14
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
Phạm Văn Thuần, Nguyễn Đặng An Long
Quản lí liên kết đào tạo giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp
và doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực
trong bối cảnh chuyển đổi số
Phạm Văn Thuần1, Nguyễn Đặng An Long*2
1
Email: thuanpv@vnu.edu.vn
Học viện Quản lí Giáo dục
31 Phan Đình Giót, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam
* Tác giả liên hệ
2
Email: longnda@kthcm.edu.vn
Trường Cao đẳng Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
33 đường Vĩnh Viễn, Quận 10,
Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
1. Đặt vấn đề
Chuyển đổi số trong giáo dục việc thực hiện những
thay đổi trong cách chúng ta giáo dục học sinh. Điều
này nghĩa bất cứ điều gì từ việc kết hợp công nghệ
mới vào lớp học đến thay đổi cách các sở giáo dục
đánh giá theo dõi sự tiến bộ của người học. Bất kể
những thay đổi nào được thực hiện, chúng đều có mục
đích cải thiện kết quả chung của học sinh. Có rất nhiều
lợi ích từ chuyển đổi thuật số trong giáo dục. Với
những ưu thế vượt trội, trong nhiều năm qua, việc liên
kết đào tạo giữa nhà trường doanh nghiệp đã được
nhiều sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh quan tâm đạt được nhiều thành
tựu quan trọng. Đây được coi một hướng đi đúng đắn
của các sở giáo dục nghề nghiệp, đồng thời cũng
cơ hội để nhiều doanh nghiệp tiếp cận nhanh với nguồn
nhân lực chất lượng, rút ngắn thời gian đào tạo, đào
tạo lại trong quá trình tuyển dụng và sử dụng lao động.
Những kết quả này thể hiện vai trò của quản đào
tạo liên kết giữa sở giáo dục nghề nghiệp doanh
nghiệp đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong bối cảnh
chuyển đổi số.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn
một số hạn chế, bất cập trong quá trình hợp tác, cụ thể
như sau: Hợp tác theo đơn đặt hàng đào tạo đạt chuẩn
đầu ra theo yêu cầu của doanh nghiệp; Hợp tác thực
hành, thực tập tại doanh nghiệp; Hợp tác trong thực tập
trả lương của các doanh nghiệp; Hợp tác cử người
của doanh nghiệp tham gia huấn luyện, thực hành trong
quá trình đào tạo; Hợp tác xây dựng chuẩn đầu ra cho
chương trình đào tạo; Hợp tác chuyển giao sản phẩm
của nhà trường cho doanh nghiệp (đào tạo, nghiên cứu
ứng dụng khoa học, quy trình sản xuất thử,...).
Những vấn đề trên đòi hỏi các sở giáo dục nghề
nghiệp cần những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng
cao hiệu quả quản liên kết đào tạo giữa sở giáo
dục nghề nghiệp doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu
nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi số. Để làm
những vấn đề trên, bài viết này tập trung đánh giá,
phân tích thực trạng quản lí liên kết đào tạo giữa cơ sở
giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu
nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi số; hạn chế
nguyên nhân của những hạn chế; từ đó kiến nghị các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản của hoạt động
này trong thời gian tới.
TÓM TẮT:
Đẩy mạnh hợp tác với các doanh nghiệp đang xu hướng của
nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp hiện nay. Thực tiễn đã chứng minh, việc
gắn kết đào tạo với nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp, quan
đã góp phần nâng cao chất lượng nguồn lao động, rút ngắn khoảng cách lí
thuyết và thực hành tại sở, đáp ứng yêu cầu phát triển của hội, góp
phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực có kĩ năng nghề, tăng năng suất
lao động năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi số.
