SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT PHAN THÚC TRỰC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI
TỔ CHỨC DẠY HỌC, KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ CHỦ ĐỀ
ĐỊA LÍ 12 THEO HƯỚNG PHÂN HOÁ NGƯỜI HỌC GÓP PHẦN
PHÁT TRIỂN MỘT SỐ PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC
CHO HỌC SINH TRƯỜNG PHAN THÚC TRỰC
Họ và tên tác giả : Dương Thị Phương Diện
Số điện thoại : 0388907411
Đơn vị công tác : Trường THPT Phan Thúc Trực
Môn dự thi : Địa lí
Năm học : 2020 - 2021
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Nghĩa đầy đủ
HS Học sinh
GV Giáo viên
DHPH Dạy học phân hóa
GDPT Giáo dục phổ thông
THPT Trung học phổ thông
SGK Sách giáo khoa
SGV Sách giáo viên
ĐC Đối chứng
TN Thực nghiệm
CLB Câu lạc bộ
NLNT Năng lực nhận thức
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, đặc biệt đánh giá năng lực vận dụng kiến thức các môn học vào cuộc sống; coi trọng cả kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra đánh giá trong quá trình học tập để có thể tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục.
Trong chương trình GDPT 2018, dạy học phân hoá (DHPH) là xu thế tất yếu của giáo dục nước ta. DHPH có bản chất nhân văn, dân chủ, nhằm đạt sự công bằng trong giáo dục, đáp ứng đặc thù của từng địa phương, hướng đến xây dựng môi trường học tập mới, trong đó người học tuỳ theo năng lực đặc điểm cá nhân, có được các cơ hội lựa chọn để phát triển.
Luật giáo dục nêu rõ “Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”. Nền giáo dục mới đòi hỏi không chỉ trang bị cho HS kiến thức mà nhân loại đã tìm ra mà còn phải bồi dưỡng cho học tính năng động, óc tư duy sáng tạo và thực hành giỏi, tức là đào tạo những con người không chỉ biết mà phải có năng lực hành động.
Môn Địa lí THPT theo chương trình 2018 xác định rõ mục tiêu là “Trên nền tảng những kiến thức cơ bản và phương pháp giáo dục đề cao hoạt động chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh, Chương trình môn Địa lí giúp học sinh hình thành, phát triển năng lực địa lí – một biểu hiện của năng lực khoa học; đồng thời góp phần cùng các môn học và hoạt động giáo dục khác phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung đã được hình thành trong giai đoạn giáo dục cơ bản, đặc biệt là tình yêu quê hương, đất nước; thái độ ứng xử đúng đắn với môi trường tự nhiên, xã hội; khả năng định hướng nghề nghiệp; để hình thành nhân cách công dân, sẵn sàng đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Bên cạnh đó, dạy học theo quan điểm DHPH dù đã và đang được nghiên cứu và áp dụng; tuy nhiên năng lực tổ chức, cũng như các điều kiện để tổ chức dạy học phân hoá trong các trường THPT cũng rất khác nhau theo từng địa
1
phương và còn nhiều hạn chế. Việc nghiên cứu các biện pháp để thiết kế và tổ chức dạy học theo quan điểm DHPH trong các trường THPT là vấn đề cấp thiết và quan trọng hiện nay. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi chọn đề tài: “ Tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá một số chủ đề Địa lý 12 theo hướng phân hoá người học góp phần phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh trường THPT Phan Thúc Trực” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
a. Mục tiêu
Xác lập luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn trong việc tổ chức dạy học theo hướng phân hóa từ đó, tiến hành đề xuất các giải pháp, cách thức tổ chức hoạt động học tập nhằm góp phần phát triển một số phẩm chất và năng lực cho HS.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận, thực tiễn của dạy học phân hóa cho môn Địa lí 12.
- Đề xuất giải pháp vận dụng dạy học phân hóa, kiểm tra đánh giá vào một số chủ đề Địa lí 12 để góp phần phát triển một số phẩm chất, năng lực cho HS.
- Tổ chức thực nghiệm đánh giá hiệu quả của các biện pháp và hình thức tổ chức dạy học.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
- HS lớp 12 THPT trường THPT Phan Thúc Trực và 1 số trường THPT trên
địa bàn Yên Thành.
b. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Một số trường THPT huyện Yên Thành, Nghệ An.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ năm học 2019 – 2020 đến
năm học 2020 – 2021.
- Phạm vi nội dung: Đề tài đề xuất các giải pháp và thực nghiệm về vận dụng dạy học phân hóa vào 1 số chủ đề Địa lý 12 để góp phần phát triển một số phẩm chất, năng lực cho HS.
4. Phương pháp nghiên cứu
a. Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu, thông tin
Tiến hành thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau: Sách báo chuyên ngành, tài liệu nghiên cứu khoa học và luận văn tốt nghiệp có liên quan, tài liệu tập huấn chuyên môn... để xem xét đối tượng được nghiên cứu trong một hệ thống hoàn chỉnh, từ đó xác định những nội dung cần thiết của đối tượng nghiên cứu.
b. Phương pháp chuyên gia
2
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, đối với một số kết quả và kiến nghị liên quan, tôi thực hiện xin ý kiến một số giáo viên có kinh nghiệm dạy HS học tại các trường THPT trong và ngoài tỉnh Nghệ An. Từ những kiến thức thu thập được tôi đã có những định hướng về nội dung nghiên cứu cũng như các vấn đề liên quan đến việc thực nghiệm sự phạm.
c. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sư phạm là phương pháp quan trọng để kiểm định các giả thuyết khoa học và tính khả thi của đề tài. Tôi và đồng nghiệp đã tiến hành thực nghiệm và dạy đối chứng ở một số trường THPT để kiểm chứng hiệu quả của các biện pháp được lựa chọn.
d. Các phương pháp khác có liên quan.
- Phương pháp quan sát: qua các tiết dự giờ thao giảng, trao đổi rút kinh
nghiệm trong giảng dạy
- Phương pháp nghiên cứu các tài liệu về dạy HS học: SGK, SGV, sách bài
tập, sách chuẩn kiến thức kĩ năng Địa lý THPT ...
5. Cấu trúc sáng kiến.
Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính
của đề tài gồm 3 chương:
- Chương I: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn.
- Chương II: Các giải pháp đã được thực hiện để góp phần phát triển một số phẩm chất, năng lực cho HS thông qua việc vận dụng dạy học phân hóa vào 1 số chủ đề môn Địa lí 12.
- Chương III: Thực nghiệm sư phạm.
6. Đóng góp và tính mới của đề tài.
- Vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực cho HS theo hướng nghiên cứu và vận dụng dạy học phân hóa vào chương trình phổ thông hiện hành kết hợp với tiếp cận các yêu cầu cần đạt của chương trình phổ thông 2018, để góp phần phát triển một số phẩm chất và năng lực của chương trình phổ thông tổng thể đề ra.
- Góp phần cải thiện kết quả đầu ra; học sinh tham gia tích cực; khơi dậy
tình yêu học tập; tăng khả năng tự nhận thức; học Địa lí tập hiệu quả hơn.
3
PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
I. Cơ sở lí luận
1. Cơ sở lí luận về dạy học phân hóa
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới “Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”; “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan. Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận. Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội”. là “Đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục theo hướng đánh giá năng lực của người học; kết hợp đánh giá cả quá trình với đánh giá cuối kỳ học, cuối năm học theo mô hình của các nước có nền giáo dục phát triển”…
Công văn hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2020-2021 của Sở GD-ĐT tỉnh Nghệ An cũng nhấn mạnh việc “xây dựng kế hoạch dạy học các chủ đề/bài học bảo đảm các yêu cầu về phương pháp, hình thức dạy học, kĩ thuật dạy học, thiết bị dạy học và học liệu, phương án kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học và đảm bảo dạy học phân hóa, sát đối tượng”.
Chương trình giáo dục phổ thông được Bộ GD&ĐT ban hành năm 2018 có
một số điểm mới các điểm chính như:
(1) Định hướng phát triển năng lực người học, điều này yêu cầu người giáo viên (GV) cần phải biết cách lựa chọn phương pháp dạy học (PPDH), cách đánh giá kết quả giáo dục đáp ứng mục tiêu hiện thực hóa yêu cầu cần đạt thành và chuẩn đầu ra của chương trình, nghĩa là cần xem mục tiêu và chuẩn đầu ra là bản thiết kế, còn người dạy là người đọc bản vẽ thiết kế và thi công làm ra sản phẩm là nhân cách HS (HS);
(2) Chương trình và sách giáo khoa (SGK) theo định hướng tích hợp và phân hóa. Dạy học tích hợp là định hướng dạy học trong đó GV tổ chức, hướng dẫn để HS huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập; qua đó hình thành kiến thức, kĩ năng mới và qua đó phát triển được các năng lực (NL) cần thiết, đặc biệt là NL giải quyết vấn đề. Dạy học phân hóa là định hướng dạy học trong đó GV tổ chức dạy học tùy theo đối tượng HS, nhằm bảo đảm yêu cầu giáo dục phù hợp với đặc
4
điểm tâm, sinh lí, nhịp độ, khả năng, nhu cầu và hứng thú khác nhau của HS; trên cơ sở đó phát triển tối đa tiềm năng vốn có của mỗi HS;
(3) Kiểm tra, đánh giá và thi cử theo định hướng đánh giá NL, đòi hỏi phải đổi mới PPDH theo hướng phát triển NL; liên tục tổ chức điều chỉnh quá trình giáo dục để khắc phục được những hiện tượng như “ngồi nhầm lớp”, “nhầm cấp học”, “chọn nhầm nghề”; khi đánh giá không yêu cầu học thuộc mà phải biết gia công trí tuệ thông tin thu được, đặc biệt đánh giá tư duy phê phán, tư duy phản biện sẽ kích thích hứng thú học tập của HS, tạo một môi trường học tập dân chủ, sáng tạo.
Dạy học phân hoá là một quan điểm dạy học tập trung vào việc thiết kế giảng dạy xuất phát từ tình hình thực tế của HS, dựa vào đặc điểm cá nhân, tâm lí, sinh lí, nhu cầu, động cơ, hứng thú, nguyện vọng, điều kiện hoàn cảnh... của các em mà tìm cách dạy cho phù hợp. Dạy học phân hoá có thể thực hiện ở 2 cấp độ:
+ Dạy học phân hoá ở cấp vĩ mô (phân hoá ngoài), là sự tổ chức quá trình dạy học thông qua cách tổ chức các loại trường, lớp khác nhau cho các đối tượng HS khác nhau, xây dựng các chương trình GD khác nhau.
+ Dạy học phân hoá ở cấp vi mô (phân hoá trong), là tổ chức quá trình dạy học trong một tiết học, một lớp học có tính đến đặc điểm cá nhân HS; là việc sử dụng những biện pháp phân hoá thích hợp trong một lớp học, cùng một chương trình và sách giáo khoa. Hình thức phân hóa này luôn được là cần thiết, đó là nhiệm vụ của GV trực tiếp giảng dạy cũng như của cán bộ quản lý chuyên môn ở cấp trường.
Những quan điểm, định hướng nêu trên tạo tiền đề, cơ sở và môi trường pháp lý thuận lợi cho việc đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực người học.
2. Cơ sở lí luận về chương trình giáo dục định hướng năng lực
Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp. Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức.
Chương trình dạy học định hướng năng lực không quy định những nội dung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình giáo dục, trên cở sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học tức là đạt được kết quả đầu ra mong muốn. Trong chương trình
5
định hướng năng lực, mục tiêu học tập, tức là kết quả học tập mong muốn thường được mô tả thông qua hệ thống các năng lực. Kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được. HS cần đạt được những kết quả yêu cầu đã quy định trong chương trình.
Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng. Có nhiều loại năng lực khác nhau. Việc mô tả cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau. Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể.
Môn Địa lí góp phần hình thành và phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học đã được quy định tại Chương trình tổng thể. Môn Địa lí còn có các các năng lực chuyên môn, đặc thù, được chia là 3 nhóm chính: Nhận thức khoa học Địa lí; Tìm hiểu địa lí; Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn
- Nhận thức khoa học địa lí theo quan điểm không gian; nhận thức khoa học
địa lí để giải thích được các hiện tượng và quá trình địa lí:
+ Sử dụng được bản đồ địa hình kết hợp với địa bàn để xác định vị trí của một điểm trên thực địa; xác định được vị trí của một sự vật, hiện tượng địa lí trên bản đồ;
+ Phân tích được ý nghĩa của vị trí địa lí đối với tự nhiên, phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng; Xác định và lí giải được sự phân bố các đối tượng địa lí;
+ Sử dụng được lược đồ trí nhớ để mô tả nhận thức về không gian; sử dụng bản đồ hoặc lược đồ để trình bày về mối quan hệ không gian của các đối tượng địa lí; phát hiện, chọn lọc, tổng hợp và trình bày được đặc trưng địa lí của một địa phương; từ đó, hình thành ý niệm về bản sắc của một địa phương, phân biệt các địa phương với nhau.
+ Giải thích các hiện tượng và quá trình địa lí ; Giải thích được cơ chế diễn ra một số hiện tượng, quá trình tự nhiên trên Trái Đất; sự hình thành, phát triển và phân bố của một số yếu tố hoặc thành phần tự nhiên; một số đặc điểm của sự vật, hiện tượng tự nhiên trên Trái Đất và ở lãnh thổ Việt Nam; phát hiện và giải thích được một số hiện tượng, quá trình địa lí tự nhiên trong thực tế địa phương.
+ Giải thích được các sự vật, hiện tượng; sự phân bố, đặc điểm, quá trình
phát triển về kinh tế – xã hội ở mỗi quốc gia, khu vực và ở Việt Nam.
+ Giải thích được các sự vật, hiện tượng, quá trình kinh tế - xã hội trên cơ sở
vận dụng mối liên hệ và tác động của tự nhiên;
6
+ Giải thích được những hệ quả (tích cực, tiêu cực) do con người tác động đến môi trường tự nhiên; giải thích được tính cấp thiết của việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
- Tìm hểu địa lí:
+ Tìm kiếm, chọn lọc được thông tin từ các văn bản tài liệu phù hợp với nội dung, chủ đề nghiên cứu; sử dụng được tranh, ảnh địa lí để miêu tả những hiện tượng, quá trình địa lí; lập được bộ sưu tập hình ảnh (bản giấy và bản kĩ thuật số);
+ Đọc được bản đồ để khai thác thông tin, kiến thức cần thiết; khai thác được các kênh thông tin bổ sung (biểu đồ, tranh ảnh,...) từ bản đồ, atlat địa lí; đọc được lát cắt địa hình; sử dụng được một số bản đồ thông dụng trong thực tế;
+ Thực hiện được một số tính toán đơn giản (tính GDP bình quân đầu người, tốc độ tăng trưởng kinh tế,...); nhận xét, phân tích được bảng số liệu thống kê; xây dựng được bảng thống kê có cấu trúc phù hợp với ý tưởng phân tích số liệu; vẽ được một số loại biểu đồ thể hiện động thái, cơ cấu, quy mô,... của đối tượng địa lí từ số liệu đã cho;
+ Nhận xét được biểu đồ và giải thích; đọc hiểu các sơ đồ, mô hình địa lí;
+ Xây dựng được kế hoạch học tập thực địa; sử dụng được những kĩ năng cần thiết để thu thập tài liệu sơ cấp ngoài thực địa: quan sát, quan trắc, chụp ảnh thực địa, phỏng vấn, vẽ lược đồ, sơ đồ,... trình bày được những thông tin thu thập được từ thực địa. Khai thác Internet phục vụ môn học;
+ Tìm kiếm, thu thập, chọn lọc và hệ thống hoá được các thông tin địa lí cần thiết từ các trang web; đánh giá và sử dụng được các thông tin trong học tập và thực tiễn.
- Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học:
+ Tìm kiếm được thông tin từ các nguồn tin cậy để cập nhật số liệu, tri thức về thế giới, khu vực, đất nước, về xu hướng phát triển trên thế giới và trong nước; liên hệ được thực tế địa phương, đất nước,... để làm sáng rõ hơn kiến thức địa lí;
+ Trình bày ý tưởng và xác định được cụ thể chủ đề nghiên cứu ở địa phương; vận dụng được kiến thức, kĩ năng địa lí vào việc nghiên cứu chủ đề, viết được báo cáo hoàn chỉnh và trình bày kết quả nghiên cứu theo các hình thức khác nhau.
+ Vận dụng được các kiến thức, kĩ năng địa lí để giải quyết một số vấn đề
thực tiễn phù hợp với trình độ học sinh và ứng xử phù hợp với môi trường sống.
- Về phương pháp giáo dục môn Địa lí theo Chương trình GDPT 2018 thực
hiện theo các hướng chung sau đây:
7
+ Tích cực hoá hoạt động của học sinh; trong đó giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn, khuyến khích, tạo môi trường học tập thân thiện cho học sinh; học Địa lí tập chủ động, tích cực, sáng tạo, tập trung rèn luyện năng lực tự học.
+ Tăng cường các hoạt động trải nghiệm cho học sinh, gắn bài học địa lí với thực tiễn địa phương, đất nước, thế giới; vận dụng kiến thức vào việc giải quyết các vấn đề về môi trường, kinh tế - xã hội tại địa phương, từ đó phát triển nhận thức, kĩ năng, hình thành phẩm chất, năng lực đặc thù và năng lực chung.
+ Đa dạng hóa các phương pháp dạy học, kết hợp linh hoạt các phương pháp dạy học tiên tiến, các phương pháp dạy học đặc thù của môn học như: sử dụng bản đồ, sơ đồ, số liệu thống kê, biểu đồ, tranh ảnh, mô hình, quan sát, thực địa,...; cải tiến và sử dụng theo hướng phát huy tính tích cực các phương pháp dạy học truyền thống như: thuyết trình, hỏi đáp,...
