SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRÒ CHƠI

TRONG DẠY HỌC TỰ CHỌN ĐỊA LÝ 12

TẠI TRƯỜNG THPT QUỲ HỢP 3

LĨNH VỰC: ĐỊA LÝ

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT QUỲ HỢP 3 =====  ===== SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRÒ CHƠI

TRONG DẠY HỌC TỰ CHỌN ĐỊA LÝ 12

TẠI TRƯỜNG THPT QUỲ HỢP 3

LĨNH VỰC: ĐỊA LÝ

Tên tác giả

: Phan Thị Thanh Huyền

Tổ bộ môn

: Khoa học – xã hội

Năm thực hiện

: 2021

Số điện thoại

: 0399 915 538

NĂM HỌC 2020 - 2021

MỤC LỤC

Trang PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ ........................................................................................ 1 1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................. 1 2. Đối tượng nghiên cứu. .................................................................................... 2 3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài. ....................................................................... 2 4. Phương pháp nghiên cứu. ............................................................................... 2 PHẦN II: NỘI DUNG ............................................................................................ 3 1. Cơ sở lý luận .................................................................................................. 3 1.1. Một số lí luận về dạy học tích cực ........................................................... 3

1.2. Một số lí luận về phương pháp trò chơi ................................................... 7 2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................. 12 3. Thực trang về dạy học môn địa lý ở trường THPT Quỳ Hợp 3 hiện nay ......... 12 3.1. Về chương trình học .............................................................................. 12

3.2 Đối với người dạy ................................................................................... 13 3.3. Đối với người học .................................................................................. 14 4. Sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí ........................................................... 14 4.1. Thái độ của học sinh khi tham gia trò chơi ............................................ 14

4.2. Tác động của trò chơi đối với học sinh .................................................. 15 5. Một số lưu ý khi thực hiện trò chơi ............................................................... 16 6. Kết quả đạt được. ......................................................................................... 17 6.1. Kết quả về mặt định tính. ....................................................................... 17

6.2. Kết quả về mặt định lượng. .................................................................... 17 PHẦN III: KẾT LUẬN ........................................................................................ 21 1. Đóng góp mới của đề tài ............................................................................... 21 2. Tính khả thi của đề tài .................................................................................. 21 3. Hướng phát triển của đề tài ........................................................................... 21 4. Kết luận ........................................................................................................ 21 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 23 PHỤ LỤC ............................................................................................................ 24 Phụ lục 1 PHIẾU ĐIỀU TRA THÁI ĐỘ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH KHI THAM GIA TRÒ CHƠI ...................................................................................... 24 Phụ lục 2. GIÁO ÁN MINH HỌA ................................................................... 26 Phụ lục 3. HÌNH ẢNH CỦA HS KHI THAM GIA MỘT SỐ TRÒ CHƠI ....... 30 Phụ lục 4. MỘT SỐ TRÒ CHƠI MINH HOẠ .................................................. 34

1

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.So sánh phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học tích cực ............................................................................................................... 3

Bảng 2. Kết quả thi tốt nghiệp năm học 2018 - 2019 của lớp 12C2 .................. 11

Bảng 3. Thái độ của học sinh lớp 12 khi tham gia học tập bằng trò chơi địa lí ở trường THPT Quỳ Hợp 3 năm học 2020 - 2021 ............................................ 14

Bảng 4. Tác động của trò chơi trong việc học tự chọn môn Địa lí 12 bằng trò chơi ở trường THPT Quỳ Hợp 3 năm học 2020 - 2021 ....................... 16

Bảng 5: Kết quả học tập năm học 2019 - 2020 giữa 2 lớp 12C2 và lớp 12C5 ... 18

Bảng 6: Kết quả thi tốt nghiệp của 2 lớp 12C2 và 12C5 năm 2020 ................... 18

Bảng 7: Kết quả thi thử THPT Nghệ An lần 1của 2 lớp 12C5 và 12C3

năm 2021 ......................................................................................................... 19

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1. Biểu đồ thể hiện điểm thi theo nhóm môn Địa lí năm học 2018 - 2019 .. 11

Biểu đồ 2. Biểu đồ thể hiện cơ cấu thái độ của học sinh lớp 12 khi tham gia học tập bằng trò chơi địa lí ở trường THPT Quỳ Hợp 3 năm học 2020 - 2021 .. 15

Biểu đồ 3. Biểu đồ thể hiện kết quả học tập của 2 lớp 12C2 và lớp 12C5 năm học 2019 - 2020................................................................................................ 18

Biểu đồ 4. Biểu đồ thể hiện điểm thi tốt nghiệp giữa 2 lớp 12C2 và 12C5 năm 2020 ................................................................................................................. 19

Biểu đồ 5. Biểu đồ thể hiện điểm thi thử THPT Nghệ An lần 1 của 2 lớp 12C5 và 12C3 năm 2021 .................................................................................. 20

Điểm

2

DANH MỤC VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ TT

Dạy học 1 DH

Giáo viên 2 GV

Học sinh 3 HS

Kinh tế - xã hội 4 KT-XH

Nhà xuất bản 5 NXB

Phương pháp dạy học 6 PPDH

Sách giáo khoa 7 SGK

Trung học phổ thông 8 THPT

Sách giáo viên 9 SGV

Và 10 &

3

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lí do chọn đề tài

Dạy học là một khoa học nhưng cũng là một nghệ thuật. Bởi lẽ, đối tượng của công tác dạy học là con người với sự tổng hòa của các mối quan hệ xã hội. Hơn nữa, mỗi học sinh là một thế giới riêng, vốn tri thức, hiểu biết riêng. Vì thế, dạy học không đơn thuần là truyền thụ và lĩnh hội tri thức mà còn là quá trình định hướng để hình thành, hoàn thiện kỹ năng, nhân cách cho con người. Với bản thân tôi, mục đích tối cao nhất của việc dạy học chính là RÈN ĐỨC và LUYỆN TÀI cho học sinh - những con người tham gia quá trình học tập.