Để thực hiện thành công mục tiêu này, vai trò của hoạt động quản lí là rất
quan trọng và cần thiết. Trong thời gian qua, hoạt động quản hợp tác giữa
các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và các doanh nghiệp ở Thành phố Hồ Chí
Minh vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc cần phải những giải pháp
phù hợp. Trên cơ sở nghiên cứu các văn bản pháp quy của Nhà nước, yêu
cầu của quá trình chuyển đổi số trong quản lí đào tạo, khảo sát thực tiễn tại
các cơ sở giáo dục nghề nghiệp các doanh nghiệp trên địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu này đề xuất một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả quản liên kết đào tạo giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp
doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi
số thời gian tới.
TỪ KHÓA: Quản liên kết đào tạo, sở giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp, nguồn
nhân lực, chuyển đổi số.
Nhận bài 12/7/2024 Nhận bài đã chỉnh sửa 22/7/2024 Duyệt đăng 15/9/2024.
DOI: https://doi.org/10.15625/2615-8957/12410903
15
Tập 20, Số 09, Năm 2024
Phạm Văn Thuần, Nguyễn Đặng An Long
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Một số khái niệm liên quan
Chuyển đối số: Trên thế giới, chuyển đổi số bắt đầu
được nhắc đến nhiều vào khoảng năm 2015, phổ biến
từ năm 2017. Theo Enterprisers (2016): “Chuyển đổi
thuật số việc tích hợp công nghệ thuật số vào
tất cả lĩnh vực của doanh nghiệp, thay đổi căn bản cách
bạn vận hành mang lại giá trị cho khách hàng” [1].
Đó một sự thay đổi về văn hóa đòi hỏi các tổ chức
phải liên tục thách thức hiện trạng, thử nghiệm và cảm
thấy thoải mái với thất bại. Chuyển đổi thuật số
việc thiết lập lại cơ bản cách thức hoạt động của một tổ
chức. Mục tiêu của chuyển đổi thuật số xây dựng
lợi thế cạnh tranh bằng cách liên tục triển khai công
nghệ trên quy lớn để cải thiện trải nghiệm của khách
hàng giảm chi phí [2]. Theo IBM (2024): “Chuyển
đổi kĩ thuật số là một sáng kiến chiến lược kết hợp công
nghệ thuật số trên tất cả các lĩnh vực của một tổ chức.
đánh giá hiện đại hóa các quy trình, sản phẩm,
hoạt động công nghệ của tổ chức để cho phép đổi
mới liên tục, nhanh chóng, hướng đến khách hàng” [3].
Như vậy, chuyển đổi số được hiểu quá trình tin học
hóa toàn bộ quá trình vận hành của tất cả các lĩnh vực
ở trong xã hội.
Chuyển đổi số trong giáo dục: Theo Compnow
(2022): Chuyển đổi số trong giáo dục chính tạo ra
những thay đổi trong cách chúng ta giáo dục học sinh
của mình [4]. Điều này nghĩa bất cứ điều từ việc
kết hợp công nghệ mới vào lớp học đến thay đổi cách
chúng ta đánh giá theo dõi sự tiến bộ của học sinh.
McKinsey (2023) cho rằng: Bất kể những thay đổi nào
được thực hiện, chúng đều nhằm mục đích cải thiện kết
quả chung của học sinh. Có rất nhiều lợi ích từ chuyển
đổi kĩ thuật số trong giáo dục, nó giúp cải thiện kết quả
học tập cho sinh viên [2]. Ngoài ra, nó giúp trường học
an toàn hơn bằng cách bảo vệ khỏi các mối đe dọa trên
mạng. Theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu, chuyển
đổi số trong giáo dục đang tăng cường việc dạy và học
bằng cách sử dụng công nghệ để nâng cao hiệu suất, hỗ
trợ sự tiến bộ của học sinh nâng cao chất lượng của
các phương pháp giảng dạy như học trực tuyến. Ở Việt
Nam, giáo dục được coi một trong tám lĩnh vực ưu
tiên của chuyển đổi số được đưa vào chương trình
chuyển đổi số quốc gia.