+ Thực hiện các hình thức tổ chức dạy học một cách đa dạng và linh hoạt, kết hợp các hình thức dạy học cá nhân, dạy học theo nhóm, dạy học theo lớp; dạy học trên lớp, dạy học ngoài trời, dạy học trong thực tế, thực địa; tham quan, khảo sát địa phương, sưu tầm, hệ thống hoá thông tin, trưng bày, giới thiệu, triển lãm, trò chơi học tập,...
+ Tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện để học sinh tìm tòi, khám phá, khai thác và chiếm lĩnh kiến thức từ các phương tiện dạy học địa lí như: bản đồ, atlat, tranh ảnh, mô hình, các dụng cụ quan trắc, dụng cụ đo vẽ, tài liệu, tư liệu,... Khuyến khích, tạo điều kiện, xây dựng môi trường học tập thuận lợi cho học sinh khai thác thông tin từ Internet để phục vụ học tập; rèn luyện cho học sinh kĩ năng xử lí, trình bày thông tin địa lí bằng công nghệ thông tin và truyền thông,...; tăng cường tự làm các thiết bị dạy học với việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (lập các trang website học tập, xây dựng hệ thống bài học, bài tập, thực hành, bài kiểm tra bằng các phần mềm thông dụng và thích hợp, xây dựng các video clip giới thiệu sự vật, hiện tượng địa lí,...).
Qua đó cho thấy, giáo viên chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ HS tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức. Chú trọng sự phát triển khả năng giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp…; Hình thức dạy học, tổ chức hình thức học tập đa dạng; chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học.
- Về đánh giá kết quả học tập của HS Chương trình GDPT môn Địa lí xác
định:
+ Đánh giá kết quả giáo dục trong môn Địa lí nhằm cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình và sự tiến bộ của học sinh để hướng dẫn hoạt động học tập.
8
+ Căn cứ để đánh giá kết quả giáo dục của học sinh là các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực được quy định trong chương trình tổng thể và chương trình môn Địa lí.
+ Về nội dung đánh giá, bên cạnh đánh giá kiến thức, cần tăng cường đánh giá các kĩ năng của học sinh như: làm việc với bản đồ, atlat, biểu đồ, sơ đồ, bảng số liệu, tranh ảnh, quan sát, thu thập, xử lí và hệ thống hoá thông tin, sử dụng các dụng cụ học tập ngoài trời, sử dụng công nghệ và thông tin truyền thông trong học tập,... Chú trọng đánh giá khả năng vận dụng tri thức vào những tình huống cụ thể.
+ Đa dạng hóa các hình thức đánh giá, tăng cường đánh giá thường xuyên đối với tất cả học sinh bằng các hình thức khác nhau. Kết hợp việc đánh giá của giáo viên với tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh.
+ Kết quả giáo dục được đánh giá bằng các hình thức định tính và định lượng thông qua đánh giá thường xuyên, định kì, trên cơ sở đó tổng hợp kết quả đánh giá chung về phẩm chất, năng lực và sự tiến bộ của học sinh.
Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đầu ra, có tính đến sự tiến bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng kiến thức môn học để giải quyết các tình huống trong các tình huống thực tiễn. Cần thiết lập mối liên hệ giữa nội dung học với giải thích các hiện tượng thực tiễn trong tiết học bằng các câu hỏi dẫn dắt để đi tìm kiến thức mới; tạo hứng thú, khơi dậy niềm đam mê; thích tìm tòi khám phá những hiện tượng, tình huống trong cuộc sống cho HS.
II. Cơ sở thực tiễn.
1. Thực trạng
Trong chương trình giáo dục phổ thông HS đã được tiếp cận với môn Địa lí từ lớp 4 đến lớp 12 nhưng khối lượng kiến thức HS cần lĩnh hội tương đối nhiều; phần lớn các bài gồm những nội dung đòi hỏi tư duy trừu tượng. Do đó, giáo viên cần tìm ra phương pháp dạy học gây được hứng thú học tập bộ môn giúp các em chủ động lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng, không gượng ép là điều cần quan tâm. Khi HS có hứng thú, niềm say mê với môn học sẽ giúp các em phát huy được năng lực tư duy, khả năng tự học và óc sáng tạo; để từ đó nâng cao chất lượng bộ môn nói riêng và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung là vấn đề hết sức quan trọng trong quá trình dạy học của giáo viên và đáp ứng được yêu cầu về đổi mới giáo dục hiện nay.
Năm học 2019 - 2020, tôi được giao nhiệm vụ giảng dạy Địa lí lớp 12, tôi đã sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nhưng phương pháp chủ yếu nhất là phương pháp dạy học theo phân hoá. Nó giúp phát triển kiến thức và các kỹ năng liên quan thông qua những nhiệm vụ mang tính mở, khuyến khích học sinh tìm tòi, hiện thực hoá những kiến thức đã học trong quá trình thực hiện và tạo ra những sản phẩm của chính mình. Phương pháp dạy học này rất phù hợp với việc thiết kế và tổ chức
9
dạy học các chủ đề. HS thấy hứng thú và dễ ghi nhớ bài hơn nếu trong quá trình dạy và học giáo viên luôn có định hướng liên hệ thực tế giữa các kiến thức sách giáo khoa với thực tiễn đời sống hàng ngày, rất nhiều kiến thức có thể liên hệ được với các hiện tượng tự nhiên xung quanh chúng ta.
Bên cạnh đó, trong quá trình giảng dạy vẫn gặp phải một số hạn chế như phòng thực hành riêng biệt không có, thiết bị thực hành không đạt chuẩn hoặc không đầy đủ. Kinh phí hỗ trợ cho HS được tham gia trải nghiệm thực tế không có, vì vậy chưa gây được hứng thú cho HS trong học tập bộ môn. Số giáo viên áp dụng phương pháp này còn ít, việc áp dụng chưa thật chủ động và triệt để, đối tượng và nội dung áp dụng đôi khi chưa phù hợp.
Với đề tài này có thể thấy được cách vận dụng để giải thích các hiện tượng thực tế có hệ thống qua một số bài, hỗ trợ giáo viên dạy học trong một số tiết, qua đó cung cấp cho HS những kiến thức bổ ích, thiết thực, tạo niềm tin vào khoa học, say mê học tập, vận dụng kiến thức vào đời sống và sản xuất.
* Đối với giáo viên:
Trong thời gian qua, dưới sự chỉ đạo của cấp trên, GV đã được tập huấn các chuyên đề như: Dạy học, kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực; Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học, Dạy học theo chủ đề...
Một số GV đã tiếp cận với mục tiêu giáo dục mới, bước đầu tổ chức nhiều hình thức dạy học khác nhau như ngoại khóa, ngoài giờ lên lớp, câu lạc bộ, hoạt động trải nghiệm, nghiên cứu khoa học…
Tuy nhiên, một bộ phận giáo viên vẫn còn chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề phân hóa năng lực, định hướng năng lực cho từng nhóm đối tượng HS, còn lúng túng, chưa chú ý đến việc lồng ghép các lọai kĩ năng thích nghi, hành động, giải quyết các vấn đề thực tiễn trong các tiết học và các hoạt động giáo dục có nội dung liên quan. Một số giáo viên chưa thật sự tâm huyết với nghề dạy học, ngại đổi mới, cho rằng việc thiết kế và tổ chức dạy học chủ đề Địa lí theo phương pháp dạy học phân hoá phải tốn nhiều thời gian, thậm chí là kinh phí.
Để có cơ sở nghiên cứu tôi đã tiến hành khảo sát các giáo viên và 400 học sinh của trường THPT Phan Thúc Trực trong thời gian từ tháng 9/2019 đến tháng 11/2020 bằng nhiều phương pháp khác nhau như điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn trực tiếp, thống kê, xử lí số liệu. Kết quả cho thấy: Phân tích các số liệu thu được sau khảo sát tôi nhận thấy, hầu hết các giáo viên đều nhận thức được vai trò quan trọng của việc dạy học phân hoá người học (95,5% giáo viên cho rằng việc làm này “rất cần thiết”). Dạy học phân hoá không những giúp học sinh hình thành kiến thức mà quan trọng hơn là giúp các em rèn luyện kĩ năng (40,5% giáo viên đồng tình) và hình thành kĩ năng sống (55,7% giáo viên đồng tình). Tuy nhiên, hầu hết giáo viên còn gặp khó khăn về thời gian (chiếm 38,5%), chưa có kĩ năng tổ chức dạy học phân hoá (chiếm 56,5%) dẫn đến việc dạy học phân hoá chưa được
10
tổ chức thường xuyên (chỉ có 5,5% giáo viên tham gia khảo sát xác nhận bản thân thường xuyên dạy học phân hoá). (xem thêm Bảng phụ lục)
*. Về phía học sinh:
Học sinh nhà trường ở mỗi lớp những năm gần đây có chất lượng không đồng đều do việc phân chia lớp được sắp xếp một cách ngẫu nhiên nên năng lực nhận thức có sự khác nhau trong một lớp, giữa các lớp trong khối. Nếu không xây dựng kế hoạch bài dạy theo hướng phân hoá, sát đối tượng sẽ dẫn đến tình trạng những em học sinh khá giỏi nhàm chán với các nhiệm vụ học tập đơn giản hoặc những em có học lực yếu, trung bình gặp khó khăn với các nhiệm vụ học tập phức tạp. Nhiều học sinh không thích học môn Địa lí hoặc coi môn Địa lí chỉ là môn phụ, tình trạng học chống đối hoặc không hợp tác với giáo viên trong quá trình học diễn ra khá phổ biến.
Qua khảo sát, trao đổi phỏng vấn về học tập chủ đề của học sinh nhà trường , tôi thu được kết quả là chủ yếu các em dành ít thời gian để tự tìm hiểu thêm về các kiến thức Địa lí ngoài sách giáo khoa, tài liệu tham khảo; các em chưa quan tâm nhiều đến việc tổ chức dạy học theo hướng phân chia nhiệm vụ học tập theo năng lực, khả năng học; việc dạy học ở trường đạt hiệu quả chưa cao (có tới 50% học sinh được hỏi cho biết “chưa nắm được” kiến thức, kĩ năng cơ bản của môn Địa lí thông qua học trên lớp. Hầu hết học sinh (91,3%) có mong muốn được giao nhiệm vụ học tập, kiểm tra đánh giá phù hợp với năng lực của mình. Bên cạnh đó, các em chưa hiểu rõ về vai trò của việc tổ chức dạy học phân hoá theo lực học của học sinh. Đa số các em đã quen với cách học thụ động, học đối phó, chưa chủ động trong việc khám phá tìm tòi, chưa có các năng lực nghiên cứu và năng lực thực hành.
Bên cạnh đó, qua quan sát, kinh nghiệm dạy học và phỏng vấn trực tiếp tôi nhận thấy: Phần lớn HS ít quan tâm đến các môn học, cũng như ít quan tâm đến các vấn đề thực trạng xung quanh như ô nhiễm môi trường, cháy rừng, hiệu ứng nhà kính, có em còn có thái độ “vô cảm”, thờ ơ, xem nhẹ hay cho rằng đó không phải là trách nhiệm của mình. Phần nhiều các em có được một số thông tin là do GV cung cấp, còn qua các thông tin khác như thời sự, báo chí, internet còn ít.
Với những năm thực nghiệm giảng dạy từ những lớp HS đã qua tôi nhận thấy rằng HS rất ngại những bài học khô khan mang tính lí thuyết, ngược lại các em tỏ ra hứng thú với những bài giảng có tính thực tế, mỗi khi giáo viên đặt ra những hiện tượng thực tế trong đời sống hàng ngày xung quanh mình các em tỏ ra tò mò, hiếu kì muốn tìm ngay lời giải đáp và tập trung vào bài học rất cao.
Trong các năm học, tôi đã tiến hành dạy thử nghiệm với khối lớp 12 mình dạy. Trong suốt thời gian dạy thực nghiệm tôi nhận thấy rằng HS hoạt động rất tích cực, về nhà làm bài tập nhiều hơn, tiết học sôi nổi hơn mỗi khi các em thảo luận với nhau về các hiện tượng thực tế liên quan trong bài học để tìm câu trả lời
11
và đặc biệt hơn là HS đã chủ động lĩnh hội kiến thức, biết vận dụng kiến thức vào đời sống.
Ngoài ra, các khó khăn về cơ sở vật chất như bàn ghế chưa đồng bộ, không cơ động, lớp học chật chội, đặc biệt là đồ dùng, phương tiện dạy học Địa lí ở các trường THPT còn thiếu thốn gây trở ngại lớn.
CHƯƠNG II. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ ĐƯỢC THỰC HIỆN.
Giải pháp 1: Nghiên cứu về quy trình, cách thức tổ chức dạy học phân hóa.
Trong quá trình tổ chức dạy học và nghiên cứu chương trình giáo dục phổ thông 2018, tôi nhận thấy việc tổ chức dạy học phân hóa là phù hợp với mục tiêu, định hướng của chương trình. Vì vậy, tôi đã chủ động tiếp cận, nghiên cứu, ứng dụng dạy học phân hóa vào chương trình hiện hành. Từ đó tôi tiến hành soạn giáo án giảng dạy theo mục tiêu thu hút được tất cả HS cùng tham gia tìm hiểu nội dung bài học, giao nhiệm vụ phù hợp với khả năng của từng em. Khuyến khích HS yếu kém khi các em tỏ thái độ muốn trả lời câu hỏi, tận dụng những tri thức kỹ năng riêng biệt của từng HS...
Ngoài ra, tôi nhận thấy cần chú trọng phân hóa việc giúp đỡ, kiểm tra, đánh giá HS: Đối tượng HS yếu kém cần được quan tâm giúp đỡ nhiều hơn đối tượng HS khá giỏi, những câu hỏi vấn đáp đưa ra cần có sự gợi mở, chẻ nhỏ. Nhưng không có nghĩa là đối tượng HS khá giỏi không được quan tâm mà thực ra là tạo điều kiện cho nhóm này phát huy tối đa tính tự giác, độc lập, sáng tạo của các em.
1. Tổ chức dạy học chủ đề theo hướng phân hóa trên lớp và phân hóa bài tập về nhà.
Ra bài tập phân hóa là để tất cả các đối tượng HS có trình độ nhận thức khác nhau có thể tiến hành những hoạt động khác nhau phù hợp với trình độ khác nhau của họ. Có thể phân hóa về yêu cầu bằng cách sử dụng những bài tập phân bậc.
Hoặc ngay trong một bài tập, ta có thể tiến hành dạy học phân hóa nếu bài tập đó đảm bảo yêu cầu hoạt động cho cả ba nhóm đối tượng HS: Bồi dưỡng lấp lỗ hổng cho HS yếu kém, trang bị kiến thức chuẩn cho HS trung bình và nâng cao kiến thức cho HS khá giỏi. Để làm được điều đó người GV phải nắm chắc nội dung kiến thức của từng bài và có sự đầu tư nghiên cứu cho bài soạn.
Cũng có thể phân hóa về mặt số lượng: để hình thành một kiến thức, rèn luyện một kỹ năng nào đó, số HS yếu kém cần nhiều bài tập cùng loại hơn số các HS khác. Những HS giỏi, thừa thời gian sẽ nhận thêm những bài tập khác để đào sâu và nâng cao. Vì vậy GV nên ra đủ liều lượng bài tập cho từng loại đối tượng HS.
Đồng thời GV cần quan tâm đặc biệt đến những HS có phần thiếu tự tin để động viên các em, lưu ý những HS này hay tính toán nhầm, nhắc nhở HS kia đừng hấp tấp vội vàng, chủ quan, thiếu chín chắn...
12
Cũng như ở trên lớp, những bài tập về nhà cũng sử dụng những cách phân
hóa. Trong việc làm này người GV cần lưu ý:
+ Phân hóa về số lượng bài tập cùng loại: Tuỳ từng loại đối tượng mà GV ra những bài tập thích hợp cho đối tượng đó. Ví dụ HS yếu kém có thể ra nhiều bài tập cùng loại để các em thực hành, HS khá giỏi thêm những bài nâng cao.
+ Phân hoá về nội dung bài tập: Để tránh đòi hỏi quá cao đối với HS yếu kém hoặc quá thấp đối với HS khá giỏi. Cần ra riêng những bài tập nhằm đảm bảo trình độ xuất phát cho những HS yếu kém để chuẩn bị cho bài học sau và ra riêng những bài tập nâng cao cho HS giỏi.
+ Phân hoá yêu cầu về mặt tính độc lập: Bài tập cho HS khá giỏi đ ̣òi hỏi tư duy nhiều, tư duy sáng tạo. Bài tập cho HS yếu kém chứa các yếu tố dẫn dắt, chủ yếu bài tập mang tính rèn luyện kỹ năng.
2. Đổi mới kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học theo hướng phân hoá người học và định hướng phát triển năng lực, vì sự tiến bộ của học sinh
Thực hiện chuyển từ chú trọng kiểm tra kết quả ghi nhớ kiến thức cuối kỳ, cuối năm sang coi trọng kết hợp kết quả đánh giá phong cách học và năng lực vận dụng kiến thức trong quá trình giáo dục và tổng kết cuối kỳ, cuối năm học để hướng tới phát triển năng lực của học sinh; coi trọng đánh giá để giúp đỡ học sinh về phương pháp học tập, động viên sự cố gắng, hứng thú học tập của các em trong quá trình dạy học. Việc kiểm tra, đánh giá không chỉ là việc xem học Địa lí được cái gì mà quan trọng hơn là biết học Địa lí như thế nào, có biết vận dụng không.
Kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học sinh là những hoạt động quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của học sinh; tư vấn, hướng dẫn, động viên học sinh; nhận xét định tính hoặc định lượng về kết quả học tập, rèn luyện, sự hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất của học sinh nhằm mục đích giúp học sinh tự rút kinh nghiệm và nhận xét lẫn nhau trong quá trình học tập, tự điều chỉnh cách học, qua đó dần hình thành và phát triển năng lực vận dụng kiến thức, khả năng tự học, phát hiện và giải quyết vấn đề trong môi trường giao tiếp, hợp tác; bồi dưỡng hứng thú học tập và rèn luyện của học sinh trong quá trình giáo dục. Thông qua kiểm tra, đánh giá, giáo viên rút kinh nghiệm, điều chỉnh hoạt động dạy học và giáo dục ngay trong quá trình và kết thúc mỗi giai đoạn dạy học và giáo dục; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của học sinh để động viên, khích lệ; phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của học sinh để hướng dẫn, giúp đỡ; đưa ra nhận định phù hợp về những ưu điểm nổi bật và những hạn chế của mỗi học sinh để có biện pháp khắc phục kịp thời nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh.
Đánh giá phải hướng tới sự phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh thông qua mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ và các biểu hiện năng lực, phẩm chất của học sinh dựa trên mục tiêu giáo dục THCS; coi trọng đánh giá để giúp đỡ học sinh về phương pháp học tập.Chú trọng đánh giá thường xuyên đối với
13
tất cả học sinh: đánh giá các hoạt động trên lớp; đánh giá qua hồ sơ học tập, vở học tập; đánh giá qua việc học sinh báo cáo kết quả thực hiện một dự án học tập, nghiên cứu khoa học, kĩ thuật, báo cáo kết quả thực hành, thí nghiệm; đánh giá qua bài thuyết trình (bài viết, bài trình chiếu, video clip,…) về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập (sau đây gọi chung là sản phẩm học tập); kết hợp đánh giá trong quá trình dạy học, giáo dục và đánh giá tổng kết cuối kỳ, cuối năm học. Kết hợp đánh giá của giáo viên với tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh, đánh giá của cha mẹ học sinh và cộng đồng.Coi trọng đánh giá sự tiến bộ của mỗi học sinh, không so sánh học sinh này với học sinh khác; coi trọng việc động viên, khuyến khích sự hứng thú, tính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện của học sinh; giúp học sinh phát huy năng khiếu cá nhân; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan, không tạo áp lực cho học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh.
a) Đánh giá quá trình học tập của học sinh
Trong quá trình dạy học, căn cứ vào đặc điểm và mục tiêu của bài học, của
mỗi hoạt động trong bài học, giáo viên tiến hành một số việc như sau:
- Theo dõi, kiểm tra quá trình và từng kết quả thực hiện nhiệm vụ của học sinh theo tiến trình dạy học; quan tâm tiến độ hoàn thành từng nhiệm vụ của học sinh để áp dụng biện pháp cụ thể, kịp thời giúp đỡ học sinh vượt qua khó khăn.
- Ghi nhận xét vào phiếu, vở, sản phẩm học tập... của học sinh về những kết quả đã làm được hoặc chưa làm được, mức độ hiểu biết và năng lực vận dụng kiến thức, mức độ thành thạo các thao tác, kĩ năng cần thiết...
- Đánh giá sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh, quan sát các biểu hiện trong quá trình học tập, sinh hoạt và tham gia các hoạt động tập thể để nhận xét sự hình thành và phát triển một số phẩm chất, năng lực của học sinh; từ đó động viên, khích lệ, giúp học sinh khắc phục khó khăn; phát huy ưu điểm và các phẩm chất, năng lực riêng; điều chỉnh hoạt động, ứng xử để tiến bộ.
- Khuyến khích, hướng dẫn học sinh tự đánh giá và tham gia nhận xét, góp ý bạn, nhóm bạn: Học sinh tự rút kinh nghiệm ngay trong quá trình thực hiện từng nhiệm vụ học tập, hoạt động giáo dục khác; trao đổi với giáo viên để được góp ý, hướng dẫn; Học sinh tham gia nhận xét, góp ý bạn, nhóm bạn ngay trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập môn học và hoạt động giáo dục; thảo luận, hướng dẫn, giúp đỡ bạn hoàn thành nhiệm vụ.
Kiểm tra, đánh giá thường xuyên được tiến hành trong quá trình học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập. Mục đích và phương thức kiểm tra, đánh giá trong mỗi giai đoạn thực hiện một nhiệm vụ học tập như sau:
- Chuyển giao nhiệm vụ: Giáo viên tổ chức một tình huống có tiềm ẩn vấn đề, lựa chọn một kỹ thuật học tích cực phù hợp để giao cho học sinh giải quyết tình huống. Trong quá trình chuyển giao nhiệm vụ, giáo viên cần quan sát, trao đổi với học sinh để kiểm tra, đánh giá về khả năng tiếp nhận và sẵn sang thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh trong lớp.
14
- Thực hiện nhiệm vụ: Học sinh hoạt động tự lực giải quyết nhiệm vụ (Cá nhân, cặp đôi hoặc nhóm nhỏ). Hoạt động giải quyết vấn đề có thể (thường) được thực hiện ở ngoài lớp học và ở nhà. Trong quá trình học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập, giáo viên quan sát, theo dõi hành động, lời nói của học sinh để đánh giá mức độ tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh; khả năng phát hiện vấn đề cần giải quyết và đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề; khả năng lựa chọn, điều chỉnh và thực hiện giải pháp để giải quyết vấn đề; phát hiện những khó khăn, sai lầm của học sinh để có giải pháp hỗ trợ phù hợp giúp học sinh thực hiện được nhiệm vụ học tập.
- Báo cáo, thảo luận: Sử dụng kĩ thuật được lựa chọn, giáo viên tổ chức cho học sinh báo cáo và thảo luận về kết quả thực hiện nhiệm vụ, có thể là một báo cáo kết quả thực hiện một dự án học tập; dự án nghiên cứu khoa học, kĩ thuật; báo cáo kết quả thực hành, thí nghiệm; bài thuyết trình (bài viết, bài trình chiếu, video clip,…) về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập.
b)Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Định hướng chung trong đánh giá kết quả học tập của học sinh là phải xây dựng đề thi, kiểm tra theo ma trận; đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học sinh trong dạy học được thực hiện qua các bài kiểm bao gồm các loại câu hỏi, bài tập theo 4 mức độ yêu cầu:
- Nhận biết: học sinh nhận biết, nhắc lại hoặc mô tả đúng kiến thức, kĩ năng
đã học khi được yêu cầu.
- Thông hiểu: học sinh diễn đạt đúng kiến thức hoặc mô tả đúng kĩ năng đã học bằng ngôn ngữ theo cách của riêng mình, có thể thêm các hoạt động phân tích, giải thích, so sánh; áp dụng trực tiếp (làm theo mẫu) kiến thức, kĩ năng đã biết để giải quyết các tình huống, vấn đề trong học tập.
- Vận dụng: học sinh kết nối và sắp xếp lại các kiến thức, kĩ năng đã học để
giải quyết thành công tình huống, vấn đề tương tự tình huống, vấn đề đã học.
- Vận dụng cao: học sinh vận dụng được các kiến thức, kĩ năng để giải quyết các tình huống, vấn đề mới, không giống với những tình huống, vấn đề đã được hướng dẫn; đưa ra những phản hồi hợp lí trước một tình huống, vấn đề mới trong học tập hoặc trong cuộc sống.
Căn cứ vào mức độ phát triển năng lực của học sinh ở từng học kỳ và từng khối lớp, giáo viên và nhà trường xác định tỷ lệ các câu hỏi theo 4 mức độ yêu cầu trong các bài kiểm tra trên nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp với đối tượng học sinh và tăng dần tỷ lệ các câu hỏi ở mức độ yêu cầu vận dụng, vận dụng cao.
Bảng dưới đây là một ví dụ mô tả về 4 mức độ yêu cầu cần đạt của một số
loại câu hỏi, bài tập thông thường:
15
Mức độ yêu cầu cần đạt
Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Vận dụng cao Loại câu hỏi/bài tập
Câu hỏi/bài tập định tính
Xác định và vận dụng được nhiều nội dung kiến thức có liên quan để phát hiện, phân luận tích. giải vấn đề trong tình huống mới. Xác định được một đơn vị kiến thức và nhắc lại được xác chính nội dung của đơn vị kiến thức đó. Xác định và vận dụng được nhiều nội dung kiến thức liên có quan để phát hiện, phân tích, luận giải vấn đề trong tình huống quen thuộc. Sử dụng một đơn vị kiến thức để giải thích về một niệm, khái điểm, quan nhận định... liên quan trực tiếp đến kiến thức đó.
Câu hỏi/bài tập định lượng
Xác định và vận dụng được các mối liên hệ giữa lượng các đại liên quan để giải quyết một bài toán/vấn đề trong tình huống mới. Xác định và vận dụng được các mối liên hệ giữa lượng các đại liên quan để giải quyết một bài đề toán/vấn trong tình huống quen thuộc. Xác định các được mối liên hệ trực tiếp giữa các đại và lượng được tính đại các lượng cần tìm. Xác định được các mối liên hệ liên quan đến các đại lượng cần tìm và tính được các đại lượng cần tìm thông qua một số bước suy luận trung gian.
cứ
thực
Câu hỏi/bài tập hành/thí nghiệm
Căn cứ vào kết quả thí nghiệm đã hành, tiến được nêu mục đích và các dụng cụ thí nghiệm.
Căn cứ vào kết quả thí nghiệm tiến hành, đã trình bày được mục đích, dụng cụ, các bước tiến hành và phân tích kết quả rút ra kết luận. vào Căn thí phương án nêu nghiệm, được mục đích, lựa chọn dụng cụ và bố trí thí nghiệm; tiến hành thí nghiệm và phân tích kết quả để rút ra kết luận. Căn cứ vào yêu cầu thí nghiệm, nêu được mục đích, phương án thí nghiệm, lựa chọn dụng cụ và bố trí thí nghiệm; tiến thí hành nghiệm và phân tích kết quả để rút ra kết luận.
16
Đánh giá kiến thức, kỹ năng Đánh giá năng lực + Kiểm tra, đánh giá HS theo tiếp cận năng lực khác với yêu cầu đánh giá kiến thức, kĩ năng như trước đây. Sự khác biệt này thể hiện qua bảng sau: Tiêu chí so sánh
- Xác định việc đạt kiến thức, kỹ năng theo mục tiêu của chương trình giáo dục. - Đánh giá khả năng HS vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã học vào giải quyết vấn đề thực tiễn của cuộc sống. 1. Mục đích chủ yếu nhất
- Đánh giá, xếp hạng giữa những người học với nhau. - Vì sự tiến bộ của người học so với chính họ.
- Gắn với ngữ cảnh học tập và thực tiễn cuộc sống của HS. 2. Ngữ cảnh đánh giá - Gắn với nội dung học tập (những kiến thức, kỹ năng, thái độ) được học trong nhà trường.
- Những kiến thức, kỹ năng, thái độ ở một môn học. Nội
- Những kiến thức, kỹ năng, thái độ ở nhiều môn học, nhiều hoạt động giáo dục và những trải nghiệm của bản thân HS trong cuộc sống xã hội (tập trung vào năng lực thực hiện). 3. dung đánh giá
- Quy chuẩn theo việc người học có đạt được hay không một nội dung đã được học.
- Quy chuẩn theo các mức độ phát triển năng lực của người học.
- Nhiệm vụ, bài tập trong tình huống, bối cảnh thực.
4. Công cụ đánh giá 5. Thời điểm đánh giá
- Đánh giá mọi thời điểm của quá trình dạy học, chú trọng đến đánh giá trong khi học. - Năng lực người học phụ thuộc vào độ khó của nhiệm vụ hoặc bài tập đã hoàn thành. - Câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ trong tình huống hàn lâm hoặc tình huống thực. - Thường diễn ra ở những thời điểm nhất định trong quá trình dạy học, đặc biệt là trước và sau khi dạy. - Năng lực người học phụ thuộc vào số lượng câu hỏi, nhiệm vụ hay bài tập đã hoàn thành.
6. Kết quả đánh giá
- Thực hiện được nhiệm vụ càng khó, càng phức tạp hơn sẽ được coi là có năng lực cao hơn. - Càng đạt được nhiều đơn vị kiến thức, kỹ năng thì càng được coi là có năng lực cao hơn.
II. Tổ chức dạy học chủ đề theo hướng phân hóa trên lớp và bài tập về nhà.
1. Quy trình thực hiện.
- Bước 1: Nhận diện, phân loại HS theo NLNT.
- Bước 2: Thiết kế các hoạt động dạy học.
- Bước 3: Tổ chức tiến trình dạy học.
- Bước 4: Đánh giá và điều chỉnh.
17
2. Nội dung và kết quả thực hiện:
2.1. Nhận diện, phân loại HS theo năng lực nhận thức.
Để có thể nhận diện, phân loại HS theo NLNT, GV có thể tiến hành một bài kiểm tra đánh giá theo 4 mức độ nhận thức, hoặc có thể căn cứ vào điểm kiểm tra của các bài trước đó, hoặc điểm tổng kết của học kì trước đó (Giỏi ≥ 8 điểm; Khá ≥ 6,5 điểm; Trung bình ≥ 5 điểm; Yếu < 5 điểm).
2.2. Thiết kế các hoạt động dạy học.
2.2.1. Nguyên tắc thiết kế hoạt động dạy học là thông qua hoạt động trí tuệ, HS phát triển dần từng bước từ thấp đến cao. Trình độ ban đầu của HS tương ứng với “vùng phát triển hiện tại”. Trình độ này cho phép HS có thể thu được những kiến thức gần gũi nhất với kiến thức cũ để đạt được trình độ mới cao hơn, đó là “vùng phát triển gần nhất”. Sau đó tôi lại tiếp tục tổ chức và giúp đỡ HS đưa HS tới “vùng phát triển gần nhất” mới để sau đó nó lại trở về “vùng phát triển hiện tại”. Cứ tiếp tục như vậy sự phát triển của HS đi từ nấc thang này đến nấc thang khác cao thiết kế các hoạt động học tập là:
Bước 1: Xác định mục tiêu chủ đề: Bao gồm mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ, các năng lực hướng tới.
Bước 2: Xác định mạch nội dung của chủ đề: Tùy thuộc vào chủ đề, tôi sắp xếp lại mạch nội dung cho phù hợp với việc thiết kế các hoạt động học tập theo quan điểm dạy học phân hóa, nhưng vẫn đảm bảo được chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ, năng lực cần hướng tới.
Bước 3: Thiết kế các hoạt động học tập theo NLNT của HS:
Dựa trên mục tiêu của chủ đề, và mạch kiến thức đã xác định, tôi đã thiết kế
các nhiệm vụ học tập phù hợp với từng nhóm phân hóa theo NLNT.
+ Với nhóm HS yếu tôi đã thiết kế các câu hỏi ở mức độ Nhận biết, Thông
hiểu.
+ Với nhóm HS trung bình, tôi thiết kế các câu hỏi, bài tập ở mức độ Thông
hiểu và Vận dụng.
+ Với nhóm HS khá, giỏi, tôi thiết kế các câu hỏi, bài tập ở mức độ Vận
dụng và Vận dụng cao.
Bước 4: Đánh giá HS:
Sau khi kết thúc chủ đề, GV có thể sử dụng phiếu học tập, câu hỏi trắc nghiệm, hoặc dựa trên sự quan sát để đánh giá mức độ nhận thức; và đánh giá sự thành thạo các kĩ năng như hoạt động nhóm, thuyết trình, thực hành/thí nghiệm; Đánh giá sự hình thành năng lực của HS thông qua các nhiệm vụ học tập...cần đảm bảo mục đích, ngữ cảnh, nội dung, công cụ, thời điểm,...đánh giá khác với đánh giá kiến thức, kĩ năng như trước đây.
18
2.3. Vận dụng dạy học phân hóa tổ chức dạy học, tổ chức kiểm tra đánh giá 1 số chủ đề:
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và xây dựng quy trình thực hiện, tôi đã vận dụng dạy học phân hoá để tổ chức tiến trình dạy học chủ đề “Môi trường đới nóng và hoạt động kinh tế của con người ở đới nóng”.
a. Bước 1: Nhận diện, phân loại HS theo năng lực nhận thức. Để nhận diện, phân loại HS theo năng lực nhận thức, tôi phân tích kết quả học tập và điểm tổng kết của học sinh của năm học trước đó. Quy định thang năng lực nhận thức như sau: Giỏi ≥ 8 điểm; Khá ≥ 6,5 điểm; Trung bình ≥ 5 điểm; Yếu, kém < 5 điểm.
Bảng 3: Kết quả học tập của học sinh năm học 2019-2020 (trước khi thực hiện biện pháp)
Sĩ số
TT Lớp
1 2 3 4 5
12A3 12A4 12D 12E 12G
Trung bình (%) 28,3 47,5 36,3 15,5 29,6
Yếu, kém (%) 7,8 12,8 5,0 10,0 5,0
Giỏi (%) 19,6 10,4 15,5 15,5 16,7
38 34 40 37 38
Khá (%) 45,0 30,0 43,2 38,9 48,8 Qua kết quả học tập của học sinh ở năm học trước đó, tôi nhận thấy năng lực nhận thức của học sinh giữa các lớp trong khối và giữa học sinh trong lớp với nhau có sự phân hoá rõ rệt.
b. Bước 2: Thiết kế kế hoạch dạy học chủ đề Ngoài các vấn đề chung về đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức, kĩ thuật tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh, tài liệu tập trung vào việc xây dựng bài học theo chủ đề gồm 6 bước:
+ Bước 1: Xác định vấn đề cần giải quyết trong dạy học chủ đề sẽ xây dựng + Bước 2: Lựa chọn nội dung từ các bài học trong sách giáo khoa hiện hành của
một môn học hoặc các môn học có liên quan để xây dựng nội dung bài học
+ Bước 3: Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương trình hiện hành; dự kiến các hoạt động học sẽ tổ chức cho học sinhđể xác định các năng lực và phẩm chất chủ yếu có thể góp phần hình thành/phát triển trong bài học
+ Bước 4: Xác định và mô tả mức độ yêu cầu (nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao) của mỗi loại câu hỏi/bài tập có thể sử dụng để kiểm tra, đánh giá năng lực và phẩm chất của học sinh trong dạy học
+ Bước 5: Biên soạn các câu hỏi/bài tập cụ thể theo các mức độ yêu cầu đã mô tả ở Bước 4 để sử dụng trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá, luyện tập theo chủ đề bài học
+ Bước 6: Thiết kế tiến trình dạy học bài học thành các hoạt động học theo tiến trình sư phạm của phương pháp dạy học tích cực để tổ chức cho học sinh thực hiện ở trên lớp và ở nhà.
