thống QTDND ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ.
32. Nguyễn Thị Ngọc Anh (2013) , Một chủ trương đúng và kịp thời thực hiện tái cơ cấu hiệu quả hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân, Tạp chí Ngân hàng, Tháng 7/2013.
33. Nguyễn Thanh Phương (2011), Phát triển bền vững Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Luận án Tiến sĩ kinh tế – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
34. Nguyễn Thị Thanh Hương (2013), NHHTX – Mô hình mới trong hệ thống
TCTD Việt Nam", Tạp chí Ngân hàng tháng 3/2013.
190
35. Nguyễn Thị Kim Thanh (2013), Tiêu chí phát triển bền vững khu vực ngân hàng Việt Nam trong điều kiện hội nhập, Tạp chí Ngân hàng số 17, tháng 9 năm 2013.
36. Nguyễn Đình Lưu (2008) Hoàn thiện và phát triển hệ thống QTDND Việt
Nam, Luận án tiến sĩ.
37. Nguyễn Đình Lưu (2003), Hệ thống QTDND qua hơn 2 năm củng cố, chấn chỉnh theo Chỉ thị 57 của Bộ Chính trị, Tạp chí Ngân hàng số 1 + 2/2003.
38. Nguyễn Đức Hải (2012), Phát triển tài chính vi mô tại Việt Nam, Luận án
tiến sĩ.
39. Pau R. Niven (2009), Thẻ điểm cân bằng - The Balance Scorecard, Nhà xuất
bản tổng hợp Tp. HCM, 2009.
40. Phạm Quang Vinh (2001), Điều hòa vốn trong hệ thống QTDND, Tạp chí
Ngân hàng tháng 4/2001.
41. Quốc Hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Các tổ chức tín
dụng (2010), NXB Chính trị - hành chính, Hà Nội.
42. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Hợp tác xã
(2003), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
43. Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương (2012), Báo cáo tổng kết 10 năm thực
hiện Chỉ thị 57-CT/TW ngày 10/10/2000 của Bộ Chính trị.
44. QTDTW, Báo cáo tình hình hoạt động của QTDTW từ năm 1995 đến năm
2011.
45. QTDTW (2011), Báo cáo kết quả khảo sát mô hình tổ chức hệ thống các
Ngân hàng Rabobank tại Hà Lan.
46. QTDTW (2011), Báo cáo kết quả khảo sát mô hình tổ chức hệ thống các
NHHTX tại Vân Nam - Trung Quốc.
47. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 phê duyệt Đề án “cơ cấu lại các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015”.
48. Thủ tướng Chính phủ (2000), Quyết định số 135/2000/QĐ-TTg ngày 28/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống QTDND.
191
49. Tô Ngọc Hưng (2012), Phát triển bền vững ngân hàng thương mại Việt
Nam, Tạp chí Ngân hàng số 18, tháng 9/2012.
50. Thaddeus C. Trzyna, phẩm, Thế giới bền vững định nghĩa và trắc lượng phát triển bền vững - Viện NC Chiến lược, Chính sách khoa học và công nghệ.
51. Trần Hữu Ý (2009), Xây dựng chiến lược phát triển bền vững của Ngân
hàng Chính sách xã hội Việt Nam, Luận án Tiến sĩ kinh tế.
52. Trần Quang Khánh (2004), Những giải pháp bảo đảm an toàn cho hoạt động
của hệ thống QTDND Việt Nam, Luận án tiến sĩ.
53. Trần Quang Khánh (1999), Cơ chế giám sát và đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống NHHTX Cộng hoà Liên bang Đức và việc vận dụng vào điều kiện thực tiễn Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng 1999.
54. Trần Quang Khánh (2007), Giải pháp thành lập Quỹ an toàn hệ thống
QTDND, Đề tài khoa học.
55. Viện Chiến lược (2009), Thành lập Tổ chức kiểm toán QTDND Việt Nam,
Đề tài nghiên khoa học.
56. Viện Chiến lược (2012), Giải pháp chuyển đổi mô hình hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương thành Ngân hàng Hợp tác xã, Đề tài nghiên cứu khoa học.