Đặc biệt với xu hướng đẩy mạnh đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục và dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh, thì việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực là vấn đề rất cần thiết. Đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục với mô hình “lấy học sinh làm trung tâm” là mục tiêu quan trọng mà toàn ngành đang ưu tiên hướng tới nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho tương lai.

Thiết nghĩ, với mục đích cao cả nhất của giáo dục là RÈN ĐỨC và LUYỆN TÀI thì nền giáo dục cần phải làm gì để đạt được mục đích ấy? Theo tôi, để LUYỆN TÀI cho con người, cần sự đổi mới giáo dục, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường THPT thì đổi mới phương pháp dạy học đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Bởi lẽ, nếu người giáo viên không có phương pháp dạy - học tốt thì không thể đào tạo được những sản phẩm có chất lượng cho tương lai, càng không thể hình thành được ở học sinh các năng lực để học sinh “biết”, “làm”, “chung sống” và “tự khẳng định mình” trong thực tiễn. Còn để RÈN ĐỨC cho các em học sinh là cả một quá trình giáo dục lâu dài.

Với vai trò là một giáo viên bộ môn Địa Lý, đồng thời là một giáo viên trẻ mới vào nghề, với tinh thần nhiệt huyết và lòng đam mê của tuổi trẻ tôi mong muốn được áp dụng các kiến thức mình đã được học từ các thầy cô Trường Đại học để tạo ra một môi trường học tập tích cực, phát huy tính tự giác, tư duy sáng tạo của học sinh, tạo ra các giờ học sôi nổi, tăng thêm hứng thú học tập. Đồng thời từ thực tiễn của việc giảng dạy tại trường tôi, một ngôi trường miền núi nằm ở phía Tây Nghệ An, trường THPT Quỳ Hợp 3 chúng tôi, cơ sở vật chất còn khó khăn, học sinh chủ yếu là con em đồng bào dân tộc thiểu số ở các vùng sâu, vùng xa ra đây theo học. Đặc biệt hơn là chất lượng đầu vào của học sinh thấp, năng lực tư duy và tự học của học sinh còn yếu, khả năng áp dụng các hình thức và phương pháp dạy học mới còn hạn chế. Hơn thế nữa, trong các tiết tự chọn một số giáo viên vẫn chưa chú trọng đầu tư đổi mới phương pháp, hiệu quả giờ dạy chưa cao, giờ học chưa thật sự sôi nổi và tạo hứng thú cho người học, chính vì lẽ đó tôi đã lựa chọn đề tài: “Sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học tự chọn Địa Lý 12 tại Trường THPT Quỳ Hợp 3” cho sáng kiến kinh nghiệm năm 2021, để góp phần đề ra một giải pháp nhằm phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh, giúp học sinh thêm yêu thích học tập bộ môn hơn, phát triển tư duy, tạo ra môi trường học tập tích cực, tạo hứng thú học tập cho học sinh. Ngoài ý nghĩa về việc cung cấp kiến thức, trò chơi còn có giá trị to lớn góp phần phát huy sự nhanh nhạy, quyết đoán của người chơi, phát huy tính tập thể của nhóm lớp, có ý nghĩa lớn trong việc 1

hình thành các kĩ năng sống, nhân cách của học sinh thông qua biểu hiện đơn giản nhất là tôn trọng người chơi, lắng nghe đáp án và phản biện một cách hợp lí.

Đây cũng là cơ hội để tôi nói lên những suy ngẫm và trăn trở của mình với tư cách một người làm công tác giáo dục trong nhà trường THPT, đưa các kiến thức đã học áp dụng vào thực tiễn giảng dạy tại trường THPT Quỳ Hợp 3.

2. Đối tượng nghiên cứu.

- Nội dung, các phương pháp dạy học, trò chơi, cách thức tổ chức dạy học.

- Thực hiện đối với học sinh ở các lớp 12 trường THPT ở huyện Quỳ Hợp,

tỉnh Nghệ An.

- Chương trình, SGK, SGV và các tài liệu hướng dẫn dạy học Địa lí 12.

3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài.

Về thời gian: Đề tài sử dụng trò chơi trong dạy học tự chọn Địa lí 12 mới

được thử nghiệm từ năm học 2019 - 2020 cho tới nay.

Về không gian: Đề tài được áp dụng ở lớp 12A4 & 12C2 năm học 2019 -

2020. Lớp 12C2 & 12C5 năm học 2020 - 2021 tại Trường THPT Quỳ Hợp 3

Về nội dung: Đề tài đề cập đến các trò chơi được áp dụng trong quá trình

dạy học tự chọn Địa lí 12 tại trường THPT Quỳ Hợp 3.

4. Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết.

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.

- Phương pháp thống kê toán học.

- Phương pháp điều tra.

2

PHẦN II: NỘI DUNG

1. Cơ sở lý luận

1.1. Một số lí luận về dạy học tích cực

1.1.1. Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực)

Là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, tức là chú trọng phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là chú trọng phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động. Bảng 1.So sánh phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học tích cực

Đặc điểm Phương pháp DH truyền thống Phương pháp DH tích cực

Chủ thể Chủ yếu là giáo viên. Học sinh

Mối quan hệ GV có quan hệ một chiều với học sinh Mối quan hệ đa chiều. Giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh.

Mục tiêu Chú trọng nội dung, cách thức trình bày Chú trọng đồng đều cả nhận thức, kĩ năng thái độ. Trung tâm của hoạt động dạy học là học sinh

Nội dung Đóng

Dạy học có sự mở rộng kiến thức, dạy học có phân nhánh, đào sâu kiến thức.

Phương pháp Phương pháp truyền thống, thông báo, tái hiện kiến thức Có sự phối hợp giữa các phương pháp, đa dạng, linh hoạt với nhiều phương pháp dạy học khác nhau.

Đa dạng hơn, có thể sử dụng bất kì đồ vật nào phù hợp với nội dung để làm phương tiện. Phương tiện

Dạy học đơn điệu, nếu có cũng không phát huy được tính tích cực của học sinh, chủ yếu để minh họa. Sử dụng phương tiện để khai thác kiến thức, phát triển tư duy.

Lớp bài Hình thức tổ chức Đa dạng, linh hoạt với nhiều hình thức khác nhau

3

Đa dạng, linh hoạt

Kiểm tra đánh giá

Cứng nhắc. Chủ yếu kiểm tra xem học sinh ghi nhớ, tái hiện được bao nhiêu kiến thức Chú trọng kiểm tra khả năng vận dụng kiến thức và thông qua việc làm cụ thể.

Thực hiện dạy học tích cực không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp dạy học truyền thống. Trong hệ thống các phương pháp dạy học quen thuộc, được đào tạo trong các trường sư phạm ở nước ta hiện nay cũng có nhiều phương pháp tích cực. Các sách lí luận dạy học đã chỉ rõ, về mặt hoạt động nhận thức, thì các phương pháp hoạt động thực hành là “tích cực” hơn phương pháp trực quan, các phương pháp trực quan thì “tích cực” hơn phương pháp dùng lời.

Trong nhóm phương pháp dùng lời thì lời (lời của thầy, lời của sách) đóng vai trò là nguồn tri thức chủ yếu, đặc biệt là lời thầy giảng. Trong nhóm các phương pháp dùng lời cũng có sử dụng các phương tiện trực quan nhưng các phương tiện này chỉ đóng vai trò minh họa lời của thầy. Trong các phương pháp dùng lời, ngay cả những phương pháp tập trung vào GV như phương pháp thuyết trình cũng vẫn rất cần thiết.

Trong nhóm các phương pháp trực quan thì phương tiện trực quan được sử dụng như là nguồn chủ yếu dẫn đến kiến thức mới, lời của thầy đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn sự tri giác đến các tài liệu trực quan (mẫu vật, tranh ảnh, băng hình…) sự khái quát hóa các kết quả quan sát. Trong các phương pháp trực quan, học sinh dùng các giác quan để tri giác tài liệu do giáo viên trình diễn và dùng tư duy để rút ra kiến thức mới.

Trong nhóm các phương pháp thực hành, học sinh được trực tiếp thao tác trên đối tượng (quan sát bằng các dụng cụ địa lí, phân tích bản đồ, biểu đồ…) tự lực khám phá tri thức địa lí mới.

Muốn thực hiện dạy và học tích cực thì cần phát triển các phương pháp thực hành, các phương pháp trực quan theo kiểu tìm tòi từng phần hoặc nghiên cứu phát hiện.

Trong đổi mới phương pháp cần kế thừa, phát triển những mặt tích cực trong hệ thống phương pháp dạy học đã quen thuộc đồng thời phải học hỏi, vận dụng những phương pháp mới, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học ở nước ta để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.

1.1.2. Đặc điểm của các biện pháp dạy học tích cực

1.1.2.1.Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh

Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động “dạy”, song song là chủ thể của hoạt động “học” - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó học sinh được tự lực

4

khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp nhận những kiến thức đã được giáo viên sắp xếp. Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo.

Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ đơn giản truyền đạt kiến thức mà

còn hướng dẫn học sinh thực hiện.

1.1.2.2. Dạy và học coi trọng rèn luyện phương pháp tự học

Phương pháp dạy học tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một phương pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học.

Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh, với sự bùng nổ của khoa học và công nghệ phát triển nhanh như vũ bão, thì không thể nhồi nhét vào đầu óc học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều. Phải quan tâm, chú trọng hướng dẫn phương pháp học ngay từ bậc tiểu học và càng lên bậc học cao hơn.