Trong quá trình triển khai thực hiện tôi đã ứng dụng vào 1 số bài học/chủ đề
như sau:
19
Bài học: VẤN ĐỀ SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TỰ NHIÊN
Bước 1. Xác định vấn đề cần giải quyết trong bài học
Căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình, nội dung của sách giáo khoa của môn học và những ứng dụng kĩ thuật, hiện tượng, quá trình trong thực tiễn, tổ/nhóm chuyên môn xác định các nội dung kiến thức liên quan với nhau được thể hiện ở một số bài/tiết hiện hành (thường trong cùng một chương), từ đó xây dựng thành một vấn đề chung để tạo thành một bài học trong môn học. Trường hợp có những nội dung kiến thức liên quan đến nhiều môn học, các tổ chuyên môn liên quan cùng nhau lựa chọn nội dung để thống nhất xây dựng các bài học liên môn.
Theo chương trình giáo dục phổ thông môn Địa lí lớp 12 có các nội dung
riêng biệt về sử dụng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, vấn dề thiên tai.
Với hai nội dung riêng biệt, việc tích hợp thành một vấn đề dạy học được cho là hợp lí hơn, vì sử dụng tài nguyên thiên nhiên cần thiết phải đi đôi với bảo vệ nguồn tài nguyên; trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên còn liên quan đến mối quan hệ nhân quả là thiên tai.
Dựa trên các căn cứ trên ta xác định vấn đề cần giải quyết là: Vấn đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên, nội dung vấn đề này được xây dựng thành bài học và thực hiện trong 2 tiết và dánh cho HS lớp 12.
Bước 2. Lựa chọn nội dung, xây dựng bài học
Căn cứ vào tiến trình sư phạm của phương pháp dạy học tích cực được sử dụng để tổ chức hoạt động học cho HS, từ tình huống xuất phát đã xây dựng, dự kiến các nhiệm vụ học tập cụ thể tiếp theo tương ứng với các hoạt động học của HS, từ đó xác định các nội dung cần thiết để cấu thành chuyên đề. Lựa chọn các nội dung của bài học từ các bài/tiết trong sách giáo khoa của một môn học hoặc/và các môn học có liên quan để xây dựng bài học.
Ví dụ: Nội dung bài học Vấn đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên
1. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên sinh vật.
2. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và các tài nguyên khác (nước, khoáng
sản, du lịch, khí hậu, tài nguyên biển).
3. Bảo vệ môi trường.
4. Một số thiên tai chủ yếu (bão, ngập lụt, lũ quét, hạn hán, động đất...) và
biện pháp phòng chống.
20
5. Chiến lược quốc gia về bảo vệ tài nguyên và môi trường.
Bước 3. Xác định mục tiêu kiến thức, kĩ năng, năng lực
Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương trình hiện hành và các hoạt động học dự kiến sẽ tổ chức cho HS theo phương pháp dạy học tích cực, từ đó xác định các năng lực và phẩm chất có thể hình thành cho HS trong bài học sẽ xây dựng.
Ví dụ chuẩn kiến thức, kĩ năng cho bài học Vấn đề sử dụng và bảo vệ tự
nhiên như sau:
Chương trình giáo dục phổ thông môn Địa lí, quy định mức độ cần đạt về kiến
thức, kĩ năng của bài Vấn đề sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên như sau:
- Kiến thức
+ Biết được sự suy thoái tài nguyên rừng, đa dạng Địa lí, đất ; một số
nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm, cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường.
+ Biết được chiến lược, chính sách về tài nguyên và môi trường của VN.
- Kĩ năng
+ Phân tích các bảng số liệu về sự biến động của tài nguyên rừng, sự đa
dạng Địa lí và đất ở nước ta.
+ Dựa vào bản đồ/Atlat nhận biết hoạt động của bão ở nước ta.
+ Vận dụng được một số biện pháp bảo vệ tự nhiên và phòng chống thiên tai
ở địa phương.
- Thái độ (giá trị)
+ Có ý thức bảo vệ môi trường.
+ Cảm thông, chia sẻ với những người không may gặp thiên tai.
- Định hướng các năng lực được hình thành
+ Năng lực tự học; Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; Năng lực hợp
tác; Năng lực ICT
+ Năng lực tư duy tổng hợp theo lãnh thổ: Năng lực sử dụng phương tiện
trực quan.
Bước 4. Mô tả mức độ yêu cầu cần đạt
Xác định và mô tả 4 mức độ yêu cầu (nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao) của mỗi loại câu hỏi/bài tập có thể sử dụng để kiểm tra, đánh giá năng lực và phẩm chất của HS trong dạy học.
21
Nhận biết:
- Biết được sự suy thoái tài nguyên rừng, đa dạng Địa lí, đất ; một số nguyên
nhân dẫn đến sự suy giảm, cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường.
- Biết được chiến lược, chính sách về tài nguyên và môi trường của Việt Nam.
- Dựa vào bản đồ/Atlat nhận biết hoạt động của bão ở nước ta.
Thông hiểu:
Trình bày được một số tác động tiêu cực do thiên nhiên gây ra đã phá hoại
sản xuất, gây thiệt hại về người và của.
Vận dụng thấp:
- Phân tích các bảng số liệu về sự biến động của tài nguyên rừng, sự đa dạng
Địa lí và đất ở nước ta.
Vận dụng cao:
- Vận dụng được một số biện pháp bảo vệ tự nhiên và phòng chống thiên tai
ở địa phương.
Bước 5. Thiết kế tiến trình dạy học
Thiết kế tiến trình bài học thành các hoạt động học được tổ chức cho HS có thể thực hiện ở trên lớp và ở nhà, mỗi tiết học trên lớp có thể chỉ thực hiện một số hoạt động trong tiến trình sư phạm của phương pháp và kĩ thuật dạy học được sử dụng. Trong chuỗi hoạt động học, đặc biệt quan tâm xây dựng tình huống xuất phát. Các hoạt động tiếp theo trong tiến trình dạy học thể hiện tiến trình sư phạm của phương pháp dạy học được lựa chọn.
5.1. Chuẩn bị của giáo viên và HS
5.1.1. Chuẩn bị của giáo viên
- Bản đồ giáo khoa treo tường Địa lý tự nhiên Việt Nam
- Át lát địa lý Việt Nam.
- Phiếu học tập, bảng biểu, sơ đồ.
5.1.2. Chuẩn bị của HS
Sưu tầm một số tư liệu và hình ảnh về vấn đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên.
- 5.2. Hoạt động học tập
A. Tình huống xuất phát
22
GV yêu cầu HS nêu những hiểu biết của mình về 2 vấn đề (GV có thể hỗ trợ
bằng các hình ảnh hay video clip nếu có):
- Hiện trạng khai thác và bảo vệ tài nguyên rừng nước ta hoặc vấn đề sử
dụng tài nguyên đất.
- Các thiên tai chủ yếu ở nước ta và biện pháp phòng chống.
Một vài HS trả lời, HS nhận xét, bổ sung; GV dẫn dắt vào bài.
B. Hình thành kiến thức mới
* Hoạt động 1. Tìm hiểu về việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên sinh vật.
a) Tài nguyên rừng (cặp)
Bước 1: GV yêu cầu HS quan sát bảng 14. 1 và đọc thông tin trong SGK
cũng như những hiểu biết của bản thân, hãy:
Nhận xét về sự biến động tổng diện tích rừng, rừng tự nhiên, rừng trồng và
độ che phủ rừng. Nêu ý nghĩa của rừng và các biện pháp bảo vệ rừng.
Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ, trao đổi kết quả làm việc.
Bước 3: Trình bày trước lớp, các HS khác nhận xét, bổ sung.
Bước 4: GV nhận xét phần trình bày của HS và bổ sung kiến thức.
- Tổng diện tích rừng tăng, nhưng tài nguyên vẫn bị suy thoái vì chất
lượng chưa thể phục hồi.
- Phần lớn rừng nước ta là rừng nghèo và rừng mới phục hồi.
- Ý nghĩa của rừng:
+ Cung cấp gỗ, du lịch...
+ Cân bằng sinh thái môi trường
- Biện pháp bảo vệ rừng.
+ Rừng phòng hộ
+ Rừng đặc dụng
+ Rừng sản xuất
b) Đa dạng Địa lí (cá nhân)
Bước 1. GV yêu cầu HS đọc thông tin trong SGK hãy:
- Cho biết sự suy giảm tính đa dạng Địa lí của nước ta biểu hiện ở những
mặt nào?
23
- Trình bày nguyên nhân làm suy giảm đa dạng Địa lí.
- Liên hệ thực tế về suy giảm đa dạng Địa lí ở địa phương.
- Nêu các biện pháp để bảo vệ đa dạng Địa lí.
Bước 2. HS thực hiện nhiệm vụ GV giao; trao đổi kết quả làm việc với bạn
bên cạnh.
Bước 3. Báo cáo kết quả làm việc; nhận xét, bổ sung.
Bước 4. GV đánh giá kết quả làm việc, trao đổi của HS và chuẩn kiến thức.
GV có thể sử dụng một số hình ảnh, thông tin nói về một số loài động, thực
vật có nguyên cơ bị tuyệt chủng ở nước ta hoặc ở địa phương.
- Có sự suy giảm đa dạng Địa lí nước ta ở số lượng loài động, thực vật.
- Nguyên nhân:
+ Con người làm thu hẹp diện tích rừng tự nhiên.
+ Nguồn hải sản bị suy giảm rõ rệt, nguyên nhân chủ yếu là khai thác quá
mức và ô nhiễm môi trường nước.
- Các biện pháp bảo vệ đa dạng Địa lí:
+ Xây dựng và mở rộng hệ thống vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên.
+ Ban hành Sách đỏ Việt Nam.
+ Quy định khai thác.
* Hoạt động 2. Tìm hiểu vấn đề sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất (cá nhân)
Bước 1. GV yêu cầu HS đọc thông tin trong SGK và bằng những hiểu biết
của mình hãy:
- Nêu hiện trạng sử dụng tài nguyên đất và biểu hiện của suy thoái tài
nguyên đất.
- Cho biết các biện pháp bảo vệ tài nguyên đất.
Bước 2. HS thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của GV; trao đổi với bạn bên
cạnh về kết quả làm việc của mình.
Bước 3. Báo cáo kết quả, nhận xét, bổ sung.
Bước 4. Đánh giá, GV tạo điều kiện để HS tự đánh giá lẫn nhau; sau đó GV
nhận xét và chuẩn kiến thức.
24
a) Hiện trạng sử dụng tài nguyên đất
- Bình quân đất trên đầu người thấp; khả năng mở rộng đất nông nghiệp
không còn nhiều.
- Đất bị suy thoái vẫn còn rất lớn (xói mòn, rửa trôi, hoang mạc hóa).
b) Các biện pháp bảo vệ tài nguyên đất
- Đối với vùng đồi núi: áp dụng tổng hợp các biện pháp thủy lợi, canh tác;
cải tạo đất hoang, bảo vệ rừng...
- Đất nông nghiệp: quản lí chặt chẽ, có kế hoạch mở rộng diện tích, thâm
canh, nâng cao hiệu quả sử dụng đất...
* Hoạt động 3. Tìm hiểu vấn đề sử dụng và bảo vệ các tài nguyên khác
(cá nhân)
Bước 1. GV yêu cầu HS hãy:
- Nêu hiện trạng và các biện pháp bảo vệ tài nguyên nước.
- Cho biết giá trị sử dụng và các biện pháp bảo vệ tài nguyên khoáng sản, du
lịch...
Bước 2. HS nghiên cứu SGK và bằng kiến thức thực tế trả lời câu hỏi.
Bước 3. Báo cáo kết quả làm việc trước lớp, nhận xét, bổ sung.
Bước 4. GV nhận xét, đánh giá kết quả làm việc của HS và đồng thời chuẩn
kiến thức.
- Tài nguyên nước:
+ Hai vấn đề quan trọng nhất trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước hiện nay là: tình trạng ngập lụt vào mùa mưa, thiếu nước vào mùa khô và ô nhiễm môi trường nước.
+ Cần sử dụng hiệu quả tài nguyên nước và chống ô nhiễm nước.
- Tài nguyên khoáng sản:
+ Có nhiều giá trị, không thể phục hồi.
+ Cần quản lí chặt chẽ việc khai thác, tránh lãng phí và gây ô nhiễm môi trường.
- Tài nguyên du lịch: cần bảo tồn, tôn tạo, bảo vệ cảnh quan khỏi bị ô
nhiễm...
25
GV cũng có thể làm phiếu và yêu cầu HS hoàn thành (có thể tham khảo
phiếu dưới đây)
Tài nguyên hình sử Các biện pháp bảo vệ
Tình dụng
Tài nguyên nước
Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên du lịch
* Hoạt động 4. Tìm hiểu về bảo vệ môi trường (cá nhân)
Bước 1. GV yêu cầu HS dựa vào SGK và những hiểu biết của bản thân hãy:
Nêu những biểu hiện và nguyên nhân của tình trạng mất cân bằng sinh thái
và tình trạng ô nhiễm môi trường ở nước ta.
Bước 2. HS thực hiện nhiệm vụ theo như yêu cầu của GV; trao đổi kết quả
làm việc với bạn bên cạnh.
Bước 3. Báo cáo kết quả làm việc trước lớp; nhận xét và bổ sung.
Bước 4. GV nhận xét và đánh giá kết quả làm việc của HS; chuẩn kiến thức.
- Tình trạng mất cân bằng sinh thái môi trường biểu hiện: gia tăng các
thiên tai; thời tiết, khí hậu biến đổi thất thường.
Nguyên nhân chủ yếu là do chặt phá rừng.
- Tình trạng ô nhiễm môi trường: nước, không khí và đất xảy ra ở nhiều nơi.
Nguyên nhân: do con người (...).
* Hoạt động 5. Tìm hiểu một số thiên tai chủ yếu và biện pháp phòng chống
a) Bão (nhóm)
Bước 1. GV yêu cầu HS đọc thông tin trong SGK, quan sát hình 9.3 hoặc
trang 9 (Atlat Địa lí Việt Nam) hãy cho biết:
- Hoạt động của bão ở Việt Nam.
- Hậu quả của bão và biện pháp phòng chống.
Bước 2. Cá nhân HS thực hiện nhiệm vụ theo như yêu cầu của GV, sau đó
trao đổi trong nhóm để cùng thống nhất phương án trả lời.
Bước 3. Đại diện nhóm báo cáo kết quả; các nhóm khác lắng nghe, nhận xét,
26
bổ sung.
Bước 4. GV nhận xét, đánh giá và chuẩn kiến thức.
Lưu ý sử dụng hình 9.3 hoặc Atlat Địa lí Việt Nam để HS biết được thời
gian, phạm vi/xu hướng hoạt động và tần xuất của bão.
- Hoạt động của bão:
+ Thời gian : thường bắt đầu từ tháng VI và kết thúc vào tháng XI; tập
trung vào tháng IX, X và VIII. Xu hướng: chậm dần từ Bắc vào Nam.
+ Trung bình mỗi năm có khoảng 3 – 4 cơn bão đổ bộ vào vùng biển
nước ta.
- Hậu quả: thiệt hại về người và tài sản.
- Biện pháp phòng chống: dự báo chính xác và kịp thời để tránh những
thiệt hại do bão gây ra (...)
b) Các thiên tai khác (cặp)
Bước 1. GV cung cấp phiếu học tập (tham khảo dưới đây), yêu cầu HS đọc
thông tin trong sách và hoàn thành phiếu học tập.
Các thiên tai Ngập lụt Lũ quét Hạn hán
Nơi hay xảy ra
Thời gian hoạt động
Hậu quả
Nguyên nhân
Biện pháp phòng chống
Bước 2. Cá nhân HS thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của GV; sau đó trao
đổi với bạn để hoàn thành phiếu học tập.
Bước 3. Báo cáo kết quả làm việc; nhận xét, bổ sung.
Bước 4. GV nhận xét, đánh giá và chuẩn kiến thức.
27
Các thiên tai Ngập lụt Lũ quét Hạn hán
Nhiều địa phương
Nơi hay xảy ra Xảy ra đột ngột ở miền núi.
Đồng sông bằng Hồng và sông Cửu Long
Thời gian hoạt động Mùa mưa (tháng 5 - 10). Mùa khô (tháng 11 - 4).
Tháng 6 - 10 ở miền Bắc. Tháng 10 - 12 ở miền Trung. duyên
hải Riêng miền Trung từ tháng 9 - 12.
Hậu quả
nhiễm Thiệt hại về tính mạng và tài sản của dân cư... Mất mùa, cháy rừng, thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt...
Phá huỷ mùa màng, tắc nghẽn giao thông, môi ô trường...
Nguyên nhân - Địa hình thấp. - Địa hình dốc. - Mưa ít
tập tập
- Mưa nhiều, trung theo mùa. - Mưa nhiều, trung theo mùa. - Cân bằng ẩm nhỏ hơn 0.
- Rừng bị chặt phá.
- Ảnh hưởng của thuỷ triều.
pháp - Trồng rừng
Biện phòng chống Xây dựng đê điều, hệ thống thuỷ lợi.