Liên kết đào tạo giữa sở giáo dục nghề nghiệp
doanh nghiệp: nhiều quan điểm khác nhau về quá
trình hợp tác giữa các cơ sở giáo dục với doanh nghiệp.
quan điểm cho rằng, liên kết đào tạo quá trình
các sở giáo dục tìm đến các doanh nghiệp để hợp tác
trong quá trình giảng dạy, thực tập, chuyển giao khoa
học công nghệ [5]. Theo TF (2022), liên kết đào tạo
quá trình các sở giáo dục tìm đến doanh nghiệp để
thúc đẩy sự hỗ trợ của các doanh nghiệp về công nghệ,
hướng dẫn thực hành, phản biện các chương trình đào
tạo. Đồng thời, các doanh nghiệp tìm kiếm nguồn lao
động phù hợp với đặc điểm và các vị trí cần thiết trong
quá trình hoạt động của mình [6]. Theo VNN (2022),
liên kết đào tạo giữa sở giáo dục nghề nghiệp với
doanh nghiệp quá trình hợp tác giữa hai bên giúp
sinh viên tiếp cận môi trường làm việc thực tế
hội việc làm sau khi tốt nghiệp [7]. Như vậy, liên
kết đào tạo giữa sở giáo dục nghề nghiệp doanh
nghiệp giúp đào tạo đúng trọng tâm, nâng tỉ lệ sinh viên
ra trường việc làm, làm đúng ngành nghề được đào
tạo. Sự gắn kết này sẽ hiệu quả hơn khi trường nghề
xác định rõ đào tạo những gì thị trường lao động và các
doanh nghiệp đang có nhu cầu.
Quản liên kết đào tạo giữa sở giáo dục nghề
nghiệp và doanh nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số:
quá trình xác định các biện pháp quản nhằm tối
ưu hóa nâng cao chất lượng hoạt động liên kết đào
tạo giữa sở giáo dục nghề nghiệp doanh nghiệp.
Ở đây, chủ thể thực hiện liên kết đào tạo thông qua các
biện pháp quản nhằm liên kế với các doanh nghiệp
trong quá trình đào tạo nghề. Quản liên kết đào tạo
thể hiện ở các nội dung cụ thể như sau: 1) Tổ chức các
hoạt động nhằm nâng cao nhận thức của đội ngũ giáo
viên, nhân viên, học sinh sinh viên nhà trường về vị trí,
vai trò và tầm quan trọng của hoạt động liên kết đào tạo
giữa nhà trường doanh nghiệp trước những yêu cầu
của chuyển đổi số…; 2) Lập kế hoạch liên kết đào tạo
giữa sở giáo dục nghề nghiệp doanh nghiệp đáp
ứng nhu cầu nguồn nhân lực; 3) Tổ chức thực hiện kế
hoạch hoạt động liên kết đào tạo giữa sở giáo dục
nghề nghiệp doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu nguồn
nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi số; 4) Chỉ đạo thực
hiện hoạt động liên kết đào tạo giữa sở giáo dục nghề
nghiệp doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu nguồn nhân
lực trong bối cảnh chuyển đổi số; 5) Công tác kiểm tra,
đánh giá hoạt động liên kết đào tạo giữa cơ sở giáo dục
nghề nghiệp doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu nguồn
nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi số; 6) Công tác quản
lí các điều kiện phục vụ hoạt động liên kết đào tạo giữa
sở giáo dục nghề nghiệp doanh nghiệp đáp ứng
nhu cầu nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi số.
2.2. Phương pháp nghiên cứu và khảo sát
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu
luận: Bài viết tập trung làm những vấn đề luận
về liên kết đào tạo quản liên kết đào tạo giữa
sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp đáp ứng nhu
cầu nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi số. Việc
làm rõ những vấn đề lí luận này cho phép chúng ta hiểu
hơn về tầm quan trọng nội dung của quản liên
kết đào tạo giữa sở giáo dục nghề nghiệp doanh
nghiệp đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong bối cảnh
chuyển đổi số.