Trong các phương pháp thì then chốt là phương pháp tự học. Nếu rèn luyện cho người học có được “phương pháp, kĩ năng, thói quen tự học”, thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, cuối cùng học tập sẽ được nhân lên gấp bội. Vì thế, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến “từ học tập thụ động sang tự học chủ động”,

1.1.2.3. Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

Phương pháp dạy học tích cực đòi hỏi sự cố gắng trí tuệ và nghị lực cao của mỗi HS trong quá trình tự lực giành lấy kiến thức mới. Ý chí và năng lực của HS trong một lớp không thể đồng đều tuyệt đối, vì vậy buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ và tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập. Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa càng lớn. Việc sử dụng phương tiện nghe nhìn, máy vi tính trong nhà trường càng rộng rãi sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và năng lực học tập của mỗi học sinh.

Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi kiến thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi trường tiếp xúc với nhau giữa thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hơp tác giữa các cá nhân trên con đường lĩnh hội kiến thức. Trong kiểu dạy học thông báo, giải thích - minh họa, thông tin đi từ thầy đến trò, quan hệ giao tiếp chủ yếu là thầy - trò.

Trong phương pháp hợp tác nổi lên mối quan hệ giao tiếp trò - trò. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến của mỗi cá nhân được điều chỉnh, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới, bài học

5

vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi cá nhân và của cả lớp. Từ xưa cha ông ta đã có câu “Học thầy không tày học bạn”.

Trong giáo dục, công việc hợp tác tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường, sử dụng phổ biến nhất là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ, từ 4 - 6 người. Hoạt động trong tập thể nhóm sẽ làm cho từng thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội. Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ chẳng thể có hiện tượng ỷ lại, năng lực của mỗi thành viên được thổ lộ, uốn nắn, phát triển.

Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; chính vì thế năng lực hợp tác phải là một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải hình thành cho học sinh.

1.1.2.4 Kết hợp đánh giá của giáo viên với sự tự đánh giá của trò

Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và sắp điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên.

Trước đây quan niệm về đánh giá còn phiến diện: GV giữ độc quyền về đánh giá, HS là đối tượng được đánh giá. Trong dạy học theo hướng phát huy vai trò tích cực chủ động của người học, nếu xem việc rèn luyện phương pháp tự học để chuẩn bị cho HS khả năng học tập liên tục suốt đời như một mục tiêu giáo dục thì GV phải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học…

Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích ứng với đời sống xã hội, hòa nhập và phát triển cộng đồng, việc kiểm tra đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích óc sáng tạo, phát hiện những sự chuyển biến thái độ và xu hướng hành vi của HS trước những vấn đề của đời sống cá nhân, gia đình, cộng đồng, rèn luyện khả năng phát hiện và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong các tình huống thực tế.

Với sự trợ giúp của các thiết bị, phương tiện, việc kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một vấn đề khó khăn đối với giáo viên, song cho nhiều thông tin kịp thời hơn để giáo viên điều chỉnh hoạt động dạy hoạt động học.

1.1.2.5 Vai trò chỉ đạo của giáo viên

Từ dạy và học bị động chuyển sang dạy học theo hướng phát triển năng lực, giáo viên không còn đóng vai trò thuần tuý là người truyền đạt tri thức, mà giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lĩnh hội nội kiến thức, hình thành kĩ năng.

Trên lớp, học trò hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, thiết kế các hoạt động giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học bị động, thì mới có khả năng thực hiện các hoạt động trên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, cổ vũ, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi háo hức, tranh cãi rầm rộ của học trò. 6

Điều này đòi hỏi giáo viên phải có trình độ chuyên sâu, có năng lực sư phạm lành nghề mới có khả năng tổ chức, chỉ dẫn các hoạt động của học trò mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên.

1.2. Một số lí luận về phương pháp trò chơi

Phương pháp dạy học trò chơi là phương pháp giáo viên thông qua việc tổ chức các trò chơi có liên quan đến nội dung bài học, có tác dụng phát huy tính tích cực nhận thức, gây hứng thú học tập cho học sinh. Qua trò chơi học sinh tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, đồng thời qua trò chơi phát triển tính tự giác.

Trò chơi địa lý trong dạy và học ở trường THPT là trò chơi học tập, có tác dụng mở rộng và củng cố hiểu biết kiến thức, rèn luyện các kỹ năng địa lý của học sinh. Ngoài ra, trò chơi địa lý còn có vai trò tạo hứng thú học tập, niềm tin và tình cảm của học sinh được nâng cao. Và đối với các em học sinh, môn Địa lý trở nên sinh động, gần gũi, thiết thực hơn, giúp các em yêu thích môn Địa lý hơn.

1.2.1. Một số đặc điểm của phương pháp trò chơi

- Phương pháp trò chơi sử dụng các trò chơi có mục đích và nội dung dạy

học rõ ràng, sử dụng các loại hình trò chơi gắn liền với nội dung bài học.

- Vai trò của giáo viên và học sinh trong phương pháp trò chơi:

+ Giáo viên là người thiết kế và tổ chức thực hiện trò chơi.

+ Học sinh là chủ thể tham gia các trò chơi đó.

- Phương pháp trò chơi dễ kết hợp với các phương pháp dạy học khác

(phương pháp đàm thoại, phương pháp thảo luận)

- Phải có hoạt động tổng kết, kết luận để nêu rõ được những kiến thức, kĩ

năng mà người học đạt được.

- Trò chơi có thể được thực hiện cho dạy học toàn lớp hoặc nhóm học sinh.

