
1
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
TRONG VIỆC TỔ CHỨC CÂU LẠC BỘ BÓNG RỔ TẠI TRƢỜNG THPT
TÂN KỲ
Tác giả: Phan Minh Lệ - Giáo viên trường THPT Tân Kỳ - Nghệ An
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Xuất phát từ nhiệm vụ giáo dục phổ thông nói chung và mục tiêu dạy học môn
Giáo Dục Thể Chất (GDTC) nói riêng là cần đổi mới các hình thức tổ chức và phương
pháp dạy học, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, phát triển năng lực,
phẩm chất của học sinh theo chương trình Giáo dục phổ thông 2018, đặc biệt là các
câu lạc bộ (CLB) theo sở thích. GDTC trong trường học là nội dung quan trọng nhằm
phát triển cấu trúc và chức năng cơ thể con người, luyện tập thể dục thể thao (TDTT)
là hoạt động giúp cho con người tăng cường thể lực, nâng cao sức khỏe đồng thời
giáo dục cho học sinh các phẩm chất ý chí, lòng dũng cảm và tính trung thực. Ngoài
ra tham gia hoạt động TDTT các em có nhiều cơ hội giao lưu, học hỏi mở rộng mỗi
quan hệ hiểu biết lẫn nhau, giúp các em hòa đồng, tự tin giao tiếp, đoàn kết trong tập
thể. Đồng thời các em có nhiều cơ hội thể hiện khả năng của mình qua các môn thể
thao, say sưa hứng thú với môn thể thao mình yêu thích
Xuất phát từ vai trò quan trọng của việc vận dụng những hình thức tổ chức và
phương pháp dạy học mới vào việc dạy học môn Bóng rổ trong trường phổ thông, góp
phần làm tăng vai trò quan trọng của các câu lạc bộ học tập môn học, trong hoạt động
TDTT ở các trường học hiện nay. Bóng rổ là một môn thể thao hiện đại có quá trình
hình thành và phát triển lâu đời, là một môn thể thao nằm trong hệ thống thi đấu của
Đại hội Olympic. Ở Việt Nam môn Bóng rổ được du nhập vào sớm, đầu những năm
30 thế kỷ XX, nhưng do điều kiện của chiến tranh cũng như do điều kiện kinh tế, nên
phải mãi tới cuối những năm 80 mới có điều kiện phát triển trên nhiều địa phương
trong cả nước, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn Hà Nội, TP Hồ Chí Minh. Đến
nay hoạt động thi đấu Bóng rổ đã được đưa vào hệ thống giảng dạy trong các trường
phổ thông, các trường Đại học trên cả nước và chương trình thi đấu chuyên nghiệp
vào năm 2016.
Cũng như các môn thể thao khác, tập luyện và thi đấu Bóng rổ có tác dụng thúc
đẩy sự phát triển toàn diện các tố chất vận động cho người tập như: sức nhanh, sức
bền, khéo léo và sự phối hợp vận động. Ngoài ra tập luyện và thi đấu Bóng rổ cũng có

2
tác dụng mang đến niềm hứng thú và đam mê trong hoạt động thể dục thể thao nói
chung, bồi dưỡng tinh thần, ý chí, thái độ tích cực, tự giác tập luyện TDTT cũng như
tính kỷ luật, tính đồng đội, tính hợp tác trong mọi hoạt động cho người tập.
Tổ chức CLB theo sở thích của học sinh là một trong những hình thức hoạt
động trải nghiệm sáng tạo. Khi tham gia hoạt động của CLB, ngoài mục tiêu rèn
luyện khả năng tự chịu trách nhiệm, năng lực lãnh đạo, kỹ năng làm việc nhóm, học
sinh còn được định hướng, trải nghiệm các nội dung học tập để khám phá bản thân và
phát triển năng khiếu. Thông qua hoạt động của các CLB, giáo viên, cán bộ quản lý,
phụ huynh hiểu và quan tâm hơn đến nhu cầu nguyện vọng và mục đích chính đáng
của học sinh.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, hiệu quả hoạt động
các CLB sở thích chưa cao, chưa được nhân rộng, các CLB chưa thu hút được sự
quan tâm, tham gia nhiều của cán bộ, giáo viên, học sinh và phụ huynh. Bên cạnh đó
vẫn còn một bộ phận học sinh có xu hướng lười nhác vận động, đam mê các trò chơi
điện tử, điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động giáo dục nói chung, hoạt
động dạy và học môn GDTC ở trường trung học phổ thông (THPT) nói riêng.