Phương pháp khảo sát: Thiết kế bảng câu hỏi liên
quan đến các vấn đề sau: 1) Tầm quan trọng của quản
liên kết đào tạo giữa sở giáo dục nghề nghiệp
16
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong bối
cảnh chuyển đổi số; 2) Thực trạng quản liên kết đào
tạo giữa sở giáo dục nghề nghiệp doanh nghiệp
đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển
đổi số; 3) Các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả
quản lí liên kết đào tạo giữa sở giáo dục nghề nghiệp
doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong
bối cảnh chuyển đổi số.
Nhóm tác giả tiến hành khảo sát 127 người (n=127),
trong đó 21 cán bộ quản (n1=21); 35 giáo viên,
nhân viên (n2=25); 55 học sinh, sinh viên (n3=55) tại
các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và 16 chủ doanh nghiệp
(n4=16) đóng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Để đo lường các khái niệm nghiên cứu trong mô hình,
tác giả sử dụng thang đo Likert-5 (từ mức 1 tương ứng
với “không quan trọng” đến mức 5 tương ứng với “Rất
quan trọng”).
2.3. Kết quả nghiên cứu
2.3.1. Tầm quan trọng của quản liên kết đào tạo giữa sở
giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu nguồn
nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi số trên địa bàn Thành phố
Hồ Chí Minh
Để đánh giá tầm quan trọng của quản liên kết đào
tạo giữa sở giáo dục nghề nghiệp doanh nghiệp
đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển
đổi số trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả
thực hiện khảo sát và đánh giá theo các tiêu chí sau: 1)
Không quan trọng; 2) Ít quan trọng; 3) Khá quan trọng;
4) Quan trọng; 5) Rất quan trọng. Kết quả khảo sát thể
hiện ở Bảng 1.
Các số liệu khảo sát Bảng 1 cho thấy: 22.05%
người được hỏi trả lời “Rất quan trọng” (28/127 người
được hỏi); 57.48% người được hỏi trả lời “Quan
trọng” (73/127 người được hỏi); 14.96% người được
hỏi trả lời “Khá quan trọng” (19/127 người được
hỏi); 3.15% người được hỏi trả lời “Ít quan trọng”
(4/127 người được hỏi) 2.63% trả lời “Không quan
trọng” (3/127 người được hỏi). Trong đó, số người tập
trung trả lời cao nhất “Quan trọng” chiếm 54.48%
(quá nửa số người được hỏi đánh giá). Kết quả bảng số
liệu cũng cho thấy, những người trả lời “Không quan
trọng”, “Ít quan trọng” tập trung chủ yếu học sinh,
sinh viên giáo viên. Kết quả khảo sát trên cùng với
đánh giá của các chuyên gia đã khẳng định tầm quan
trọng của hoạt động quản lí liên kết đào tạo giữa cơ sở
giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu
nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi số trên địa
bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
2.3.2. Thực trạng lập kế hoạch liên kết đào tạo giữa cơ sở giáo
dục nghề nghiệp và doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu nguồn nhân
lực trong bối cảnh chuyển đổi số trên địa bàn Thành phố Hồ
Chí Minh
Để đánh giá thực trạng việc lập kế hoạch cho hoạt
động liên kết đào tạo giữa sở giáo dục nghề nghiệp
doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong
bối cảnh chuyển đổi số trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh, tác giả thực hiện khảo sát theo các tiêu chí: 1.
Kém; 2. Yếu; 3. Trung bình; 4. Khá; 5. Tốt. Kết quả
khảo sát thể hiện ở Bảng 2.