- Trồng rừng, quản lí và sử dụng đất đai hợp lí. - Xây dựng hệ thống thuỷ lợi.
- Trồng cây chịu hạn. - Canh tác hiệu quả trên đất dốc.
- Quy hoạch các điểm dân cư.
* Hoạt động 6. Tìm hiểu Chiến lược quốc gia về bảo vệ tài nguyên và
môi trường (Gv hướng dẫn HS tự học ở nhà)
C. Hoạt động hình thành kĩ năng mới (Luyện tập). GV sử dụng bảng số liệu ở bảng 2 phần phụ lục, yêu cầu HS phân tích số liệu thống kê để thấy được tình trạng rừng bị chặt phá ở các địa phương, phân theo vùng và từ đó đề xuất các biện pháp để bảo vệ tài nguyên rừng.
28
GV có thể cho HS làm ở nhà và kết hợp với hoạt động 6.
Bước 6. Biên soạn các câu hỏi/bài tập
Biên soạn các câu hỏi/bài tập cụ thể theo các mức độ yêu cầu đã mô tả để sử dụng trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá, luyện tập theo bài học đã xây dựng.
Biên soạn các câu hỏi để sử dụng trong quá trình tổ chức dạy học và kiểm
tra, đánh giá cuối chủ đề.
Câu 1. Hiện nay tài nguyên rừng nước ta vẫn bị suy thoái vì
A. tổng diện tích rừng suy giảm.
B. chất lượng rừng chưa thể phục hồi.
C. không có những quy định bảo vệ rừng.
D. vấn nạn đốt nương làm rẫy.
Câu 2. Gần đây, tài nguyên rừng của nước ta bị suy giảm nghiêm trọng, chủ
yếu là do
A. chiến tranh.
B. tai biến thiên nhiên.
C. con người khai thác quá mức.
D. thiếu sự chăm sóc và bảo vệ.
Câu 3. Vì sao khả năng mở rộng đất nông nghiệp ở đồng bằng không nhiều?
A. Đất bị thoái hóa gia tăng.
B. Đất chưa sử dụng còn rất ít.
C. Do mở rộng diện tích đất lâm nghiệp.
D. Mùa khô không có nước tưới.
Câu 4. Giải pháp nào sau đây không phải là giải pháp để nâng cao hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp?
A. Canh tác hợp lí. B. Bón phân thích hợp.
C. Chống ô nhiễm đất. D. Bón nhiều phân hóa học.
Câu 5. Một trong những khó khăn nhất trong việc sử dụng tài nguyên nước
hiện nay là
A. mực nước ngầm hạ thấp. B. nước bị nhiễm mặn.
C. nước bị ô nhiễm môi trường. D. tình trạng cạn kiệt nước.
29
Câu 6. Những năm gần đây, diện tích đất trống, đồi núi trọc giảm mạnhdo
A. cấm không cho khai thác rừng.
B. ít mưa, đất ít bị xói mòn rửa trôi.
C. đẩy mạnh canh tác nông nghiệp.
D. đẩy mạnh bảo vệ và trồng rừng.
Câu 7. Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang 9, thời gian bắt đầu và kết
thúc mùa bão ở nước ta là
A. từ tháng V đến tháng X. B. từ tháng XII đến tháng VI.
C. từ tháng VI đến tháng XII. D. từ tháng VIII đến tháng XI.
Câu 8. Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang 9, hãy cho biết tháng nào có
tần suất từ 1,3 đến 1,7 cơn bão/tháng?
A. Tháng VIII. B. Tháng IX.
C. Tháng VII. D. Tháng X.
Câu 9. Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang 9, hãy cho biết các tỉnh ven
biển miền Trung bão tập trung vào tháng mấy?
A. Tháng IX, X và XI. B. Tháng VI, VII và VIII.
C. Tháng VI, VII và XII. D. Tháng VII, VIII và XII.
Câu 10. Tóm tắt những thay đổi và nêu nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi
của tài nguyên sinh vật nước ta. Nêu ý nghĩa của việc bảo vệ, phát triển vốn rừng.
Câu 11. Hãy nêu các nhiệm vụ chủ yếu của Chiến lược quốc gia về bảo vệ
tài nguyên và môi trường.
Câu 12. Nguyên nhân nào làm cho việc dự báo bão trở nên khó khăn?
A. Biến đổi khí hậu. B. Thiết bị dự báo lạc hậu.
C. Trình độ dự báo còn thấp. D. Thiếu lực lượng dự báo.
Câu 13. Ngập lụt ở đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu là do
A. mưa bão, lũ nguồn về. B. mưa lớn, triều cường.
C. mật độ xây dựng cao. D. có đê sông, đê biển bao bọc.
Câu 14. Ở những nơi sông suối miền núi có địa hình chia cắt mạnh, độ dốc
lớn, mất lớp phủ thực vật, khi có mưa lớn thường hay xảy ra thiên tai nào?
A. Ngập lụt B. Ngập úng
C. Lũ quét D. Sạt lở đất.
30
Câu 15. Tại sao những năm gần đây ở nước ta lũ quét có xu hướng ngày
càng tăng?
A. Ô nhiễm môi trường. B. Vỡ hồ thủy điện.
C. Xả lũ hồ thủy điện. D. Mất cân bằng sinh thái.
Câu 16. Khô hạn kéo dài ở miền Bắc thường xảy ra ở những nơi
A. có các khối núi cao. B. sườn núi đón gió biển.
C. đồng bằng ven biển. D. thung lũng khuất gió.
Câu 17. Vì sao lượng nước thiếu hụt vào mùa khô ở miền Nam lại nhiều
hơn miền Bắc?
A. Không có công trình thủy lợi.
B. Không có hồ tích trữ nước.
C. Mùa khô khắc nghiệt hơn.
D. Ít kinh nghiệm phòng chống khô hạn.
Câu 18.Vùng nào ở nước ta hay xảy ra hạn hán? Cho biết hậu quả và biện
pháp phòng chống hạn hán.
Câu 19. Vùng nào ở nước ta hay bị ngập lụt? Nguyên nhân và biện pháp
nhằm giảm nhẹ thiệt hại do ngập lụt gây ra.
Câu 20.Hãy nêu nguyên nhân và thời gian xảy ra lũ quét ở nước ta. Để giảm
thiệt hại do lũ quét gây ra cần có những giải pháp gì?
Câu 21.Trình bày hoạt động và hậu quả của bão ở nước ta. Cho biết nguyên nhân chủ yếu gây mưa vào mùa hạ cho cả hai miền Nam, Bắc và vào tháng IX cho miền Trung.
Câu 22. Cho bảng số liệu
Diện tích rừng trồng mới tập trung phân theo loại rừng
Năm Tổng số Rừng sản xuất Rừng phòng hộ Rừng đặc dụng
(nghìn ha) (nghìn ha) (nghìn ha) (nghìn ha)
2005 177,3 148,5 27,0 1,8
2008 200,1 159,3 39,8 1,0
2010 252,5 190,6 57,5 4,4
2013 227,1 211,8 14,1 1,2
Nhận xét nào sau đây không đúng với bảng số liệu trên?
31
A. Rừng trồng mới chủ yếu là rừng sản xuất.
B. Rừng phòng hộ tăng tương đối ổn định.
C. Rừng đặc dụng có tỉ lệ rất nhỏ và nhiều biến động.
D. Tổng diện tích rừng trồng mới tăng không ổn định.
Câu 23. Cho bảng số liệu
Sự đa dạng thành phần loài và sự suy giảm số lượng loài thực vật, động
vật
Số lượng loài Thú Chim sát
Thực vật Bò lưỡng cư Cá nước ngọt
Cá nước mặn
lượng loài đã 14500 300 830 400 550 2000
Số biết
500 96 57 62 90
Số lượng loài bị mất dần
100 62 29 - -
Trong đó, số lượng loài có nguy cơ tuyệt chủng
Nhận xét nào sau đây không đúng với bảng số liệu trên?
A. Thực vật suy giảm nhanh hơn động vật.
B. Sinh vật tự nhiên nước ta có tính đa dạng cao.
C. Sinh vật tự nhiên nước ta đang bị suy giảm.
D. Số lượng động vật bị suy giảm rõ rệt.
Câu 24. Hiện tượng cá chết hàng loạt ở một số tỉnh ven biển miền Trung
năm 2016 do
A. nước biển nóng lên. B. thủy triều đỏ.
C. biến đổi khí hậu. D. ô nhiễm môi trường nước.
Câu 25. Biện pháp quan trọng nhất để hạn chế những tác hại do bão gây ra
là
A. công trình xây dựng kiên cố.
B. dự báo bão chính xác và kịp thời.
C. cần nhiều lực lượng phòng chống.
32
D. tăng cường trồng rừng ven biển.
Câu 26. Tại sao nước ta lại phải đưa ra vấn đề sử dụng hợp lí và bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên?
Phụ lục: Một số thông tin sau để phục vụ cho hoạt động dạy học.
1. Biểu đồ
2. Số liệu thống kê
Bảng 1: Diện tích rừng bị cháy phân theo địa phương (Đơn vị: ha)
Vùng Năm 2010 Năm 2013
Đồng bằng sông Hồng 28,8 72,6
Trung du và miền núi Bắc Bộ 2418,4 159,9
Bắc Trung Bộ 795,2 14,1
Duyên hải Nam Trung Bộ 380,0 45,8
Tây Nguyên 238,4 196,5
Đông Nam Bộ 24,6 3,8
Đồng bằng sông Cửu Long 849,5 2,3
33
Cả nước 4734,9 495,0
Bảng 2: Diện tích rừng bị chặt phá phân theo địa phương (Đơn vị: ha)
Vùng Năm 2010 Năm 2013
Đồng bằng sông Hồng 1,8 0,7
Trung du và miền núi Bắc Bộ 319,5 118,3
Bắc Trung Bộ 13,8 65,0
Duyên hải Nam Trung Bộ 293,5 501,1
Tây Nguyên 2951,8 487,8
Đông Nam Bộ 361,6 27,1
4,5 Đồng bằng sông Cửu Long -
Cả nước 3942,0 1204,5
2.3. Tổ chức hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá các chuyên đề chuyên
sâu theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của HS.
Bài học minh họa 2. ĐỊA HÌNH VIỆT NAM
1. Xác định vấn đề cần giải quyết
Địa hình là một trong những thành phần quan trọng nhất của môi trường địa lí tự nhiên, đồng thời cũng là thành phần bền vững nhất tạo nên diện mạo cảnh quan trên thực địa. Địa hình tác động mạnh đến các thành phần khác của tự nhiên như phân phối lại nhiệt, ẩm của khí hậu, điều tiết dòng chảy của sông ngòi…. Vì vậy muốn nắm được đặc điểm của tự nhiên Việt Nam thì trước hết phải hiểu biết về địa hình.
Địa hình Việt Nam rất đa dạng, phức tạp, thay đổi từ bắc tới nam, từ đông sang tây, từ miền núi đến đồng bằng, bờ biển, thềm lục địa, các đảo và quần đảo. Đặc điểm của địa hình nước ta phản ánh rõ lịch sử phát triển địa chất, sự tác động của các yếu tố ngoại lực trong môi trường nóng ẩm, gió mùa, quá trình phong hóa diễn ra mạnh mẽ. Địa hình thấp dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, được thể hiện rõ qua hướng chảy của sông ngòi.
Đồi núi chiếm phần lớn diện tích, nhưng chủ yếu là đồi núi thấp. Địa hình thấp dưới 1.000 m chiếm tới 85% lãnh thổ. Núi cao trên 2.000 m chỉ chiếm 1% diện tích cả nước. Vùng đồi núi của nước ta rất hiểm trở, bị chia cắt bởi một mạng
34
lưới sông ngòi dày đặc. Tuy nhiên, miền núi lại có nhiều thế mạnh về khoáng sản, đất trồng và tiềm năng thủy điện.
Tương phản với miền núi là vùng đồng bằng, tuy chỉ chiếm ¼ diện tích nhưng có địa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ thuận tiện cho việc quần cư và phát triển kinh tế, nhất là nông nghiệp. Tuy nhiên, giữa miền núi và đồng bằng lại có mối quan hệ vô cùng mật thiết
Sự sắp xếp nội dung các tiết dạy trong chương trình chưa thật sự khoa học: Trong chương trình Địa lí 12, Bài 6 học về các đặc điểm chung của địa hình và địa hình các khu vực đồi núi, Bài 7 tiếp tục học về các khu vực địa hình đồng bằng và đánh giá ảnh hưởng của địa hình đồi núi đến sự phát triển kinh tế, xã hội, đánh giá ảnh hưởng của địa hình khu vực đồng bằng đến sự phát triển kinh tế xã hội, đến Bài 13 thực hành đọc bản đồ địa hình để củng cố kiến thức về địa hình Việt Nam. Sự sắp xếp như vậy chưa thật sự lô gic và chưa tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động học tập.
Việc sắp xếp lại kiến thức của các Bài 6, 7, 13 thành 1 bài học tạo điều kiện cho việc tổ chức các hoạt động học tập được tiếp nối nhau thành một chuỗi các hoạt động, từ việc nghiên cứu "cái chung" (đặc điểm chung của địa hình nước ta) đến nghiên cứu "cái riêng" minh chứng cho cái chung (các khu vực địa hình và những tác động của nó đối với phát triển kinh tế xã hội) sẽ làm cho mạch kiến thức được lô gic hơn, đồng thời sau khi học tập HS được luyện tập củng cố kiến thức, kĩ năng đã được học.
2. Nội dung bài học
2.1. Đặc điểm chung của địa hình
- Địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích nhưng chủ yếu là đồi núi thấp
- Cấu trúc địa hình khá đa dạng:
- Địa hình của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa.
- Địa hình chịu tác động mạnh mẽ của con người.
2.2. Các khu vực địa hình
a. Khu vực đồi núi: gồm 4 vùng núi Đông Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn Bắc,
Nam Trường Sơn.
- Vùng núi Đông Bắc
- Vùng núi Tây Bắc
- Vùng núi Trường Sơn Bắc
- Vùng núi Trường Sơn Nam
Địa hình bán bình nguyên và đồi trung du
35
- Thế mạnh và hạn chế đối với phát triển kinh tế - xã hội
b. Khu vực đồng bằng
- Đồng bằng châu thổ sông gồm đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông
Cửu Long.
Đồng bằng ven biển.
- Thế mạnh và hạn chế đối với phát triển kinh tế - xã hội.
2.3. Mối quan hệ giữa địa hình với các thành phần tự nhiên khác.
2.4. So sánh đặc điểm địa hình của các khu vực: đồi núi; đồng bằng.
3. Mục tiêu kiến thức, kĩ năng, năng lực
3.1. Kiến thức
- Biết được đặc điểm chung của địa hình VN: đồi núi chiếm phần lớn diện
tích đất liền của lãnh thổ nhưng chủ yếu là đồi núi thấp.
- Hiểu được sự phân hóa địa hình đồi núi ở VN, đặc điểm mỗi khu vực địa
hình và sự khác nhau giữa các khu vực đồi núi.
- Hiểu được đặc điểm chung của đồng bằng nước ta và sự khác nhau giữa
các đồng bằng.
- Phân tích được ảnh hưởng của các đặc điểm thiên nhiên các khu vực đồi
núi và đồng bằng đối với phát triển KT-XH.
- Phân tích được mối quan hệ giữa địa hình với các thành phần thự nhiên khác.
- So sánh các khu vực địa hình.
3.2. Kĩ năng
- Sử dụng bản đồ Tự nhiên Việt Nam để trình bày các đặc điểm nổi bật về
địa hình.
- Đọc bản đồ địa hình để xác định được vị trí các dãy núi, đỉnh núi và dòng sông, điền, ghi đúng trên lược đồ: dãy Hoàng Liên Sơn, đỉnh Phan-xi-păng, Trường Sơn,...
3.3. Thái độ
Yêu thiên nhiên Việt Nam và có các tác động phù hợp đối với các dạng địa hình nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất nhưng không làm tổn hại đến môi trường tự nhiên.
3.4. Định hướng năng lực được hình thành
- Năng lực hợp tác trong học tập và làm việc; Năng lực giải quyết vấn đề;
Năng lực tự học
36
- Tư duy tổng hợp theo lãnh thổ; Năng lực sử dụng bản đồ, biểu đồ, tranh
ảnh; Năng lực khảo sát thực tế.
4. Mô tả mức độ yêu cầu cần đạt
BẢNG MÔ TẢ CÁC MỨC ĐỘ NHẬN THỨC VÀ NĂNG LỰC ĐƯỢC
HÌNH THÀNH
Nhận biết Thông hiểu Vận dụng thấp
hình
Nội dung Địa Việt Nam
- Trình bày được đặc điểm chung của địa hình Việt Nam.
- Phân tích được được đặc điểm địa hình ở các vùng đồi núi nước ta. - Phân tích được được đặc điểm chung của địa hình đồng bằng nước ta. - Đánh giá được ảnh hưởng của các thiên đặc điểm nhiên các khu vực đồi núi và đồng bằng đối với phát triển KT-XH. - Nhận xét được sự phân hóa địa hình đồi núi ở Việt Nam. - Sử dụng được bản đồ Tự nhiên Việt Nam để trình bày các đặc điểm nổi bật về địa hình - Đọc được bản đồ địa hình và điền, ghi đúng trên lược đồ một số dãy núi, đỉnh núi, dòng sông.
Vận dụng cao - Liên hệ được ảnh hưởng của điểm đặc địa hình đến một số thành phần nhiên, tự việc đến thác khai dạng các hình địa khác của Việt Nam. - So sánh được các khu vực địa đồi hình núi; đồng bằng.
Định hướng năng lực được hình thành
- Năng lực giải quyết vấn đề; Năng lực tự học - Tư duy tổng hợp theo lãnh thổ; Năng lực sử dụng bản đồ, biểu đồ, tranh
ảnh; Năng lực khảo sát thực tế. 5. Thiết kế tiến trình dạy học
5.1. Chuẩn bị của giáo viên và HS
5.1.1. Chuẩn bị của giáo viên
- Bản đồ giáo khoa treo tường Địa lý tự nhiên Việt Nam
- Át lát địa lý Việt Nam.