57. www.wikipedia.org cập nhật ngày 19/4/2007.
58. www.wikipedia.org cập nhật ngày 19/4/2007.
TIẾNG ANH
59. Carl-Johan Lindgren, Gillian Garcia, and Matthew I. Saal (1996), Bank
Soundness and Macroeconomic Policy.
60. Dow Jones Sustainability Indexes, 1999.
61. Global Reporting Initiative (GRI).
192
Phụ lục 01
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hệ thống QTDND
TT Số văn bản
Tên văn bản
Ngày ban hành/Ngày hiệu lực
I – TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
Luật Các tổ chức tín dụng của Quốc hội, số 47/2010/QH12
1
47/2010/QH1 2
Luật NHNN Việt Nam của Quốc hội, số 46/2010/QH12
2
46/2010/QH1 2
3
04/2015/TT- NHNN
Thông tư 04/2015/TT-NHNN Quy định về Quỹ tín dụng nhân dân
4 254/QĐ-TTg
16/06/2010 Áp dụng 01/01/2011 16/06/2010 Áp dụng 01/01/2011 31/03/2015 Áp dụng 01/06/2015 01/03/2012 Áp dụng 01/03/2012
5
10/2011/NĐ- CP
26/01/2011 Áp dụng 15/03/2011
Quyết định 254/QĐ-TTg năm 2012 phê duyệt Đề án "Cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015" do Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 10/2011/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 về ban hành Danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng
6
04/2010/TT- NHNN
Thông tư 04/2010/TT-NHNN của NHNN Việt Nam quy định việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng
7
06/2012/TT- NHNN
Thông tư 06/2012/TT-NHNN của NHNN Việt Nam quy định về cho vay đặc biệt đối với tổ chức tín dụng
8
31/2012/TT- NHNN
Thông tư 31/2012/TT-NHNN của NHNN Việt Nam quy định về ngân hàng hợp tác xã Đã được sửa đổi bổ sung: Thông tư 09/2016/TT-NHNN sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư 31/2012/TT-NHNN của NHNN Việt Nam quy định về ngân hàng hợp tác xã
9
03/2014/TT- NHNN
Thông tư 03/2014/TT-NHNN quy định về Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân do Thống đốc NHNN Việt Nam ban hành Đã được sửa đổi bổ sung: Thông tư 06/2017/TT-NHNN sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư 03/2014/TT-NHNN ngày 23/01/2014 quy định về Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Thông tư 04/2015/TT-NHNN ngày 31/03/2015 của Thống đốc NHNN quy định về quỹ tín dụng nhân dân
11/02/2010 Áp dụng 28/03/2010 16/03/2012 Áp dụng 01/04/2012 26/11/2012 Áp dụng 01/01/2013 17/6/2016 Áp dụng 15/8/2016 23/01/2014 Áp dụng 15/03/2014 05/7/2017 Áp dụng 1/9/2017 10 3357/NHNN- Công văn 3357/NHNN-TTGSNH của NHNN Việt Nam hướng 06/05/2010
TTGSNH
Áp dụng 06/05/2010
11
24/2006/QĐ- NHNN
06/06/2006 Áp dụng 07/07/2006
dẫn việc chuyển điểm giao dịch thành phòng giao dịch Quỹ tín dụng nhân dân - Quyết định số 24/2006/QĐ-NHNN của NHNN v/v ban hành Quy chế cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động Quỹ tín dụng nhân dân, mở, chấm dứt hoạt động sở giao dịch, chi nhánh, văn phòng đại diện và phòng giao dịch, điểm giao dịch của Quỹ tín dụng nhân dân, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập Quỹ tín dụng nhân dân, thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân dưới sự giám sát của NHNN Đã được sửa đổi bổ sung: - Quyết định 26/2008/QĐ-NHNN của NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động Quỹ tín dụng nhân dân; mở, chấm dứt hoạt động sở giao dịch, chi nhánh, văn phòng đại diện và phòng giao dịch, điểm giao dịch của Quỹ tín dụng nhân dân; chia, tách, hợp nhất, sáp nhập Quỹ tín dụng nhân dân; thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân dưới sự giám sát của NHNN ban hành kèm theo Quyết định số 24/2006/QĐ-NHNN ngày 06/6/2006 của Thống đốc NHNN
12
96/2014/NĐ- CP
Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng
13