Với 23.74% đánh giá “Tốt” (trung bình 23.78/127
người được hỏi); 54.96% đánh giá “Khá” (trung bình
68.90/127 người được hỏi) (xem Bảng 2) đã cho thấy
mức độ quan tâm của việc lập kế hoạch. Tuy nhiên, có
13.54% đánh giá “Trung bình” (trung bình 17.20/127
người được hỏi), 5.20% trả lời “Yếu” (trung bình
6.60/127 người được hỏi” 2.52% trả lời “Kém”
(trung bình 3.20/127 người được hỏi). Kết quả này cho
thấy, việc lập kế hoạch liên kết đào tạo đã được quan
tâm nhưng chưa cao, vẫn còn tồn tại những yếu kém.
Nguyên nhân do vấn đề chuyển đổi số vẫn còn khá mới,
do đó tính chủ động chưa cao. Nhiều sở giáo dục
nghề nghiệp còn lúng túng, thiếu khoa học trong quá
trình lập kế hoạch.
Bảng 1: Đánh giá tầm quan trọng của hoạt động quản lí liên kết đào tạo giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp đáp
ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi số trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
TT Đối tượng khảo sát Số
lượng
(người)
Tỉ lệ
(%) Mức độ đánh giá
Không quan trọng Ít quan trọng Khá quan trọng Quan trọng Rất quan trọng
Tần số % Tần số % Tần số % Tần số % Tần số %
1Cán bộ quản lí 21 100 0 0.00 0 0.00 10.79 14 11.02 6 4.72
2Giáo viên, nhân viên 35 100 10.79 10.79 6 4.72 19 14.96 86.30
3 Học sinh sinh viên 55 100 21.57 3 2.36 11 8.66 30 23.62 97.09
4 Chủ doanh nghiệp 16 100 0 0.00 0 0.00 10.79 10 7.87 53.94
Tổng số 127 100 3 2.36 4 3.15 19 14.96 73 57.48 28 22.05
(Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả năm 2024)
Phạm Văn Thuần, Nguyễn Đặng An Long
17
Tập 20, Số 09, Năm 2024
2.3.3. Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động liên kết
đào tạo giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp đáp
ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi số trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Để đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động
liên kết đào tạo giữa sở giáo dục nghề nghiệp
doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong
bối cảnh chuyển đổi số trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh, nhóm tác giả thực hiện khảo sát và đánh giá theo
các tiêu chí sau: 1. Kém; 2. Yếu; 3. Trung bình; 4. Khá;
5. Tốt. Kết quả thể hiện ở Bảng 3.
Theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu, thực hiện
kế hoạch liên kết đào tạo một trong những yếu tố
căn bản của hoạt động quản lí. Với 21.70% đánh giá
“Tốt” (trung bình 27.56/127 người được hỏi); 54.07%
đánh giá “Khá” (trung bình 68.67/127 người được hỏi)
đã cho thấy tầm quan trọng của hoạt động này. Tuy
nhiên, vẫn còn 15.31% đánh giá “Trung bình” (trung
bình 19.44/127 người được hỏi), 5.86% trả lời “Yếu”
(trung bình 7.44/127 người được hỏi” và 3.50% trả lời là
“Kém” (trung bình 4.44/127 người được hỏi). Kết quả
khảo sát này cho thấy, hoạt động này đã được các sở
giáo dục nghề nghiệp những đầu nhất định nhưng
do những yếu kém của quá trình quản nên việc thực
hiện kế hoạch còn có những hạn chế nhất định.
2.3.4. Thực trạng chỉ đạo thực hiện hoạt động liên kết đào tạo
giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp đáp ứng nhu
cầu nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi số trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh
Trong khoa học quản lí, “chỉ đạo” yếu tố bản
nhất để các hoạt động quản đạt được kết quả như
vọng. Để đánh giá thực trạng chỉ đạo hoạt động liên
kết đào tạo giữa sở giáo dục nghề nghiệp doanh
nghiệp đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong bối cảnh
chuyển đổi số trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, tác
giả thực hiện khảo sát đánh giá theo các tiêu chí: 1.