- Tranh ảnh về các dạng địa hình nước ta
- Phiếu học tập, bảng biểu, sơ đồ.
37
5.1.2. Chuẩn bị của HS
Sưu tầm một số hình ảnh về cảnh quan khu vực đồi núi
5.2. Hoạt động học tập
A. Tình huống xuất phát
1. Mục tiêu
- Giúp cho HS gợi nhớ lại những đặc điểm của địa hình Việt Nam, HS được
học từ lớp 8.
- Rèn luyện kĩ năng đọc bản đồ của HS, thông qua đó tìm hiểu được một số
đặc điểm về địa hình của Việt Nam.
- Tìm ra những nội dung HS chưa biết, để từ đó bổ sung và khắc sâu những
kiến thức của bài học cho HS.
2. Phương pháp/kĩ thuật dạy học
Sử dụng phương tiện trực quan: bản đồ, sơ đồ.
3. Phương tiện
Bản đồ Địa hình Việt Nam.
4. Tiến trình hoạt động
Bước 1. Giao nhiệm vụ: cá nhân HS đọc bản đồ địa hình Việt Nam và ghi ra
giấy những nội dung về đặc điểm của địa hình Việt Nam mà mình đọc được.
Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ: HS thực hiện nhiệm vụ trong 2 phút.
Bước 3. Trao đổi thảo luận và báo cáo kết quả: HS so sánh kết quả với các bạn bên cạnh để chỉnh sửa và bổ sung cho nhau. GV gọi HS lên bảng ghi kết quả thực hiện được, trên cơ sở kết quả đó GV dắt dẫn vào bài học.
Bước 4. Đánh giá: GV quan sát, đánh giá hoạt động của HS.
B. Hình thành kiến thức mới
HOẠT ĐỘNG 1. Tìm hiểu đặc điểm chung của địa hình nước ta
1. Mục tiêu
- Biết được đặc điểm nổi bật địa hình nước ta: nhiều đồi núi nhưng chủ yếu
đồi núi thấp.
- Sử dụng bản đồ Tự nhiên Việt Nam để trình bày các đặc điểm nổi bật về
địa hình núi nước ta.
2. Phương pháp/kĩ thuật dạy học
- Đàm thoại gợi mở.
- Sử dụng phương tiện trực quan: bản đồ, sơ đồ.
38
3. Phương tiện
- Bản đồ tự nhiên Việt Nam
- Phiếu học tập.
4. Tiến trình hoạt động
Bước 1. GV cho HS hoạt động theo cặp. HS đọc bản đồ trên kết hợp sử dụng
sách giáo khoa và kiến thức đã học, hãy hoàn thành sơ đồ sau:
Phiếu học tập 1
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH VIỆT NAM
Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ để có kết quả thảo luận nhóm, cá nhân HS phải nghiên cứu sơ đồ, đọc bản đồ và SGK, dự kiến các nội dung điền vào sơ đồ và trao đổi với bạn cùng cặp. Trong quá trình cá nhân tìm hiểu, cá nhân được phép hỏi các bạn trong nhóm và nhóm trưởng.
Bước 3. Nhóm thống nhất kết quả và báo cáo với GV hoặc báo cáo trước lớp.
Bước 4. GV quan sát, trợ giúp các nhóm và đánh giá quá trình hoạt động của
HS. GV chuẩn hóa kiến thức chưa chính xác cho HS.
HOẠT ĐỘNG 2. Khám phá về khu vực địa hình đồi núi
1. Mục tiêu
- Kiến thức: hiểu được sự phân hóa địa hình đồi núi nước ta, đặc điểm các
khu vực địa hình và sự khác nhau giữa các khu vực đồi núi.
- Kĩ năng: Sử dụng bản đồ Tự nhiên Việt Nam để trình bày các đặc điểm nổi
bật về địa hình núi nước ta. Phân tích so sánh đặc điểm các khu vực địa hình núi
2. Phương pháp/kĩ thuật dạy học
- Đàm thoại gợi mở.
39
- Sử dụng phương tiện trực quan: bản đồ, sơ đồ.
- Hoạt động nhóm
3. Phương tiện
- Bản đồ tự nhiên Việt Nam
- Phiếu học tập.
4. Tiến trình hoạt động
Bước 1. GV cho HS hoạt động theo nhóm
- HS đọc lược đồ, kết hợp với đọc thông tin trang 30, 32 SGK Địa lí 12, hãy
1. Lựa chọn thông tin và điền vào sơ đồ sau:
Phiếu học tập 2
Vùng núi Giới hạn Độ cao địa
Hướng hình Hình thái, cấu trúc
Đông bắc
Tây Bắc
Trường Sơn Bắc
Sơn
Trường Nam
Đặc điểm Phân bố
Bán bình nguyên
Đồi trung du
2. Đánh giá ảnh hưởng của khu vực đồi núi đối với sự phát triển kinh tế-xã hội.
Bước 2. HS thực hiện nhiệm vụ: như hoạt động cặp để có kết quả thảo luận nhóm, cá nhân HS phải nghiên cứu sơ đồ, đọc nội dung SGK, dự kiến các nội dung trả lời điền vào sơ đồ và trao đổi với bạn trong nhóm.
Bước 3. HS các nhóm báo cáo kết quả.
Bước 4. GV đánh giá quá trình hoạt động của các nhóm, đánh giá sản phẩm
và chuẩn hóa kiến thức.
HOẠT ĐỘNG 3. Khám phá địa hình đồng bằng
1. Mục tiêu
40
- Phân tích được đặc điểm địa hình đồng bằng nước ta ở nước ta và sự khác
nhau giữa các đồng bằng.
- Sử dụng bản đồ Tự nhiên Việt Nam để trình bày các đặc điểm nổi bật về
địa hình đồng bằng nước ta.
- Phân tích mối quan hệ của các yếu tố tự nhiên.
2. Phương pháp/kĩ thuật dạy học
- Đàm thoại gợi mở
- Thảo luận nhóm
- Sử dụng bản đồ, sơ đồ
3. Phương tiện
- Bản đồ tự nhiên Việt Nam
- Phiếu học tập.
4. Tiến trình hoạt động
Bước 1. GV giao nhiệm vụ cho cá nhân HS đọc nội dung SGK và cho biết
căn cứ vào nội dung trong SGK hãy:
- Cho biết nước ta các các dạng đồng bằng nào?
- Với mỗi dạng đồng bằng ta có thể khám phá được những đặc điểm gì ?
- Xây dựng nội dung khám phá đồng bằng thành sơ đồ.
- Đánh giá ảnh hưởng của khu vực đồng bằng đối với sự phát triển kinh tế-xã
hội.
Bước 2. HS thực hiện cá nhân, có thể trao đổi với các bạn bên cạnh để hoàn
thành nội dung.
Bước 3. Cá nhân báo cáo kết quả làm việc với GV
Bước 4. GV đánh giá nhận xét kết quả làm việc của HS, GV chọn một vài
sản phẩm giống và khác biệt nhau giữa các HS để nhận xét, đánh giá.
Nếu HS khó khăn, GV có thể giúp HS bằng cách cho HS tham khảo sơ đồ
sau:
Đặc điểm Đồng bằng sông Hồng
Đồng bằng sông Cửu Long
Nguồn gốc
Diện tích
41
Địa hình
Đất
Thuận lợi và khó khăn khi sử dụng
HOẠT ĐỘNG 4. Luyện tập
- Lựa chọn hai khu vực đồi núi, hoặc 2 khu vực đồng bằng để so sánh đặc điểm địa hình ở 2 khu vực này.
- Dựa vào bản đồ địa hình Việt Nam, hãy chứng minh rằng địa hình nước ta
có tính phân bậc.
6. Câu hỏi kiểm tra đánh giá
6.1. Câu hỏi nhận biết
Câu 1: Tỉ lệ diện tích địa hình núi cao trên 2000m ở nước ta so với diện tích
toàn bộ lãnh thổ chiếm khoảng
A. 1%. C. 87%.
B. 85%. D. 90%.
Đáp án: A
Câu 2. Trong những đặc điểm sau, đặc điểm nào không phù hợp với đặc
điểm địa hình nước ta:
A. Phân bậc phức tạp với hướng nghiêng Tây Bắc – Đông Nam là chủ yếu.
B. Có sự tương phản phù hợp giữa núi đồi, đồng bằng, bờ biển và đáy biển
gần bờ.
C. Địa hình đặc trưng của vùng nhiệt đới ẩm.
D. Địa hình ít chịu tác động của các hoạt động kinh tế - xã hội.
Đáp án: D
Câu 3: Đi từ Bắc vào Nam trên lãnh thổ nước ta lần lượt qua các đèo:
A. đèo Ngang, đèo Hải Vân, đèo Cả, đèo Cù Mông.
B. đèo Ngang, đèo Cù Mông, đèo Cả, đèo Hải Vân.
C. đèo Ngang, đèo Hải Vân, đèo Cù Mông, đèo Cả.
D. đèo Ngang, đèo Cù Mông, đèo Hải Vân, đèo Cả.
Đáp án: C
42
Câu 4. Hãy nêu những đặc điểm chung của địa hình nước ta.
Đáp án
Nêu được 4 đặc điểm chung của địa hình nước ta:
- Địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích, nhưng chủ yếu là dồi núi thấp.
- Cấu trúc địa hình khá đa dạng
- Địa hình của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa
- Địa hình chịu tác động mạnh mẽ của con người
6.2. Câu hỏi thông hiểu
Câu 1. Dựa vào Át lát Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy điền nội
dung thích hợp vào bảng sau:
Các khu vực núi
Yếu tố Đông Bắc Tây Bắc Sơn
Trường Sơn Bắc Trường Nam
Giới hạn
Hướng núi
Độ cao
thái cấu
Hình trúc
Các dãy núi chính
Câu 2. Dựa Át lát Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, Hãy điền nội dung
thích hợp để hoàn thành bảng theo mẫu dưới đây:
Nội dung ĐBSH ĐBSCL ĐBDHMT
Diện tích
Nguồn gốc
Địa hình
Đất đai
43
Câu 3. Các thế mạnh và hạn chế của vùng núi Đông Bắc đối với phát triển
kinh tế-xã hội nước ta.
Đáp án.
Các thế mạnh và hạn chế của vùng núi Đông Bắc đối với phát triển kinh tế-
xã hội nước ta.
- Thế mạnh:
+ Là nơi tập trung nhiều loại khoáng sản là nguyên liệu cho nhiều ngành
công nghiệp.
+ Rừng và đất trồng: tạo cơ sở để phát triển lâm, nông nghiệp nhiệt đới, Rừng giàu có về thành phần loài động, thực vật và nhiều loài quý hiếm tiêu biểu cho sinh vật rừng nhiệt đới.
+ Các bề mặt cao nguyên và các đồng bằng thung lũng, vùng đồi trung du tạo thuận lợi cho việc hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả, phát triển chăn nuôi đại gia súc và trồng cây lương thực
+ Nguồn thủy năng: Các con sông miền núi nước ta có tiềm năng thuỷ điện
khá lớn.
+ Tiềm năng du lịch: khí hậu có sự phân hóa, phong cảnh đa dạng nhiều
vùng núi đã trở thành các điểm nghỉ mát, du lịch nổi tiếng.
- Hạn chế
+ Địa hình bị chia cắt mạnh, lắm sông suối, hẻm vực, sườn dốc gây trở ngại cho
giao thông, cho việc khai thác tài nguyên và giao lưu kinh tế giữa các vùng.
+ Nhiều thiên tai như lũ nguồn, lũ quét, xói mòn, trượt lở đất.
+ Nơi khô nóng thường xảy ra nạn cháy rừng.
+ Vùng núi đá vôi thiếu đất trồng trọt và thường khan hiếm nước vào mùa khô.
Câu 4. Chứng minh địa hình nước ta là địa hình của vùng nhiệt đới ẩm gió
mùa.
Đáp án
Địa hình nước ta là địa hình của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa
- Xâm thực mạnh ở miền đồi núi:
+ Nền nhiệt cao với một mùa mưa và một mùa khô xen kẽ đã thúc đẩy quá
trình xâm thực mãnh liệt, bề mặt địa hình bị cắt xẻ, đất bị bào mòn rửa trôi,…
+ Điều kiện nóng ẩm đẩy nhanh cường độ phong hóa, đặc biệt là phong hóa
hóa học, làm đất đá vụn bở, hiện tượng đất trượt, đá lở phổ biến.
44
+ Khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm đẩy nhanh tốc độ hòa tan và phá hủy đá vôi,
tạo thành các dạng địa hình cácxtơ (hang động ngầm, suối cạn, thung khô,…).
- Bồi tụ, mở rộng nhanh chóng đồng bằng hạ lưu sông: Đồng bằng châu thổ
sông Hồng, sông Cửu Long hàng năm lấn ra biển vài chục mét.
- Sinh vật nhiệt đới hình thành nên một số dạng địa hình đặc biệt như đầm
lầy - than bùn (U Minh), bãi triều đước - vẹt (Cà Mau), các bờ biển san hô.
6.3. Câu hỏi vận dụng
Câu 1. Dựa vào Bản đồ Địa hình trong Atlats Địa lí Việt nam và kiến thức đã học, hãy trình bày sự khác nhau về địa hình giữa vùng núi Trường Sơn Bắc và Trường Sơn Nam.
Đáp án
Sự khác nhau giữa địa hình vùng núi Trường Sơn Bắc và Trường Sơn Nam
- Giới hạn
+ Vùng núi Trường Sơn Bắc: từ phía nam sông Cả đến dãy Bạch Mã.
+ Vùng núi Trường Sơn Nam: từ Bạch Mã đến khối núi cực Nam Trung Bộ.
- Về hướng: Trường Sơn Bắc có hướng tây bắc - đông nam. Trường Sơn
Nam có hướng vòng cung, quay lưng về phía đông.
- Về cấu trúc: Trường Sơn Bắc gồm các dãy núi song song và so le. Trường
Sơn Nam gồm các khối núi và cao nguyên (dẫn chứng).
- Về độ cao: Trường Sơn Bắc thấp hơn Trường Sơn Nam (dẫn chứng). Trường Sơn Nam có những đỉnh núi cao trên 2000m (dẫn chứng), đặc biệt khối núi Kon Tum và khối núi cực Nam Trung Bộ được nâng cao, đồ sộ.
- Về hình thái:
+ Trường Sơn Bắc: hẹp ngang, được nâng cao ở hai đầu (phía bắc là vùng núi Tây Nghệ An, phía nam là vùng núi Tây Thừa Thiên Huế), thấp trũng ở giữa (vùng đá vôi Quảng Bình và vùng đồi núi thấp Quảng Trị).
+ Trường Sơn Nam: có sự bất đối xứng rõ rệt giữa hai sườn Đông - Tây: sườn đông dốc; phía tây là bề mặt các cao nguyên badan Plây Ku, Đăk Lăk, Mơ Nông, Di Linh tương đối bằng phẳng, có các độ cao 500 - 800 - 1000 m và các bán bình nguyên xen đồi.
Câu 2. Dựa vào hình trên và kiến thức đã học, so sánh đặc điểm địa hình giữa
Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long.
Đáp án
a. Giống nhau
45
- Là các đồng bằng châu thổ sông, được thành tạo và phát triển do phù sa
sông bồi tụ dần trên vịnh biển nông, thềm lục địa mở rộng.
- Địa hình tương đối bằng phẳng, trên bề mặt cả 2 đồng bằng bị chia cắt
thành nhiều ô.
b. Khác nhau
- Diện tích: Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích lớn hơn đồng bằng sông
Hồng (4 triệu km2 so với 1,5 triệu km2).
- Đặc điểm địa hình:
+ Độ cao trung bình: Đồng bằng sông Hồng có độ cao trung bình lớn hơn
Đồng bằng sông Cửu Long.
+ Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều vùng trũng lớn ngập nước thường
xuyên, trong khi diện tích này ở Đồng bằng sông Hồng nhỏ hơn nhiều.
+ Địa hình Đồng bằng sông Hồng bị chia cắt bởi hệ thống đê và phần lớn không chịu tác động bồi đắp của các hệ thống sông, chịu tác động mạnh mẽ của con người và các hoạt động kinh tế. Địa hình Đồng bằng sông Cửu Long bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt; về mùa lũ ngập nước trên diện rộng, về mùa cạn, nước triều lấn mạnh làm cho 2/3 diện tích đồng bằng là đất mặn, đất phèn.
Câu 3. Nhân tố làm phá vỡ nền tảng nhiệt đới của khí hậu nước ta và làm
giảm sút nhiệt độ mạnh mẽ, nhất là trong mùa đông là do:
A. Địa hình nhiều đồi núi.
B. Gió mùa mùa Đông.
C. Đồi núi và gió mùa.
D. Ảnh hưởng của biển.
5.4. Câu hỏi vận dụng cao
Câu 1. Vai trò của địa hình đối với sự phân hóa thiên nhiên ở nước ta
Đáp án
- Đối với phân hoá các thành phần tự nhiên: địa hình là bề mặt làm phân hoá các thành phần tự nhiên khác, biểu hiện trước hết ở sự phân phối lại tương quan nhiệt ẩm, từ đó tác động đến mạng lưới dòng chảy sông ngòi, ảnh hưởng đến quá trình hình thành đất và lớp phủ thực vật.
- Đối với sự phân hoá theo không gian:
+ Phân hoá theo Bắc - Nam: dãy Bạch Mã trong sự kết hợp với gió mùa
Đông Bắc được xem là một trong hai nguyên nhân gây ra sự phân hoá.
46
+ Phân hoá theo Đông - Tây: các dạng địa hình (vùng biển và thềm lục địa, vùng
đồng bằng ven biển, vùng đồi núi) được xem là cơ sở cho sự phân hoá.