Chính vì để góp phần hình thành năng lực và phẩm chất của người học hiện
nay, căn cứ vào điều kiện thực tiễn hoạt động TDTT trường học và các hoạt động
ngoài giờ học chính khóa, điển hình là hoạt động CLB Bóng rổ trường THPT Tân kỳ
Vậy nên, tôi chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động CLB Bóng rổ trường THPT Tân Kỳ” nhằm góp phần vào việc giải quyết và
khắc phục các thực trạng nói trên.
1.2. Đóng góp mới của đề tài
- Nêu lên được thực trạng hoạt động CLB Bóng rổ tại trường THPT Tân kỳ
- Đề tài đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động CLB
Bóng rổ học đường tại trường THPT Tân kỳ, vừa đưa ra các biện pháp có thể vận
dụng vào việc tăng cường các hoạt động luyện tập TDTT ngoài giờ học chính khóa,
đồng thời nhân rộng các CLB sở thích khác.
- Tạo sân chơi lành mạnh cho học sinh như:
+ Tổ chức cho HS tự nguyện tham gia vào các hoạt động tập thể.
+ Tổ chức cho HS biết tự làm chủ, tính kỷ luật trong các hoạt động
+ Giúp cho HS biết cách tổ chức và tham gia các hoạt động TDTT và thi đấu
Bóng rổ ở cấp trường và địa phương huyện Tân Kỳ đồng thời giao lưu với các đơn vị
bạn trên toàn tỉnh.

3
- Đối với các biện pháp đã được đề xuất, chúng tôi sẽ khai thác sâu hơn và trình
bày một cách khoa học, dễ áp dụng với các đối tượng HS, GV ở miền núi như huyện
Tân Kỳ.
PHẦN II: NỘI DUNG
2.1. CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1. Cơ sở lí luận:
Môn Bóng rổ được ra đời vào cuối thế kỷ XIX (Năm 1981) do một giáo viên
giáo dục thể chất người Mỹ sáng lập. Vào thời đó các môn thể thao chủ yếu là chơi
ngoài trời, nên đến mùa đông thì hoạt động luyện tập và thi đấu thể thao gần như bị
ngưng lại. Với trăn trở đó ông đã nghiên cữu và sáng lập ra môn Bóng rổ. Môn Bóng
rổ ban đầu lấy ý tưởng từ môn bóng đá nhưng do vì ở môn này dùng chân để khống
chế nên nhiều lỗi va chạm mạnh dễ dẫn đến chấn thương vì thế ông đã đưa ra ý tưởng
dùng tay để khống chế bóng thì sẽ ít va chạm và từ đó môn Bóng rổ ra đời.
Môn Bóng rổ phát triển từ Mỹ, Nhật, Trung quốc và một số nước phát triển. Ở
Việt Nam tuy chưa xác định chính xác quá trình, thời điểm khởi đầu của môn Bóng rổ
nhưng vào khoảng 1930 tại các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Nam
Định và Sài Gòn đã xuất hiện một số người tham gia luyện tập môn Bóng rổ.