Quy định xếp loại Quỹ tín dụng nhân dân
42/2016/TT- NHNN
17/10/2014 Áp dụng 12/12/2014 30/12/2016 Áp dụng 01/05/2017
193
II – NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG
1
04/2011/TT- NHNN
10/03/2011 Áp dụng 10/03/2011
Thông tư 04/2011/TT-NHNN của NHNN Việt Nam quy định áp dụng lãi suất trong trường hợp tổ chức, cá nhân rút tiền gửi trước hạn tại tổ chức tín dụng Đã được sửa đổi bổ sung: Quyết định 458/QĐ-NHNN của NHNN Việt Nam về việc đính chính văn bản
III – NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG
1
39/2016/TT- NHNN
Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng
1
41/2010/NĐ- CP
Nghị định 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
30/12/2016 Áp dụng 15/03/2017 12/04/2010 Áp dụng 01/06/2010
2
14/2010/TT- NHNN
14/06/2010 Áp dụng 14/06/2010
3
20/2010/TT- NHNN
Thông tư 14/2010/TT-NHNN của NHNN Việt Nam hướng dẫn chi tiết thực hiện Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn Thông tư 20/2010/TT-NHNN của NHNN Việt Nam hướng dẫn các biện pháp điều hành công cụ chính sách tiền tệ để hỗ trợ tổ chức tín dụng cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn
29/09/2010 Áp dụng 29/09/2010
5
42/2011/TT- NHNN
6
04/2012/TT- NHNN
Thông tư 42/2011/TT-NHNN của NHNN Việt Nam về việc quy định việc cấp tín dụng hợp vốn của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng Thông tư 04/2012/TT-NHNN của NHNN Việt Nam về việc quy định về nghiệp vụ nhận ủy thác và ủy thác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
7
28/2012/TT- NHNN
Thông tư 28/2012/TT-NHNN của NHNN Việt Nam quy định về bảo lãnh ngân hàng
8
11/2012/NĐ- CP
15/12/2011 Áp dụng 15/12/2011 08/03/2012 Áp dụng 02/05/2012 03/10/2012 Áp dụng 02/12/2012 22/02/2012 Áp dụng 10/04/2012
9
83/2010/NĐ- CP
23/07/2010 Áp dụng 09/09/2010
10
05/2011/TT- BTP
16/02/2011 Áp dụng 20/04/2011
11
69/2011/TTL T-BTC-BTP
18/05/2011 Áp dụng 02/07/2011
12
43/2014/NĐ- CP
15/05/2014 Áp dụng 01/07/2014
Nghị định 11/2012/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm Nghị định 83/2010/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký giao dịch đảm bảo Đã được sửa đổi bổ sung: Nghị định 05/2012/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về đăng ký giao dịch đảm bảo, trợ giúp pháp lý, luật sư, tư vấn pháp luật Hướng dẫn một số vấn đề về đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án theo phương thức trực tiếp, bưu điện, fax, thư điện tử tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp Đã được sửa đổi bổ sung: Thông tư 08/2014/TT-BTP của Bộ Tư pháp về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 05/2011/TT-BTP ngày 16/02/2011 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số vấn đề về đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án theo phương thức trực tiếp, bưu điện, fax, thư điện tử tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp và Thông tư 22/2010/TT-BTP ngày 06/12/2010 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về đăng ký, cung cấp thông tin trực tuyến giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án Thông tư liên tịch 69/2011/TTLT-BTC-BTP của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm, phí cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm và phí sử dụng dịch vụ khách hàng thường xuyên Nghị định 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai Đã được sửa đổi bổ sung: Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2009 của
194
13
20/2011/TTL T-BTP- BTNMT
Chính phủ về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Thông tư liên tịch 20/2011/TTLT-BTP-BTNMT hướng dẫn việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất do Bộ Tư pháp - Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