+ Phân hoá theo độ cao: độ cao địa hình là nguyên nhân chủ yếu gây ra.
Câu 2. " Một lãnh thổ giàu đẹp, có núi, đồng bằng kết hợp theo một tỉ lệ hợp lí, có nguồn nhiệt ẩm phong phú đến mức thừa thãi, có sông ngòi dày đặc và nhiều nước, có biển liền kế bao quanh thông ra các đại dương, trên đất nổi và dưới đáy biển giàu các loại khoáng sản, có lớp phủ sinh vật nhiều tầng lớp phân hóa theo cả vĩ độ lẫn độ cao, đấy là Việt Nam, Tổ quốc của chúng ta"
Dựa vào Át lát Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy chứng minh nhận
định trên thông qua yếu tố địa hình.
Đáp án
Chứng minh được những đặc điểm của địa hình nước ta về:
- Địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích.
- Đa phần là đồi núi thấp
- Núi cao chiếm diện tích không lớn.
- Các khu vực đồi núi.
- Các khu vực đồng bằng.
CHƯƠNG III. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
I. Kết quả thực nghiệm về giờ dạy
1. Mục tiêu thực nghiệm
- Nhằm kiểm tra tính khả thi của việc vận dụng quan điểm dạy học phân hóa để hình thành và rèn luyện một số năng lực cho HS tại một số trường học trên địa bàn Yên Thành qua dạy học bộ môn Địa lí.
- Cùng với đó, thông qua việc so sánh kết quả của lớp TN và lớp ĐC, đưa ra những nhận xét, đánh giá, kết luận về các các giải pháp đã thực hiện, rút ra những bài học kinh nghiệm.
2. Đối tượng thực nghiệm
Tôi tiến hành thực nghiệm từ năm học 2019-2020 và năm học 2020-2021 với
tổng cộng 485 HS lớp 12 của trường THPT Phan Thúc Trực.
3. Nội dung, phương pháp thực nghiệm
- Đối với nhóm TN: Áp dụng các các giải pháp theo quan điểm dạy học phân hóa. Đối với nhóm ĐC: Thực hiện việc dạy học theo cách thông thường, không áp dụng các giải pháp trên.
47
- Sau khi tiến hành TN quy trình sử dụng các giải pháp theo quan điểm dạy học phân hóa mà tôi đã đưa ra đối với nhóm TN, chúng tôi cho hai nhóm làm bài kiểm tra để đánh giá khả năng tiếp thu kiến thức và các kĩ năng, năng lực của HS.
- Các kết quả TN được xử lí và phân tích bằng các phần mềm thống kê Excel 2013 nhằm đảm bảo độ tin cậy và tính chính xác.
4. Phân tích kết quả thực nghiệm
- Để ĐG kết quả học tập đạt được ban đầu của HS các nhóm ĐC và nhóm TN, trước khi tiến hành thực nghiệm, tôi đã tổ chức cho HS làm bài kiểm tra 1 tiết để đánh giá kết quả học tập. Sau khi kiểm tra, kết quả ở các lớp TN và ĐC của 3 trường được thể hiện qua các bảng dưới đây.
TT Lớp
Sĩ số
Qua bảng thống kê cho thấy, kết quả đánh giá các năng lực của các nhóm ĐC và TN ở cả 3 trường đều tập trung ở mức trung bình và khá. Ở cả 3 nhóm TN và ĐC, HS đạt mức học lực yếu chiếm tỉ lệ ít. Nhìn chung, học lực của các lớp đối chứng và thực nghiệm tương đương nhau. Bảng 4: So sánh kết quả học tập của học sinh trước và sau khi thực hiện biện pháp Yếu, kém (%) Trước Sau 2,8 7,8 2,8 12,8 0 5,0 0 10,0 0 5,0 0,4 7,0
Giỏi (%) Trước Sau 39,6 19,6 10,4 10,4 25,5 15,5 25,5 15,5 16,7 16,7 39,6 30,6
Khá (%) Trước Sau 50,0 45,0 50,0 30,0 53,2 43,2 48,9 38,9 68,8 48,8 44,5 33,9
Trung bình (%) Trước Sau 8,3 28,3 37,5 47,5 21,3 36,3 25,5 15,5 14,6 29,6 15,5 28,5
12A3 38 1 12A4 34 2 40 12D 3 37 12E 4 5 38 12G Tổng cộng 187
Bảng kết quả cho thấy, kết quả đạt được của HS đã có sự thay đổi so với trước TN. Ở cả 3 nhóm, phân phối tần suất và tỷ lệ điểm khá - giỏi của lớp TN cao hơn lớp ĐC, chứng tỏ HS ở các lớp TN làm bài kiểm tra tốt hơn HS ở các lớp ĐC. Tỉ lệ HS đạt mức khá và tốt ở các lớp TN1 và TN2, TN3 tăng rõ rệt và cao hơn ở lớp ĐC1 và ĐC2 , ĐC3. Đáng chú ý, ở tất cả các lớp TN, chỉ còn từ 0 - 2,4% HS có kết quả yếu, trong khi đó ở các lớp đối chứng vẫn còn một tỉ lệ khả lớn HS có kết quả yếu. Từ đó có thể cho thấy, phương pháp dạy học mà tôi thực hiện trong quá trình TN đã có những tác động tích cực đến kết quả học tập của HS THPT trong môn Địa lí.
II. Nhận xét của HS
Sau khi tiến hành thu thập ý kiến của HS, tôi nhận được nhiều phản hồi tích cực từ các em. Hầu hết các em đều nhận xét các tiết học có áp dụng các giải pháp phân hóa HS khiến các em sôi nổi, hứng thú hơn, có ý thức thi đua giữa các nhóm với nhau. Tôi nhận thấy hầu hết học sinh đánh giá cao cách dạy này. Các ý kiến
48
chủ yếu đánh tiết học được tổ chức linh hoạt, học sinh tích cực thực hiện các nhiệm vụ phù hợp với năng lực cá nhân và tham gia các hoạt động nhóm. Bảng 5: Tổng hợp ý kiến phản hồi của học sinh sau khi thực hiện biện pháp TT Câu hỏi
Tỉ lệ lựa chọn (%) Thỉnh Thường thoảng xuyên Không bao giờ
1
73,5% 26,1% 0,4%
2 nắm Phần lớn Một nửa
70% 20% Chưa được 10%
3 Phần lớn Một nửa Không Ngoài việc học các kiến thức trên lớp em đã dành thời gian để tự tìm hiểu thêm về các kiến thức Địa lí ngoài sách giáo khoa, tài liệu tham khảo như thế nào? Em nắm được hết những kiến thức, kỹ năng cơ bản môn Địa lí thông qua học trên lớp không? Em có thực hiện được các nhiệm vụ học tập trên lớp và ở nhà không? 91,3 %
kĩ năng Cung cấp kiến thức 4
Việc tổ chức các hoạt động học tập theo hướng phân hóa theo lực học cho học sinh có tác dụng, ý nghĩa như thế nào với em? 22,3% 0% Hình thành kĩ sống 43,2%
Thích Không thích 5 Em có thích học môn Địa lí không?
62,7% 8,7% Luyện tập năng 34,5% Bình thường 37,1% 0,2%
III. Nhận xét của giáo viên
Trong thời gian thực hiện đề tài, tôi may mắn nhận được sự hỗ trợ, hợp tác nhiệt tình từ giáo viên và HS các trường tham gia thực nghiệm. Hầu hết các giáo viên đều gửi cho tôi những phản hồi tích cực từ hoạt động thực nghiệm, hiệu quả của các giải pháp tôi thực hiện (các phản hồi tôi nhận được là “các hoạt động bổ ích”, “HS tham gia hào hứng, tích cực”, “giải pháp đơn giản nhưng hiệu quả”...)
Nhận xét của giáo viên dự giờ
Kết quả trên đây chứng tỏ phần nào việc vận dụng dạy học phân hóa trong dạy học môn Địa lí đã mang lại những hiệu quả nhất định, việc vận dụng những quan điểm dạy học mới là hết sức cần thiết để góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện mục tiêu “học đi đôi với hành” trong công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay. Các hoạt động giáo dục này giúp hình thành, củng cố, mở rộng những kiến thức, kĩ năng, hành vi, thái độ thiết thực trong đời sống, đúng theo xu hướng dạy học tích cực mà nền giáo dục trên thế giới cũng như ở nước ta đang hướng tới.
49
50
PHẦN 3: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
I. Kết luận
Việc dạy học phân hóa đối tượng HS sẽ làm cho tiết học không bị nhàm chán, HS không bị áp đặt theo khuôn mẫu định sẵn, tạo nhiều cơ hội cho HS sáng tạo và phát triển tư duy.
Bên cạnh đó, để nâng cao chất lượng dạy học thì việc dạy học phân hóa đối tượng HS trong Địa lí và các môn học khác nói chung là một việc làm hết sức cần thiết. Cùng với việc tích cực đổi mới phương pháp dạy học giáo viên cần tìm ra những biện pháp cải tiến mới nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường. Khi thực hiện các biện pháp trên, giáo viên cần lưu ý:
- Xác định đúng đối tượng, để phân loại sát thực tế.
- Linh hoạt, sáng tạo trong các hình thức chia nhóm.
- Bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng, trình độ HS của lớp mình để điều chỉnh
tài liệu hướng dẫn học phù hợp cho từng đối tượng HS.
- Nắm vững các phương pháp dạy học, sử dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức dạy học phân hóa đối tượng HS. Nắm vững đặc điểm tâm sinh lý, nhận thức của từng đối tượng HS.
- Áp dụng đánh giá HS theo thông tư 58/2011 của Bộ GD&ĐT thường xuyên nhằm động viên, tuyên dương khích lệ HS một cách kịp thời đặc biệt là đối tượng HS chậm tiến.
Tóm lại việc dạy học phân hóa đối tượng HS là một việc làm quan trọng để giúp HS tiếp thu và chiếm lĩnh kiến thức, để làm được điều này đòi hỏi người giáo viên phải tâm huyết với nghề nghiệp, hết lòng vì HS.
Trên đây là một số biện pháp trong quá trình giảng dạy chúng tôi đúc rút được và mang lại hiệu quả bước đầu. Tổ khối chúng tôi rất mong được Ban giám hiệu nhà trường và bạn bè đồng nghiệp chia sẻ thêm kinh nghiệm để chuyên đề của chúng tôi được áp dụng rộng rãi và thành công.
II. Bài học kinh nghiệm, ý nghĩa của đề tài.
1. Về phía giáo viên
Để thực hiện tốt, người giáo viên cần nghiên cứu kỹ bài giảng, xác định được kiến thức trọng tâm, tìm hiểu, tham khảo các vấn đề thực tế liên quan phù hợp với năng lực HS. Xây dựng kế hoạch dạy học cho từng chuyên đề, từng nội dung kiến thức theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của HS, phải mang tính hợp lí và hài hòa.
- Giáo viên cần phải thường xuyên học tập, trau dồi, nâng cao trình độ chuyên môn, hiểu biết về kiến thức bộ môn. biến đổi. Đồng thời thường xuyên cập
51
nhật các kiến thức, nắm bắt kịp thời các thông tin về ứng dụng bộ môn để đưa các nội dung đó vào các hoạt động một cách lôi cuốn và hấp dẫn hơn.
- Để kích thích hoạt động tâm lí tích cực của HS, đặc biệt có thể sẽ có tác động tích cực tới cả cộng đồng nên tổ chức cho HS các cuộc thi tìm hiểu về vấn đề liên quan đến bộ môn (phòng chống dịch bệnh, sinh vật gây hại, môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm...) hoặc tổ chức thi vẽ tranh về các đề tài này nhằm nâng cao hơn ý thức của HS về các vấn đề trên.
- Ngoài ra, các trường nên thành lập Câu lạc bộ (CLB) Địa lí. Đây là tổ chức hoạt động tự nguyện của những HS muốn tham gia vào các hoạt động giáo dục. Những HS khi tham gia vào CLB sẽ được sinh hoạt theo định kì của CLB (ví dụ: 1 lần/1 tháng, CLB có thể hoạt động theo những chủ đề nhất định. Các chủ đề như: “Dinh dưỡng khoáng và nông nghiệp sạch”, “Vệ sinh an toàn thực phẩm”, “Cách phòng ngừa và điều trị một số bệnh ở người”...
2. Về phía HS
– HS cần tích cực tham gia các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức trong
các tiết học hay giao nhiệm vụ về nhà.
– Biết tìm tòi, quan sát các hiện tượng trong tự nhiên, trong sản xuất và đời sống; từ đó biết vận dụng kiến thức các môn học (đặc biệt là môn Địa lí) để giải thích các hiện tượng đó.
– Có tinh thần học hỏi thầy cô, bạn bè, người thân….và lòng đam mê khám
phá khoa học.
3. Bài học kinh nghiệm
- Đối với chương trình dạy học và sách giáo khoa, các nội dung cần xây dựng lại thành các chủ đề xuyên suốt, có thể giảm tải bớt những kiến thức sâu, tăng cường thời lượng cho phần thực hành, thí nghiệm và ứng dụng. Trong những giờ học, GV cần có sự quan tâm khác nhau đến các nhóm HS khác nhau, giao nhiệm vụ phù hợp để các em đều hoạt động tích cực và đều hứng thú trong giờ học. GV cũng cần tiếp cận nhiều hơn đến những hiện tượng, những thành tựu, những ứng dụng của kiến thức vào đời sống, từ đó hướng dẫn các em thay đổi thái độ, hành vi, thông qua những việc làm như trồng cây, bảo vệ rừng…
- Đối với giáo án dạy học phân hóa, bài giảng được thiết kế lồng ghép với các phương pháp dạy học tích cực khác, phải đảm bảo nguyên tắc “Dạy học lấy HS là trung tâm”. Các hoạt động dạy học cần hướng vào hoạt động học tập chủ động của HS dựa trên sự hướng dẫn, tổ chức của giáo viên. Giáo viên cần có sự chuẩn bị công phu và chu đáo về giáo án, nghiên cứu trước những diễn biến diễn ra của bài học, có sự chủ động trước mọi tình huống. Cần chú ý và có thể làm rõ một hoặc vài khía cạnh về khái niệm, biểu hiện, nguyên nhân hoặc giải pháp trong bài học. Thiết kế và tổ chức bài học cần được thực hiện đa dạng các phương pháp dạy học,
52
đặc biệt tăng cường các phương pháp dạy học tích cực với hình thức tổ chức đa dạng, gắn với hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực hành – thí nghiệm cần được tăng cường hơn trong các môn học.
- Đối với thiết bị và công cụ dạy học, nếu có thể, nhà trường cần tăng cường trang bi ̣và sử dụng các thiết bị dạy học bộ môn, đặc biệt là các thiết bị dạy học hiện đại. Các loại sơ đồ, mô hình cần được tăng cường. Có giải pháp nhằm khuyến khích giáo viên và HS sáng tạo ra những công cụ dạy và học thân thiện với môi trường và tận dụng được đồ dùng tái chế. Qua đó, rèn luyện cho các em các kĩ năng sáng tạo và thấy được ý nghĩa của đồ dùng học tập.
- Đối với việc tổ chức quản lý và các hoạt động đoàn thể trong các hoạt động ngoại khóa (cuôc ̣ thi, tham quan, dã ngoại,…) cần có sự ủng hộ và hỗ trợ của Ban giám hiệu nhà trường, của Đoàn thanh niên hay của hội phụ huynh. Sự ủng hô ̣của địa phương, của cộng đồng, đặc biệt là sự ủng hộ của phụ huynh HS tạo thuận lợi hơn cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục trong nhà trường.
- Dự kiến trong các năm học tiếp theo, tôi sẽ áp dụng biện pháp cho tất cả các khối, lớp mình dạy sau khi đã điều chỉnh và tăng cường hoạt động dạy học… Quy trình, cách thức tổ chức thực hiện biện pháp có thể áp dụng được cho các môn học khác trong trường và các trường có điều kiện tương đồng,…
II. Kiến nghị, đề xuất
“Phát triển năng lực vận dụng kiến thức Địa lí vào thực tiễn cuộc sống” cho HS THPT là một nội dung cần thiết, người dạy cần phải nắm bắt được nội dung và đặc điểm môn học; lựa chọn các phương pháp và kĩ thuật dạy học phù hợp nhằm khai thác được hết kiến thức và hiểu biết thực tiễn của HS; từ đó giúp các em vận dụng kiến thức vào cuộc sống và sản xuất. Như vậy, đòi hỏi người giáo viên cần có kiến thức sâu và thời gian nghiên cứu các môn học, các nội dung kiến thức phù hợp, phối kết hợp một cách linh hoạt, sáng tạo nhằm gây hứng thú cho HS. Từ đó, các em thấy được kiến thức ở các môn học là một thể thống nhất, bổ trợ cho nhau nhưng lại có thể có các cách nhìn khác nhau rất đa dạng; đồng thời các em biết vận dụng linh hoạt các kiến thức đó để giải quyết các tình huống trong thực tiễn đời sống và sản xuất, từ đó các em phát triển toàn diện hơn về mọi mặt đức – trí – thể - mĩ và hình thành được các kĩ năng, năng lực thiết thực.
1. Về phía Sở GD&ĐT:
- Tôi mong muốn được tham gia trực tiếp các buổi tập huấn, hội thảo của Sở GD và ĐT để lĩnh hội một cách trọn vẹn hơn tinh thần đổi mới của chương trình phổ thông tổng thể 2018.
- Mong muốn Sở GD và ĐT triển khai các mô hình điểm để chúng tôi được
tham quan, học tập kinh nghiệm giáo dục và dạy học từ các đồng nghiệp.
2. Về phía nhà trường:
53
- Nhà trường cần bổ sung thêm sách tham khảo cho giáo viên ở thư viện.