Ở miền bắc sau khi được hoàn toàn giải phóng, Đảng và nhà nước đã quan tâm
đến đời sống, sức khỏe của nhân dân, cùng với phong trào luyện tập TDTT cho nên
môn Bóng rổ đã nhanh chóng được khôi phục và phát triển mạnh mẽ đặc biệt là trong
quân đội, sinh viên học sinh và thanh niên ở các thành phố lớn như Hà nội, Hải
phòng, Nam định. Ở miền nam môn Bóng rổ phát triển mạnh và phổ biến rộng rãi ở
các khu vực người Hoa sinh sống, trong quân đội, trong trường dòng…
Bóng rổ là môn thể thao có tác dụng nâng cao các tố chất của cơ thể như: sức
nhanh, sức mạnh, sức bền, sự dẻo dai và tính khéo léo, đặc biệt là phát triển tính tích
cực, tính linh hoạt và trí thông minh. Luyện tập Bóng rổ sẽ nâng cao tinh thần, ý chí
quyết tâm, cũng như khắc phục mọi khóa khăn.
Phạm vi sân không lớn chỉ (28m -15m) nhưng có 10 cầu thủ hoạt động liên tục
với cường độ cao trong khoảng thời gian 40 phút. Cùng với xu hướng phát triển của
Bóng rổ hiện đại đòi hỏi phải nhanh, mạnh, cao, sự khéo léo và chính xác cho nên
tính kiên trì và tập luyện rất cao.
Trong thi đấu Bóng rổ, sự phối hợp giữa các vận động viên (VĐV) rất chặt chẽ
thành một hệ thống liên hoàn. Nếu một vị trí yếu hoặc thiếu ý thức phối hợp toàn đội
sẽ dẫn đến thất bại, vì vậy cá nhận phải luôn gắn kết với tập thể và chính điều này có

4
tác dụng lớn cho việc giáo dục đạo đức, nhận cách con người cũng như tinh thần đoàn
kết giúp đỡ nhau trong luyện tập và thi đấu.
Luyện tập môn Bóng rổ sẽ giúp cho các giác quan phát triển ở mức cao, giúp
người tập mở rộng tầm quan sát, xử lý nhanh và chính xác. Những động tác trong
môn Bóng rổ đều mang tính bột phát và có tính sáng tạo cao, do đó luyện tập Bóng rổ
là cơ sở để hoàn thiện nhân cách con người mới phát triển toàn diện.
Trong chương trình GDTC cho học sinh THPT, môn Bóng rổ cũng đóng góp
một vai trò hết sức quan trọng , giúp cho học sinh say mê vận động và phát triển toàn
diện. Vì vậy “Thành lập CLB Bóng rổ trong trường THPT để giúp các em có cơ hội
vui chơi, rèn luyện thể chất, tinh thần, phẩm chất đạo đức … là một việc rất quan
trọng và cần thiết.
2.1.1.1. Yêu cầu về đổi mới phƣơng pháp, hình thức dạy học môn GDTC
trong trƣờng THPT
GDTC góp phần hình thành các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung cho học
sinh; bên cạnh đó, thông qua việc trang bị kiến thức về sức khoẻ, quản lý sức khỏe và
rèn luyện, GDTC giúp HS hình thành và phát triển năng lực thể chất và văn hoá thể
chất, ý thức trách nhiệm đối với sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng; biết
lựa chọn môn thể thao phù hợp với năng lực vận động của bản thân để luyện tập; biết
thích ứng với các điều kiện sống, lạc quan và chia sẻ với mọi người; có cuộc sống
khoẻ mạnh về thể lực và tinh thần.
Nội dung chủ yếu của môn GDTC là rèn luyện kỹ năng vận động và phát triển
tố chất thể lực cho HS bằng những bài tập đa dạng như rèn kỹ năng vận động cơ bản,
đội hình đội ngũ, các bài tập thể dục, các trò chơi vận động, các môn thể thao và
phương pháp phòng tránh chấn thương trong hoạt động. Trong chương trình giáo dục
phổ thông, nội dung GDTC được phân chia theo hai giai đoạn:
- Trong giai đoạn giáo dục cơ bản, GDTC là môn học bắt buộc, giúp HS biết
cách chăm sóc sức khoẻ và vệ sinh thân thể; hình thành thói quen tập luyện nâng cao
sức khoẻ; thông qua các trò chơi vận động và tập luyện thể dục, thể thao hình thành
các kỹ năng vận động cơ bản, phát triển các tố chất thể lực, làm cơ sở để phát triển
toàn diện.
- Trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, GDTC được thực hiện
thông qua hình thức câu lạc bộ thể thao, HS được chọn nội dung hoạt động thể thao
phù hợp với nguyện vọng của mình và khả năng đáp ứng của nhà trường. Các em
được tiếp tục phát triển kỹ năng chăm sóc sức khoẻ và vệ sinh thân thể, phát triển về
nhận thức và năng khiếu thể thao, giúp những học sinh có năng khiếu thể thao định
hướng nghề nghiệp phù hợp.

5
2.1.1.2. Phƣơng pháp dạy học mới
Yêu cầu cơ bản của phương pháp giáo dục là phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động sáng tạo của HS, rèn luyện năng lực tự học, tự tập luyện cho HS, giúp các
em có cơ hội phát triển năng lực thể chất. Giáo viên là người đóng vai trò thiết kế, tổ
chức, cố vấn, trọng tài, hướng dẫn hoạt động tập luyện cho học sinh, tạo môi trường
học tập thân thiện để khuyến khích học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học
tập, tự mình trải nghiệm, tự phát hiện bản thân và phát triển.
Sử dụng đa dạng các phương pháp nhằm tích cực hoá các hoạt động của HS
một cách hợp lý, kết hợp các loại dụng cụ, trang thiết bị phù hợp với điều kiện thực tế
địa phương, chú trọng sử dụng hiệu quả các thành tựu của công nghệ thông tin,
phương tiện nghe nhìn thông qua các tranh ảnh kỹ thuật, video clip... để tạo nên giờ
học sinh động và hiệu quả. Cần tích hợp, sử dụng kiến thức một số môn học khác để
nội dung luyện tập không bị đơn điệu. Trong quá trình tổ chức luyện tập, GV nên sử
dụng một số nền nhạc khi tổ chức trò chơi, hoặc kết hợp với âm nhạc phù hợp làm
“nền” cho những thời gian luyện tập nhất định trong giờ học, tạo không khí vui tươi,
hưng phấn khi tập luyện, làm cho HS ưa thích và đam mê luyện tập thể thao. Cần
sáng tạo và linh hoạt khi xây dựng kế hoạch dạy học môn Giáo dục thể chất để đảm
bảo tính thực tiễn, phù hợp với đặc điểm và điều kiện vùng miền.
Giáo viên cần sử dụng linh hoạt, hiệu quả các phương pháp đặc trưng trong dạy
học GDTC: làm mẫu, sử dụng lời nói, luyện tập và chú trọng sử dụng phương pháp
trò chơi, thi đấu, trình diễn. Chú ý sử dụng phương pháp đối xử cá biệt, phù hợp với
sức khoẻ học sinh, phát triển năng khiếu chuyên biệt cho HS ...
Sử dụng hợp lý các phương pháp dạy học phát huy tính tự giác, tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh. Chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng hợp
tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nhằm hình thành và sự phát triển năng
lực cho HS.
Công tác tổ chức dạy học cần đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học trong
và ngoài lớp học, trong và ngoài nhà trường; cân đối giữa dạy học và hoạt động giáo
dục, giữa hoạt động tập thể, hoạt động nhóm nhỏ và cá nhân, giữa dạy học bắt buộc
và dạy học tự chọn, để đảm bảo vừa phát triển các năng lực chung cốt lõi và năng lực
chuyên biệt của GDTC, nâng cao chất lượng giáo dục cho HS. Tăng cường, nâng cao
hiệu quả của các phương tiện dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền
thông, để hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học. Tạo điều kiện cho HS tiếp cận các
nguồn học liệu đa dạng, khai thác các thông tin phong phú qua mạng Internet,... để
xây dựng các chủ đề học tập theo sở thích và sự phát triển năng lực tự học tuỳ theo
khả năng, cách học của cá nhân HS.