18/11/2011 Áp dụng 15/01/2012
14
17/2011/TT- NHNN
18/08/2011 Áp dụng 01/10/2011
Thông tư 17/2011/TT-NHNN của NHNN Việt Nam quy định về việc cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá của NHNN Việt Nam đối với tổ chức tín dụng Đã được sửa đổi bổ sung: Thông tư 37/2011/TT-NHNN của NHNN Việt Nam về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 17/2011/TT-NHNN ngày 18/08/2011 quy định về cho vay có đảm bảo bằng cầm cố giấy tờ có giá của NHNN Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng
16
32/2015/TT- NHNN
20/05/2010 Áp dụng 01/10/2010 31/12/2015 Áp dụng 01/03/2016
17
457/TB- NHNN
08/12/2010 Áp dụng 08/12/2010
18
16/TB- CĐKGDBĐ
05/03/2012 Áp dụng 05/03/2012
19
36/2014/TT- NHNN
- Thông tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20 tháng 11 năm 2014 của Thống đốc NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; - Thông tư số 06/2016/TT-NHNN ngày 27 tháng 5 năm 2016 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 36/2014/TT-NHNN; - Thông tư số 32/2015/TT-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Thống đốc NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân Thông báo 457/TB-NHNN của NHNN Việt Nam về việc áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng có tỷ trọng cho vay nông nghiệp nông thôn lớn theo Thông tư 20/2010/TT-NHNN ngày 29/09/2010 của NHNN Thông báo 16/TB-CĐKGDBĐ của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm về việc triển khai đăng ký, cung cấp thông tin trực tuyến giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo kê biên tài sản thi hành án Thông tư 36/2014/TT-NHNN của NHNN Việt Nam về việc quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
20/11/2014 Áp dụng 01/02/2015
195
IV – NGHIỆP VỤ TÀI CHÍNH KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN
1
32/2015/TT- NHNN
Quy định các giới hạn tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân
2
1687/NHNN- TCKT
Công văn 1687/NHNN-TCKT về hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho các Quỹ tín dụng nhân dân.
31/12/2015 Áp dụng 01/03/2016 20/03/2015 Áp dụng 01/07/2015
3
45/2013/TT- BTC
25/04/2013 Áp dụng 01/01/2013
Thông tư 45/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định Đã được sửa đổi bổ sung: Quyết định 1173/QĐ-BTC của Bộ Tài chính về việc đính chính
4
39/2011/TT- NHNN
5
44/2011/TT- NHNN
6
06/2012/QĐ- KTNN
7
10/2012/TT- NHNN
8
01/2011/TT- NHNN
15/12/2011 Áp dụng 01/01/2012 29/12/2011 Áp dụng 12/02/2012 11/04/2012 Áp dụng 26/05/2012 16/04/2012 Áp dụng 30/05/2012 21/02/2011 Áp dụng 07/04/2011
9
35/2013/TT- NHNN
31/12/2013 Áp dụng 14/02/2014
10
94/2013/TT- BTC
08/07/2013 Áp dụng 01/09/2013
11
15/2009/TT- NHNN
10/08/2009 Áp dụng 24/09/2009
12
10/2014/TT- NHNN
20/03/2014 Áp dụng 01/06/2014
Thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25/04/2013 của BTC hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định Thông tư 39/2011/TT-NHNN quy định về kiểm toán độc lập đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do NHNN Việt Nam ban hành Thông tư 44/2011/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do NHNN Việt Nam ban hành Quyết định 06/2012/QĐ-KTNN của Kiểm toán Nhà nước về việc ban hành Quy trình kiểm toán các tổ chức tài chính, ngân hàng Thông tư 10/2012/TT-NHNN của NHNN Việt Nam về việc quy định xử lý sau thanh tra, giám sát đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Thông tư 01/2011/TT-NHNN của NHNN Việt Nam quy định việc đảm bảo an toàn, bảo mật hệ thống