- Nhà trường cần hoàn thiện hơn trang thiết bị phòng phòng thực hành Địa
lí.
- Nhà trường tạo điều kiện để cho giáo viên tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo và tham quan thực tế, các cuộc giao lưu kiến thức sẽ gây hứng thú cho HS một cách hiệu quả.
Trên đây là kết quả nghiên cứu và ứng dụng của tôi về vận dụng dạy học phân hóa vào các chủ đề, tôi nhận thấy đề tài đã bước đầu mang lại những hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, khi thực hiện đề tài, chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy cô và đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
54
PHẦN 4: PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: Thông tin khoa học hỗ trợ giáo viên và học sinh
1. Chuột và quá trình sinh trưởng của chuột
* Chuột
Chuột là một loài thuộc bộ gặm nhấm, có bộ răng phát triển thích nghi với chế độ gặm nhấm. Chuột có cơ thể khỏe mạnh, chân ngắn, đuôi dài, toàn thân có lông dày che phủ.
- Đặc điểm cấu tạo răng của chuột
Chuột có bốn răng cửa dài, sắc, phát triển trong suốt cuộc đời (Các thí nghiệm với chuột trắng cho thấy: răng cửa trên dài ra trung bình 114,3mm/năm; còn răng cửa dưới dài ra trung bình 1.146,1mm/năm). Chuột không có răng nanh và răng hàm trước nên có một khoảng hàm dài không có răng sau phần răng cửa. Chuột có 12 răng hàm.
- Đặc điểm hệ tuần hoàn
Chuột là động vật hằng nhiệt, có hai vòng tuần hoàn, với tim bốn ngăn hoàn
chỉnh, máu đi nuôi cơ thể là máu đỏ tươi.
Ở chuột, xuất hiện cơ hoành chia khoang cơ thể thành khoang ngực và khoang bụng. Cơ hoành cùng với các cơ liên sườn tham gia vào quá trình thông khí ở phổi.
Nguyên lý hoạt động
Định luật Boyle – Mariotte: Trong quá trình biến đổi đẳng nhiệt của một
lượng khí lý tưởng nhất định, áp suất tỷ lệ nghịch với thể tích.
Giải thích:
Khi kéo bong bóng ở đáy vỏ chai, thể tích của khối khi bên trong vỏ chai tăng (lượng khí bên trong chai không thay đổi) làm cho áp suất bên trong vỏ chai giảm. Điều này làm cho mất cân bằng áp suất bên trong và bên ngoài bong bóng trong vỏ chai nên chúng phình ra. Khi thả, thể tích bên trong vỏ chai giảm và quá trình diễn ra ngược lại làm cho bong bóng bên trong vỏ chai co lại. Thí nghiệp trên mô phỏng hoạt động của cơ hoành hỗ trợ quá trình hô hấp của động vật và chuột.
- Các thông tin về chuột
+ Thị giác: Các tế bào hình nón nhận biết ánh sáng và màu sắc trong khi các tế bào hình que tiếp nhận ánh sáng yếu và không phân biệt được màu sắc. Tuy nhiên, chuột mù màu trong dải từ đỏ đến xanh lá. Ngược lại, chuột có khả năng nhận biết tốt ánh sáng trong vùng bước sóng ngắn và tia cực tím. Số tế bào hình nón trong tổng số tế bào cảm nhận thị giác rất ít nên chuột không thích ánh sáng mạng và thích hoạt động về đêm.
+ Thính giác: Chuột nghe thấy những âm thanh trong phạm vi siêu âm (<90
kHz). Chuột phát ra âm thanh thông thường và cả siêu âm để liên lạc với nhau.
+ Vị giác: Lưỡi chuột có rất nhiều thần kinh vị giác nên có khả năng nếm
đến 259 mùi vị khác nhau.
+ Khứu giác: Chuột có nhiều tế bào thần kinh khứu giác ở mũi nên chúng
có thể phân biệt được những loại mùi một cách rất tinh vi.
* Sinh trưởng và phát triển của chuột
Sinh trưởng của chuột là quá trình tăng kích thước của cơ thể chuột do tăng số lượng và kích thước tế bào. Phát triển của chuột là quá trình biến đổi bao gồm sinh trưởng, phân hóa (phân biệt) tế bào và phát sinh hình thái các cơ qaun và cơ thể.
Quá trình sinh trưởng và phát triển của chuột không qua biến thái, gồm hai
giai đoạn: giai đoạn phôi thai và giai đoạn hậu phôi (sau khi sinh).
Giai đoạn phôi thai: Hợp tử phân chia nhiều làn thành phôi. Các tế bào của phôi phân hóa và tạo thành các cơ quan (tim, gan, phổi,…) kết quả là hình thành phôi thai chuột.
Giai đoạn hậu phôi: Cơ thể chuột phát triển về kích thước nhưng không thay
đổi về hình thái, tức là hình thái chuột trưởng thành tương tự chuột con.
Ngoài yếu tố di truyền, sự sinh trưởng và phát triển của chuột còn phụ thuộc
các yếu tố bên ngoài như: nhiệt độ, ánh sáng, nguồn thức ăn, con người,…
* Tập tính của chuột
Tập tính là chuỗi những phản ứng của động vật trả lời kích thích từ môi trường (bên trong hoặc bên ngoài cơ thể), nhờ đó động vật thích nghi với môi trường sống và tồn tại. Tập tính bẩm sinh là loại tập tính sinh ra đã có, di truyền từ bố mẹ, đặc trưng cho loài. Tập tính học được là loại tập tính được hình thành trong quá trình sống của cá thể, thông qua học tập và rút kinh nghiệm. Cơ sở thần kinh của tập tính là các phản xạ không điều kiện và các phản xạ có điều kiện.
- Tập tính bẩm sinh của chuột
+ Tập tính sinh sản: Chuột đẻ quanh năm và phát triển số lượng rất nhanh. Mỗi con chuột cái có thể đẻ 5 – 10 lứa mỗi năm, mỗi lứa trung bình 6-8 con. Chuột mới sinh chưa mỏ mắt được ngay và không có lông. Bộ lông bắt đầu phát triển vài ba ngày sau khi sinh, đôi mắt mở sau khi sinh khoảng -2 tuần. Chuột trưởng thành sinh dục sau khoảng 6-8 tuần. Kết quả khảo sát cho biết, chỉ trong một năm, một cặp chuột cống tạo ra cả một bầy đàn con, cháu, chắt, chít, cộng lại có thể tới 15.552 con.
+ Tập tính kiếm ăn: Chuột phàm ăn và ăn nhiều, có tập tính gặm nhấm thức
ăn và đồ vật để hạn chế sự dài ra của răng.
+ Tập tính hoạt động: Chuột hoạt động mạnh về đêm
- Tập tính học được:
+ Tập tính bầy đàn: Chuột sống theo bầy đàn và có phân cấp trong hang ổ
của chúng. Các cá thể mạnh mẽ hơn sẽ thống trị.
+ Tập tính phòng thủ: Chuột thường xù lông khi gặp nguy hiểm, chúng có thể phản ứng lại bằng cách cắn, cào,… Tuy nhiên, khi phát hiện mối nguy hiểm, chúng thường bỏ chạy rất nhanh.
+ Tập tính cư trú: Chuột ẩn nấp ở những nơi gần nguồn thức ăn và những nơi này thường che chắn và bảo vệ được cho chúng khỏi các mối nguy hiểm như: mèo, con người, rắn,…
Làm thú nuôi: Một số loài chuột được con người chọn nuôi như thú cưng, đặc biệt là chuột Hamster. Chúng được chăm sóc kỹ lưỡng và kiểm soát dịch bệnh.
* Tác hại của chuột
Bên cạnh các lợi ích trên, chuột gây ra những tác hại to lớn, ảnh hưởng trực
tiếp đến sức khỏe và công việc cũng như sinh hoạt hằng ngày của con người.
Lan truyền bệnh tật, có hại cho sức khỏe: Chuột sống trong các cống rãnh, nơi cất lương thực,… Chúng mang theo mầm bệnh, làm ô nhiễm đồ ăn, thức uống và nguồn nước. Chúng lan truyền hơn 10 loại bệnh truyền nhiễm nhưu: bệnh dịch hạnh, bệnh trùng xoắn móc câu,…
Ăn thực phẩm, phá hoại hoa màu: Chuột ăn các thực phẩm cất trữ trong nhà,
hơn nữa, chuột còn ăn và cắn lúa, sắn,… làm giảm năng suất của hoa màu.
Phá hoại cây rừng, phá đồng cỏ: Chuột ăn cây giống, làm chết cây rừng, gây hại cho việc trồng rừng và tái sinh rừng. Bên cạnh đó, chuột cắn phá, đào bới mặt đất làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cỏ.
Làm hỏng công trình, cắn đứt dây điện: Chuột đào hang thường làm hỏng nền móng công trình, phá vỡ cấu trúc đê đập. Thêm vào đó, chuột cắn phá dây điện, gây mất an toàn điện.
Cắn nát quần áo, sách vở, tài liệu, cắn người và súc vật: Chuột gặm nhấm các đồ dùng gia đình như: quần áo, sách vở,… Hơn nữa, chuột còn cắn người và các vật nuôi trong gia đình.
* Vi khuẩn Yersinia pestis và bệnh dịch hạch
Vi khuẩn Yersinia pestis được tìm ra năm 1894 do A. Yersin. Vi khuẩn Yersinia pestis là trực khuẩn ngắn, hình trụ (trực khuẩn), là vi khuẩn truyền nhiễm căn bệnh dịch hạch ở người, có thể gây chết hàng loạt.
Chuột mang mầm bệnh dịch hạch, vi khuẩn Yersinia pestis xâm nhập vào cơ thể qua vết đốt bọ chét, vết cắn các chuột. Chúng theo đường bạch huyết đi vào
màu và đến các cơ qaun khác như phổi, ruột, màng não,… gây nên các thể hạch, thể phổi, thể tiêu hóa,…
Các biểu hiện của bệnh dịch hạch: sốt cao liên tục, nhức đầu, chóng mặt,
mệt mỏi, buồn nôn, da niệm mạc xung huyết, mặt đỏ, mắt đỏ,…
2. Phòng chống tác hại của chuột
* Diệt chuột
Con người diệt chuột với nhiều cách khác nhau, mỗi cách diệt chuột có ưu điểm và nhược điểm riêng. Khi diệt chuột, cần vận dụng phối hợp các biện pháp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất.
- Biện pháp vật lý
Đập trực tiếp: sử dụng sức người và gậy để tác động vào chuột làm chuột bị thương hoặc chết. Tuy nhiên phương pháp này ít hiệu quả vì mất nhiều sức nhưng số lượng chuột diệt được ít.
Bẫy chuột: Sử dụng khí cụ và mồi nhử để dụ chuột vào trong khí cụ để tiêu diệt hay giam giữ chuột. Có nhiều loại bẫy chuột khác nhau về nguyên lý cấu tạo và nguyên lý hoạt động.
* Hướng dẫn làm bẫy chuột nhà đơn giản
Mục đích: Chế tạo được dụng cụ bắt chuột nhà đơn giản.
Ý tưởng thiết kế
Lồng bẫy chuột thiết kế giống như bập bênh, một đầu hở và phía dưới đầu hở có bức tường để khi chuột đi vào bên trong lồng bẫy thì chuột dang ở một đầu của bập bênh. Do chuột có khối lượng nên phía đầu bẫy, nơi chuột đứng sẽ nghiêng xuống, khi đó đầu hở này đã được chắn bằng bức tường. Nếu chuột có di chuyển đi đâu trong lồng bẫy thì cũng không thể thoát ra bên ngoài được.
Vật liệu và dụng cụ
- 2 vỏ lon nước ngọt
- 1 đoạn dây thép
- 1 chiếc xô
- Bơ
Cách làm: Nối sợi dây thép theo chiều dọc của chiếc lon, buộc cố định sợi
dây thép lên miệng xô, sau đó quết bơ lên bỏ lon để thu hút chuột.
Kiểm tra, vận hành thử nghiệm bẫy chuột.
- Diệt chuột bằng bẫy điện
Bẫy điện là khí cụ diệt chuột sử dụng tác dụng sinh lý của điện “dòng điện
đi qua cơ thể chuột có tác dụng phá hoại các hoạt động của cơ thể chuột”.
Ưu điểm: không độc hại, không ô nhiễm, giá thấp, thao tác dễ, phạm vi bắt
chuột rộng…
Nhược điểm: không an toàn, gây ra nhiều trường hợp tai nạn điện nguy hiểm
đến tính mạng con người.
- Biện pháp hóa học
Ưu điểm: Hiệu suất diệt chuột cao, đơn giản, chi phí thấp và thấy được kết
quả nhanh chóng.
Nhược điểm: độc hại đối với sức khỏe con người, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến thú nuôi. Trong trường hợp sử dụng nhiều lần, chuột có thể nhận biết độc hại trong mồi dẫn đến hiệu quả diệt chuột không cao.
Diệt chuột bằng thuốc: sử dụng các thuốc diệt chuột pha/ trộn vào thức ăn
làm mồi nhử. Khi chuột ăn/ gặm các mồi nhử, chúng bị trúng độc và chết.
Quy trình diệt chuột bằng thuốc: (1) Chọn thuốc diệt chuột -> (2) Chọn mồi nhử (nên sử dụng hạt ngũ cốc như lúa, ngô,… vì chuột có tập tính gặm nhấm) -> (3) trộn thuốc với mồi -> (4) Đặt mồi ở những nơi chuột thường xuất hiện -> (5) Chuột ăn mồi, trứng độc và chết -> (6) Xử lý xác chết của chuột và mồi nhử còn dư.
Diệt chuột bằng keo dính: keo dính chuột là loại keo gồm có: dầu công nghiệp khoáng 70%, keo latex (10%), colopan (18%), nước (2%), là một loại chất kết dính cực mạnh. Keo dính chuột thường ở dạng lỏng quánh, có màu trong suốt hoặc trắng ngà, nâu sẫm.
Quy trình diệt chuột bằng keo dính: (1) chọn mua hay tự làm keo dính -> (2) chọn mồi nhử -> (3) Bố trí mồi nhử, bẫy keo tại nơi chuột thường xuất hiện (bố trí mồi nhử và bẫy keo sao cho để đến được mồi nhử, chuột phải đi qua bẫy keo) -> (4) Chuột qua mồi nhử, dính bẫy keo -> (5) Xử lý chuột bị dính bẫy keo và loại bỏ keo dính không còn sử dụng.
- Biện pháp Địa lí
Ưu điểm: Không độc hại cho người và vật nuôi, hiệu quả diệt chuột rõ rệt.
Nhược điểm: diệt chuột không ổn định
Thiên địch
Thiên địch là những loài sinh vật có khả năng tiêu diệt một hoặc nhiều loài
sinh vật thường gây hại khác đối với cuộc sống con người.
Diệt chuột bằng thiên địch là nuôi và phát triển các loài động vật có khả năng ăn/ giết chuột như: mèo, rắn, diều hâu… hay sử dụng các loại vi khuẩn gây
bệnh cho chuột như: khuẩn thương hàn chuột, khuẩn 5170,… Thông thường người ta nuôi mèo bắt chuột nhà, còn nuôi rắn để diệt chuột đồng phá hoại lúa.
Vệ sinh môi trường: Dọn vệ sinh nhà ở, khu dân cư… tìm và phá hủy môi
trường sống, ẩn nấp của chuột.
* Tuyên truyền diệt chuột an toàn và hiệu quả
Dù diệt chuột bằng biện pháp hóa học, vật lý hay Địa lí đều tiềm tàng cá
nguy hiểm nhất định cho con người, vật nuôi, cụ thể như sau:
Bên cạnh đó, việc sử dụng hóa chất để diệt chuột gây ô nhiễm môi trường sống, các hóa chất thấm vào trong lòng đất và nguồn nước ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người. Hơn nũa, xử lý xác chuột chết để tránh hôi thối, lây lan bệnh truyền nhiễm cũng là vấn đề đáng được quan tâm.
Vì vậy, cần nghiên cứu mức độ phát triển và phá hoại của chuột để lựa chọn hay sử dụng phối hợp các biện pháp diệt chuột khác nhau, vừa đem lại hiệu quả, vừa an toàn cho con người và vật nuôi.
Tuy nhiên, nhiều người chưa nhận thực được các nguy hiểm tiềm tàng khi sử dụng các biện pháp diệt chuột, gây ra hậu quả nghiêm trọng, thậm chí gây chế người. Do đó, cần xây dựng và thực hiện các phương án tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của người dân và hướng dẫn sử dụng các biện pháp diệt chuột an toàn và hiệu quả.
PHỤ LỤC 2: Một số sản phẩm tiêu biểu của HS:
Hoạt động nhóm của GV và HS về : Vấn đề sử dụng và bảo vệ tài nguyên
Hoạt động nhóm của GV và HS về: Địa hình Việt Nam
Báo cáo về các con đường quang hợp
Bài báo cáo về tập tính và tác hại của chuột
Bẫy chuột đơn giản bằng vỏ lon bia
Bẫy chuột đơn giản bằng lồng quạt Chuột chết do ăn phải bột xi măng
PHỤ LỤC 3: TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo viên môn Địa lí lớp 10, 11, 12
( Nhà xuất bản Giáo dục )
4. Tư liệu dạy học môn Địa lí lớp 10, 11, 12
(Nhà xuất bản Giáo dục)
5. Giáo dục kĩ năng sống trong môn Địa lí
(Nhà xuất bản Giáo dục)
6. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ III môn Địa lí (quyển 1,2)
(Nhà xuất bản Giáo dục)
7. Một số vấn đề về đổi mới giáo dục Địa lí cấp THPT
(Nhà xất bản Giáo dục)
8. Chuẩn kiến thức kỹ năng môn Địa lí THPT
(Nhà xất bản Giáo dục)
9. Khai thác thông tin từ mạng Internet.