1.2.2 Vai trò của phương pháp trò chơi

- Học sinh phải sử dụng các giác quan để thực hiện các thao tác chơi, nhiệm vụ chơi do đó mà các giác quan của học sinh trở nên tinh nhạy hơn, ngôn ngữ mạch lạc hơn và tư duy trừu tượng cũng được phát triển.

- Sử dụng các trò chơi trong học tập còn làm thay đổi hình thức học tập, làm cho không khí lớp học thoải mái và dễ chịu hơn. Đặc biệt, qua trò chơi học tập học sinh tiếp thu bài tự giác, tích cực hơn, được củng cố và hệ thống hóa kiến thức. Trò chơi sẽ giúp học sinh biết cách nhìn nhận, phân tích, so sánh khái quát kiến thức đã lĩnh hội trước đó. Thông qua trò chơi sẽ giúp học sinh có ấn tượng mạnh mẽ về kiến thức đó, vì thế mà học sinh nắm bắt bài nhanh hơn.

- Học sinh sẽ khắc sâu kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách vững chắc. Đây là cơ sở để giúp học sinh dễ dàng phát hiện ra kiến thức và ghi nhớ kiến thức của

7

bài học.

- Phương pháp trò chơi giúp học sinh học tập một cách chủ động và có sự tự

tin hơn vào bản thân mình khi tìm ra được tri thức mới của bài học.

1.2.3 Nguyên tắc thực hiện trò chơi địa lí

Để có một trò chơi đúng nghĩa và bổ ích phải hội tụ 3 yếu tố sau:

- Xây dựng bầu không khí vui tươi, sống động, thu hút tất cả mọi người

cùng tham gia.

- Rèn luyện kỹ năng phản ứng nhanh, tháo vát, quyết đoán...

- Giáo dục chiều sâu: thông qua các trò chơi giúp cho các em học sinh nhận

thức được tinh thần đoàn kết, tình đồng đội và kỷ luật tập thể, tính trung thực.

Để thực hiện trò chơi địa lý cần thực hiện những nguyên tắc sau:

- Tổ chức trò chơi địa lý phải phù hợp với đặc điểm tâm lý, trình độ nhận thức và hoàn cảnh học tập của học sinh, phù hợp với điều kiện vật chất và không gian, thời gian thực hiện.

- Nội dung trò chơi là nội dung địa lý hoặc có liên quan trực tiếp, giúp mở

rộng, nâng cao kiến thức, kỹ năng địa lý.

- Trò chơi địa lý tuy mang tính tự nguyện tham gia nhưng phải đề cao tinh thần kỷ luật, ý thức tập thể của học sinh; đề cao được vai trò, tính tích cực, sáng tạo của các cá nhân học sinh.

1.2.4. Quy trình thiết kế và tổ chức trò chơi

1.2.4.1 Quy trình thiết kế trò chơi dạy học

- Giai đoạn chuẩn bị:

+ Xác định mục tiêu dạy học: Đây là nhiệm vụ quan trọng nhất có tính chất

quyết định trò chơi được thiết kế phải đạt được các mục tiêu bài học.

+ Xây dựng và lựa chọn trò chơi: Chọn trò chơi phải phù hợp nội dung và

khả năng thích ứng với bài học.

+ GV xác định: số nhóm chơi, số người chơi và các đồ dùng, phương tiện,

phục vụ cho trò chơi.

- Giai đoạn thực hiện:

+ Trình bày trò chơi: Giải thích rõ ràng, dễ hiểu, dẫn dắt người chơi từng bước để tạo sự hấp dẫn. Nếu cần thiết có thể chơi thử. GV phải quán triệt sự nghiêm túc của HS khi tham gia.

+ Điểu khiển trò chơi: GV hoặc HS do GV cử ra điều khiển trò chơi. Đề cao tinh thần tự giác, thẳng thắn trung thực. Phải biết dừng trò chơi đúng lúc, đặc biệt chú ý đảm bảo thời gian như dự kiến.

8

- Giai đoạn kết thúc:

+ Đánh giá những ưu khuyết điểm của trò chơi cần thêm bớt gì không? về

luật lệ, cách chơi, tính hấp dẫn, sự giáo dục của trò chơi đến đâu?

1.2.4.2 Quy trình tổ chức thực hiện.

Bước 1: Giáo viên giới thiệu tên, mục đích của trò chơi.

- Tên trò chơi phải hấp dẫn, dễ hiểu sẽ lôi cuốn các em tham gia chơi

- Mục đích trò chơi sẽ giúp các em định hình được mình tham gia chơi để làm gì? Mình sẽ tìm thấy kiến thức gì qua trò chơi này? Từ đó học sinh xác định được nhiệm vụ của mình.

Bước 2: Hướng dẫn chơi. Bước này bao gồm những việc làm sau:

- Tổ chức người tham gia trò chơi: Số người tham gia, số đội tham gia (mấy

đội chơi), quản trò, trọng tài.

- Các dụng cụ dùng để chơi (giấy khổ to, quân bài, thẻ từ, cờ…)

- Cách chơi: Từng việc làm cụ thể của người chơi hoặc đội chơi, thời gian

chơi, những điều người chơi không được làm…

- Cách xác nhận kết quả và cách tính điểm chơi, cách giải của cuộc chơi.

(nếu có)

Bước 3: Thực hiện trò chơi.