công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng Thông tư 35/2013/TT-NHNN của NHNN Việt Nam hướng dẫn thực hiện một số quy định về phòng, chống rửa tiền Đã được sửa đổi bổ sung: Thông tư 31/2014/TT-NHNN của NHNN Việt Nam về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 35/2013/TT-NHNN ngày 31/12/2013 hướng dẫn thực hiện một số quy định về phòng, chống rửa tiền Thông tư 94/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế độ tài chính đối với Quỹ tín dụng nhân dân Đã được sửa đổi bổ sung: Quyết định 2219/QĐ-BTC của Bộ Tài chính về việc đính chính Thông tư 94/2013/TT-BTC ngày 08/07/2013 hướng dẫn chế độ tài chính đối với quỹ tín dụng nhân dân Thông tư 15/2009/TT-NHNN của NHNN Việt Nam quy định về tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn đối với các tổ chức tín dụng Thông tư 10/2014/TT-NHNN của NHNN Việt Nam về việc sửa đổi, bổ sung một số tài khoản trong Hệ thống tài khoản kế toán các Tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định 479/2004/QĐ-NHNN ngày 29/04/2004 của Thống đốc NHNN
13
2685/NHNN- KTTC
Hướng dẫn quy trình hạch toán, luân chuyển chứng từ, mở sổ kế toán tại Phòng/ Điểm giao dịch của QTDCS
14
Quyết định ban hành chế độ chứng từ kế toán ngân hàng
1789/2005/Q Đ-NHNN
15
22/VBHN- NHNN
Ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng.
21/03/2008 Áp dụng 21/03/2008 12/12/2005 Áp dụng 12/12/2005 04/06/2014 Áp dụng 04/06/2014
196
V – NGHIỆP VỤ AN TOÀN KHO QUỸ
1
01/2014/TT- NHNN
06/01/2014 Áp dụng 20/02/2014
2
40/2012/NĐ- CP
02/05/2012 Áp dụng 26/06/2012
Thông tư 01/2014/TT-NHNN của NHNN Việt Nam quy định về giao nhận, bảo quản, vận chuyển tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá Nghị định 40/2012/NĐ-CP của Chính phủ về nghiệp vụ phát hành tiền, bảo quản, vận chuyển tài sản quý và giấy tờ có giá trong hệ thống NHNN, tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài
197
VI – BẢO HIỂM XÃ HỘI
1
41/2009/TT- BLĐTBXH
30/12/2009 Áp dụng 13/02/2010
2
23/2012/TT- BLĐTBXH
18/10/2012 Áp dụng 02/12/2012
Thông tư 41/2009/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/01/20007 về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc - Thông tư 23/2012/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư 19/2007/TT-BLĐTBXH ngày 23/09/2007 về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm bắt buộc
VII - THUẾ
1
218/2013/NĐ- CP
Nghị định 218/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp
2
3551/TCT- TNCN
Công văn 3551/TCT-TNCN của Tổng cục Thuế về việc thuế thu nhập cá nhân đối với lợi tức góp vốn của thành viên Quỹ Tín dụng Nhân dân
26/12/2013 Áp dụng 15/02/2014 13/09/2010 Áp dụng 13/09/2010
VIII - LƯU TRỮ, THỐNG KÊ, PHÁ SẢN
1
35/2015/TT- NHNN
2
43/2011/TT- NHNN
31/12/2015 Áp dụng 01/01/2017 20/12/2011 Áp dụng 03/02/2012
3
31/2013/TT- NHNN
13/12/2013 Áp dụng 01/12/2014
4
10/2012/TT- NHNN
Thông tư 35/2015/TT-NHNN quy định chế độ báo cáo thống kê đối với các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài Thông tư 43/2011/TT-NHNN của NHNN Việt Nam về việc quy định thời hạn bảo quản hồ sơ, tài liệu lưu trữ trong ngành Ngân hàng Thông tư 31/2013/TT-NHNN của NHNN Việt Nam về việc quy định Báo cáo thống kê áp dụng đối với các đơn vị thuộc NHNN và các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Thông tư 10/2012/TT-NHNN của NHNN Việt Nam về việc quy định xử lý sau thanh tra, giám sát đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
5
05/2010/NĐ- CP
Nghị định 05/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật Phá sản đối với các tổ chức tín dụng
16/04/2012 Áp dụng 30/05/2012 18/01/2010 Áp dụng 15/03/2010