Kém; 2. Yếu; 3. Trung bình; 4. Khá; 5. Tốt. Kết quả thể
hiện ở Bảng 4.
Trong quá trình chỉ đạo, 22.83% đánh giá “Tốt”
(trung bình 29.00/127 người được hỏi); 54.65% đánh
giá “Khá” (trung bình 69.40/127 người được hỏi) đã
cho thấy tầm quan trọng của chỉ đạo thực hiện hoạt
động liên kết đào tạo giữa sở giáo dục nghề nghiệp
doanh nghiệp. Tuy nhiên, vẫn còn 13.86% đánh giá
“Trung bình” (trung bình 17.60/127 người được hỏi),
5.35% trả lời “Yếu” (trung bình 6.80/127 người được
hỏi”) 3.33% trả lời “Kém” (trung bình 4.20/127
người được hỏi) đã thể hiện một số yếu kém trong trong
quá trình chỉ đạo. nhiều do khác nhau về những
đánh giá này nhưng nguyên nhân thể do năng lực
từ phía đội ngũ cán bộ quản việc chỉ đạo của các
trường chưa cụ thể, thiếu sát sao.
Bảng 2: Thực trạng lập kế hoạch liên kết đào tạo giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu nguồn nhân
lực trong bối cảnh chuyển đổi số trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
TT Nội dung Đánh giá
1 2 3 4 5
Tần số
Tỉ lệ (%)
Tần số
Tỉ lệ (%)
Tần số
Tỉ lệ (%)
Tần số
Tỉ lệ (%)
Tần số
Tỉ lệ (%)
1Lập chương trình, kế hoạch của trường về hoạt
động liên kết đào tạo giữa sở giáo dục nghề
nghiệp và doanh nghiệp.
21.57 53.94 15 11.81 72 56.69 33 25.98
2Xác định mục tiêu, phương pháp, nội dung, hình
thức thực hiện hoạt động liên kết đào tạo giữa cơ sở
giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp.
3 2.36 6 4.72 15 11.81 71 55.91 32 25.20
3Phân tích đặc điểm tình hình nhà trường về những
thuận lợi khó khăn của hoạt động liên kết đào
tạo giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp.
21.57 6 4.72 16 12.60 73 57.48 30 23.62
4Xây dựng kế hoạch đầu tư các nguồn lực cần thiết và
các biện pháp huy động những nguồn lực xã hội cần
thiết cho hoạt động liên kết đào tạo giữa sở giáo
dục nghề nghiệp và doanh nghiệp.
4 3.15 7 5.51 18 14.17 69 54.33 29 22.83
5Kế hoạch bồi dưỡng nâng cao năng lực, phẩm chất
đạo đức nghề nghiệp của cán bộ quản lí, giáo
viên, nhân viên trong hoạt động liên kết đào tạo
giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp.
53.94 97.09 22 17.32 64 50.39 27 21.26
Trung bình tổng 3.20 2.52 6.60 5.20 17.20 13.54 69.80 54.96 30.20 23.78
(Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả năm 2024)
Phạm Văn Thuần, Nguyễn Đặng An Long
18
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
Bảng 3: Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động liên kết đào tạo giữa sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp đáp
ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi số trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
TT Nội dung Đánh giá
1 2 3 4 5
Tần số
Tỉ lệ (%)
Tần số
Tỉ lệ (%)
Tần số
Tỉ lệ (%)
Tần số
Tỉ lệ (%)
Tần số
Tỉ lệ (%)
1Lập danh mục các công việc cần phải hoàn thành
trong việc tổ chức hoạt động liên kết đào tạo giữa cơ
sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp.
3 2.36 6 4.72 15 11.81 72 56.69 31 24.41
2Triển khai, phổ biến kế hoạch thực hiện hoạt động
liên kết đào tạo giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp
doanh nghiệp.