+ Học sinh tham gia trò chơi dưới sự giám sát của GV hoặc HS do giáo viên

và lớp bầu ra.

+ Khi HS chơi GV phải quan sát để biết được cử chỉ thái độ để từ đó có cách

giáo dục phù hợp.

+ Trong quá trình chơi GV có thể chuyển hướng so với dự kiến ban đầu một

ít, GV nên linh động khéo léo dẫn dắt. Đừng nên quá nguyên tắc, cứng nhắc.

+ GV đóng vai trò là người trọng tài phải xử lí tình huống khách quan,

không thiên vị.

Bước 4: Nhận xét sau cuộc chơi.

Bước này bao gồm những việc làm sau:

- Giáo viên hoặc trọng tài là HS nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của

từng đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm.

+ Trọng tài công bố kết quả chơi của từng đội, cá nhân và trao phần thưởng

cho đội đoạt giải.

+ Tổng kết kiến thức, kỹ năng trong bài học mà trò chơi đã thể hiện.

1.2.5 Đặc trưng và hình thức của trò chơi

Trò chơi địa lý có hai đặc trưng quan trọng:

9

- Nội dung trò chơi phải nằm trong chương trình địa lý THPT, có mở rộng, củng cố và vận dụng kiến thức địa lý bậc THPT, vừa phải có tác dụng gây hứng thú học tập, kích thích tinh thần học tập và phát huy năng lực chuyên biệt về bộ môn địa lý của học sinh.

- Trò chơi địa lý phải mang đầy đủ các tính chất của trò chơi thông thường, đó là: có luật chơi, hình thức chơi, có sự thi đua và gây hứng thú giữa các cá nhân, các nhóm, các tổ học sinh.

Hình thức trò chơi rất đa dạng, phong phú. Tùy vào quy mô, đối tượng học sinh, chương trình địa lý ở các khối lớp khác nhau, điều kiện cơ sở vật chất chúng ta có thể tổ chức được những trò chơi phù hợp với học sinh.

- Quy mô nhỏ (số lượng học sinh trong lớp học - 1 lớp, không gian tổ chức là lớp học): chúng ta có thể tổ chức trò chơi mang tính cá nhân, nhóm nhỏ 5-10 học sinh trong một lượt chơi như: Ai nhanh hơn, đối đáp, giải ô chữ, câu hỏi ba dữ kiện, tôi là nhà thông thái...... Đây là những trò chơi giáo viên có thể tổ chức trong lớp học, thời gian thực hiện ngắn, trong vài phút củng cố bài, trong những tiết học có nội dung bài học dễ hiểu và ngắn hoặc trong tiết ôn tập địa lý.

- Quy mô lớn (số lượng học sinh đông): chúng ta có thể tổ chức những trò chơi, hoạt động ngoại khóa có quy mô lớn như: Lễ hội địa lý, CLB địa lý... Đây là những hình thức tổ chức trong phòng lớn (hội trường) và ngoài trời, thời gian thực hiện khá dài.

1.2.6 Phân loại trò chơi

Trò chơi Địa lí rất đa dạng, phong phú. Trò chơi có thể tiến hành ở đầu giờ với mục đích khởi động, tạo hứng thú và tâm lí sẵn sàng cho tiết học. Tuy nhiên, nội dung trò chơi cần thiết phải hướng đến nội dung bài học, dựa trên những hiểu biết sẵn có của học sinh. Trò chơi cũng được tiến hành trong giờ hoặc cuối giờ học, được coi như là một nội dung bài học góp phần củng cố bài. Trò chơi được tiến hành nhằm mục đích giúp học sinh hào hứng với việc khám phá kiến thức mới và chính bản thân nội dung trò chơi cũng là những kiến thức mới, góp phần phát huy sự nhanh nhạy, quyết đoán của người chơi, phát huy tính tập thể của nhóm lớp, có ý nghĩa lớn trong việc hình thành các kĩ năng sống, nhân cách của học sinh thông qua biểu hiện đơn giản nhất là tôn trọng người chơi, lắng nghe đáp án và phản biện một cách hợp lí.

Thông thường trong môn Địa lí người ta chia trò chơi thành 3 nhóm lớn dựa

vào phương tiện và cách thức thực hiện:

- Nhóm trò chơi dùng lời.

Với nhóm trò chơi dùng lời, giáo viên lúc này chủ yếu có nhiệm vụ là đọc câu hỏi, học sinh trả lời và giáo viên sẽ là người công bố đáp án, hỏi đáp để giúp học sinh tái hiện hoặc củng cố kiến thức.

Ở trò chơi này, giáo viên là người linh hoạt trong việc dùng ngôn ngữ, động

10

tác cơ thể hoặc di chuyển liên tục nhằm thu hút sự chú ý của học sinh, giúp tiết học trở nên sinh động.

Các loại trò chơi dạng này rất phong phú, có thể kể tên một số trò chơi phổ

biến như: trò chơi trả lời nhanh, trò chơi đoán từ...

- Nhóm trò chơi có sử dụng phương tiện trực quan.

Giáo viên sử dụng các phương tiện trực quan trong địa lí phổ biến là tranh ảnh, bản đồ, tập bản đồ, phim, sơ đồ, mô hình. Với các phương tiện này, giáo viên kết hợp dùng lời để mô tả, yêu cầu học sinh quan sát, nghiên cứu, ghi chép và trả lời nhằm tái hiện kiến thức, đánh giá, phản biện, giải thích các vấn đề địa lí.

Tùy theo bài học, đối tượng và mục đích của giáo viên mà phương tiện trực quan có thể sử dụng ở mức độ thời lượng sao cho hiệu quả và đảm bảo phát triển kĩ năng cho các em.

Một số trò chơi phổ biến với các phương tiện trực quan có thể kể đến như:

+ Trò chơi với Atlat (Atlat địa lí Việt Nam)

+ Trò chơi với bản đồ.

- Nhóm trò chơi có sử dụng công nghệ.

Trong nhóm trò chơi này, giáo viên phải sử dụng máy tính, máy chiếu hoặc

ti vi để thực hiện. Các trò chơi phổ biến bao gồm:

+ Trò chơi lật mảnh ghép: Bằng cách kết hợp giữa các hình ảnh và câu hỏi, học sinh sẽ phải trả lời các câu hỏi sau khi chọn số/chọn hình ảnh. Việc mở ra từng góc hình và đoán nội dung bị che giấu là điều học sinh rất hào hứng. Ngoài ra, với trò chơi lật hình và tìm các cặp giống nhau cũng có thể giúp học sinh phát huy khả năng ghi nhớ rất tốt.

+ Trò chơi hộp quà bí mật: Là trò chơi khá mới mẻ và tạo ra sự hứng thú cho học sinh bởi các hộp quà bí mật bên trong. Học sinh lựa chọn các hộp quà, tương ứng với mỗi hộp quà là 1 câu hỏi hoặc hộp quà may mắn bất ngờ, tương ứng với đáp án đúng thì phần quà sẽ được mở ra. Trò chơi này dành cho cá nhân hoặc các nhóm nhỏ.

+ Trò chơi rung chuông vàng: Đây là một trò chơi truyền hình quen thuộc với nhiều người, việc sử dụng hình thức của trò chơi truyền hình và thay vào đó là các câu hỏi địa lý các em học sinh sẽ rất hứng thú, không khí lớp học sôi nổi. Trò chơi này dành cho quy mô cả lớp học nên tất cả học sinh sẽ được tham gia trò chơi và thử năng lực của bản thân.

+ Trò chơi cờ cá ngựa: Trò chơi này được thiết kế từ trò chơi gắn liền với tuổi thơ của các em. Trò chơi này được chia làm 4 gói câu hỏi (4 ngựa có màu khác nhau) tương ứng với 4 đội chơi, mỗi câu trả lời đúng thì ngựa của đội đó sẽ tiến về đích nhanh hơn. Ngựa của đội nào tiến về đích trước đội đó sẽ chiến thắng.

11

Đây là trò chơi mang tính đồng đội, nên sẽ có sự hợp tác, gắn kết giữa các

em học sinh trong nhóm với nhau để hoàn thành nhiệm vụ của nhóm mình.

Căn cứ vào nội dung chương trình môn học cũng như điều kiện thực tế tại nơi tôi công tác (Trường THPT Quỳ Hợp 3), bản thân tôi lựa chọn nhóm trò chơi có sử dụng công nghệ thông tin để thiết kế trò chơi áp dụng trong dạy học cũng như trình bày trong đề tài sáng kiến kinh nghiệm này.

2. Cơ sở thực tiễn

Thực hiện Nghị quyết số 29 - NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về giáo dục và đào tạo là “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo”, chuyển từ giáo dục nhằm trang bị kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực người học. Trong lộ trình đổi mới thì đổi mới phương pháp dạy học là một trong những vấn đề cần được ưu tiên. Dạy học bằng phương pháp trò chơi được coi là một phương pháp dạy học hiện đại nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường.

Qua thực tế giảng dạy ở trường phổ thông, tôi nhận thấy việc sử dụng phương pháp trò chơi trọng dạy học nói chung và dạy học tự chọn Địa lí nói riêng đã mang lại hiệu quả cao. Đây là phương pháp quan trọng góp phần giúp các em học sinh tích cực, chủ động, hứng thú hơn, làm cho không khí lớp học thoải mái và dễ chịu hơn, giúp các em yêu môn học hơn, không cảm thấy môn Địa lí là một môn học khô khan, khó học nữa.

Đặc biệt đối với các em học sinh lớp 12, sắp tới các em phải trải qua kì thi THPT Quốc gia theo hình thức trắc nghiệm. Trong môn thi này, học sinh sẽ phải trả lời 40 câu hỏi trắc nghiệm khách quan 4 lựa chọn trong thời gian 50 phút. Với hình thức thi mới này, cách ôn tập và cách học của học sinh cũng thay đổi, việc cho các em tiếp cận với các câu hỏi trắc nghiệm có nội dung và cách thức bám sát cấu trúc của Bộ Giáo Dục thông qua các trò chơi phần nào đó sẽ giúp các em làm quen với dạng câu hỏi, có thể nhớ nhanh, nhớ nhiều các kiến thức cơ bản, đồng thời phát triển tư duy.

Sử dụng trò chơi trong các tiết dạy tự chọn với tôi thực ra là bước sử dụng trò chơi trong ôn tập kiến thức đã học, bởi đây là những hoạt động quen thuộc, được học sinh yêu thích và đã đạt được một số kết quả nhất định trong năm vừa qua.