3 2.36 7 5.51 15 11.81 70 55.12 32 25.20
3Tổ chức phân công trong việc thu thập thông tin, đánh
giá chính xác về điều kiện nguồn lực của nhà trường
(nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ hoạt động liên kết đào
tạo giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp.
4 3.15 6 4.72 16 12.60 73 57.48 28 22.05
4 Xây dựng cơ cấu tổ chức trong nhà trường phù hợp
với hoạt động liên kết đào tạo giữa sở giáo dục
nghề nghiệp và doanh nghiệp
4 3.15 7 5.51 18 14.17 69 54.33 29 22.83
5Thành lập ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động
liên kết đào tạo giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp
doanh nghiệp.
53.94 86.30 21 16.54 65 51.18 28 22.05
6 Sắp xếp, phân bổ giáo viên, nhân viên phụ trách các
hoạt động liên kết đào tạo giữa cơ sở giáo dục nghề
nghiệp và doanh nghiệp.
6 4.72 97.09 22 17.32 67 52.76 23 18.11
7 Tạo điều kiện để giáo viên, nhân viên thực hiện
nhiệm vụ; luôn sẵn sàng với nhiệm vụ được giao. 3 2.36 6 4.72 22 17.32 67 52.76 29 22.83
8Bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên, nhân viên về hoạt
động liên kết đào tạo giữa sở giáo dục nghề
nghiệp và doanh nghiệp.
53.94 7 5.51 23 18.11 68 53.54 24 18.90
9Theo dõi, giám sát và đánh giá hoạt động liên kết đào
tạo giữa sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp. 6 4.72 86.30 22 17.32 67 52.76 24 18.90
Trung bình tổng 4.44 3.50 7.44 5.86 19.44 15.31 68.67 54.07 27.56 21.70
(Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả năm 2024)
2.3.5. Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện
hoạt động liên kết đào tạo giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp
doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong bối cảnh
chuyển đổi số trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Để đánh giá thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá
hoạt động liên kết đào tạo giữa sở giáo dục nghề
nghiệp doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu nguồn nhân
lực trong bối cảnh chuyển đổi số trên địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh, nhóm tác giả thực hiện khảo sát
đánh giá theo các tiêu chí sau: 1. Kém; 2. Yếu; 3. Trung
bình; 4. Khá; 5. Tốt. Kết quả thể hiện ở Bảng 5.
Các số liệu khảo sát cho thấy: 21.39% đánh giá
“Tốt” (trung bình 27.17/127 người được hỏi); 53.49%
đánh giá “Khá” (trung bình 68.50/127 người được hỏi);
14.44% đánh giá “Trung bình” (trung bình 18.33/127
người được hỏi), 6.17% trả lời “Yếu” (trung bình
7.83/127 người được hỏi) 4.07% trả lời “Kém”
(trung bình 5.17/127 người được hỏi). So với tất cả nội
dung quản lí nêu trên, công tác kiểm tra, đánh giá có tỉ lệ
đánh giá “Khá” “Tốt” thấp nhất; trong khi, tỉ lệ đánh
giá “Kém”, “yếu” “Trung bình” cao nhất. Kết quả
cho thấy, trong thời gian qua, hoạt động này đã được các
sở giáo dục nghề nghiệp triển khai thực hiện nhưng
do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chính là do
công tác quản lí chưa khoa học, chưa huy động được các
nguồn lực trong nhà trường. Do đó, kết quả chưa cao,
vẫn còn tồn tại những yếu kém cần khắc phục.
2.3.6. Thực trạng công tác quản các điều kiện phục vụ hoạt
động liên kết đào tạo giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh
nghiệp đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển
đổi số trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Trong quá trình quản các điều kiện phục vụ hoạt
động liên kết đào tạo giữa sở giáo dục nghề nghiệp
doanh nghiệp, mức độ thực hiện mức độ đạt không
giống nhau. Để đánh giá thực trạng công tác quản lí các
Phạm Văn Thuần, Nguyễn Đặng An Long