3. Thực trang về dạy học môn địa lý ở trường THPT Quỳ Hợp 3 hiện nay

3.1. Về chương trình học

Nội dung môn Địa Lý có khối lượng kiến thức rất lớn. Mặc dù trong những năm qua, nhờ giảm tải từ phía Bộ giáo dục mà nội dung Địa lí 12 đã giảm đi 9 bài là bài 4, 5, 21, 25, 34, 40, 43, 44, 45 và có một số mục ở một số bài khác cũng được giảm bớt, đặc biệt là những nội dung liên quan đến thế mạnh và hạn chế của vùng kinh tế. Không chỉ có phần kiến thức lí thuyết, các học sinh còn cần thành

12

thạo cả các kĩ năng địa lí phổ biến khác là đọc lược đồ, đọc bản đồ, phân tích bảng số liệu, vẽ biểu đồ, giải thích sự phát triển và phân bố các đối tượng địa lí… Với lượng kiến thức và kĩ năng nhiều như thế, nhiều học sinh ngần ngại trong việc chọn môn Địa lí để thi tốt nghiệp như những năm trước cũng là điều dễ hiểu.

Đặc biệt ở các trường THPT, các tiết tự chọn Địa Lý là thời lượng giáo viên ôn tập, củng cố và khắc sâu thêm kiến thức của các tiết học chính, nên việc lựa chọn phương pháp giảng dạy như thế nào để đạt hiệu quả cao, tạo hứng thú cho học sinh, tránh việc nhàm chán, khô khan là một vấn đề đặt ra với chúng tôi.

Vì vậy, việc sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học tự chọn Địa lí 12 nhằm nâng cao hiệu quả dạy học cũng như góp phần giúp các em học sinh ôn tập là rất cần thiết.

Kết quả thi tốt nghiệp năm trước:

Bảng 2. Kết quả thi tốt nghiệp năm học 2018 - 2019 của lớp 12C2.

< 2.5 Điểm 2.5 - 4.75 5.0 - 6.25 6.5 - 7.75 ≥ 8

h n i s c ọ h ố S

Điểm

Số học sinh 2 13 15 7 1

Biểu đồ 1. Biểu đồ thể hiện điểm thi theo nhóm môn Địa lí năm học 2018 - 2019

Điểm

Điểm

3.2 Đối với người dạy

Trong thực tiễn giảng dạy việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực nói chung, phương pháp trò chơi nói riêng vẫn còn hạn chế bởi tác động của nhiều yếu tố. Vẫn còn một số giáo viên cho rằng tiết tự chọn là tiết ôn tập lại kiến thức của các tiết chính nên lười đầu tư nội dung, phương pháp giảng dạy mới. Đồng thời để lựa chọn, thiết kế một hoạt động trò chơi vừa có tác dụng khơi dậy hứng thú học tập trong học trò, vừa gắn với nội dung học tập và tiếp cận các câu hỏi thi THPT Quốc Gia là vấn đề khó đối với một số giáo viên. Đặc biệt là các loại trò chơi có ứng dụng công nghệ thông tin còn đòi hỏi ở người giáo viên kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin thành thạo, cơ sở vật chất tại các trường phổ thông phải đáp ứng 13

được yêu cầu, thì vấn đề này lại càng khó khăn hơn.

Một số giờ học nhàm chán, các em không hào hứng tham gia các hoạt động do giáo viên tổ chức, hiệu quả thu được sau các giờ dạy chưa cao. Thiết nghĩ, với vai trò là giáo viên, người khơi dậy ngọn lửa tâm hồn trong các em thì việc nghiên cứu, lựa chọn và áp dụng các phương pháp tích cực như trò chơi vào các tiết học là điều cần làm với chúng tôi.

3.3. Đối với người học

Địa lí vốn là môn học có kiến thức gắn liền với thực tiễn, thay đổi hàng ngày theo sự phát triển của xã hội, cho nên Địa lí thực sự gần gũi và có vai trò quan trọng trong việc hình thành thế giới quan cho học sinh. Thế nhưng, vẫn có một bộ phận học sinh còn thờ ơ với việc học tập bộ môn, nhiều phụ huynh coi nhẹ tầm quan trọng của Địa lí. Đặc biệt đối với học sinh lớp 12, lượng kiến thức rất nhiều, lại liên quan đến thi tốt nghiệp Trung học phổ thông nên nhiều học sinh cảm thấy ngán sợ, ngại học thuộc, ghi nhớ kiến thức.

Sau các tiết học nặng nề, với khối lượng kiến thức rộng lớn luôn tạo cho các em tâm lý học tập mệt mỏi, căng thẳng. Các em luôn mong muốn có những hoạt động học tập thư giãn, thoải mái nhất thì chỉ phương pháp trò chơi sẽ đáp ứng được nguyện vọng đó của các em.

Trò chơi sẽ làm thay đổi không khí học tập của lớp. Học sinh sẽ thấy vui, cởi mở và thư thái hơn. Bên cạnh đó trò chơi học tập còn tạo cho các em khả năng quan sát tốt, tinh thần đoàn kết, giao lưu trong tổ, lớp tạo tính chủ động, tự tin, mạnh dạn, sáng tạo cho các em. Mặt khác trò chơi học tập là con đường thuận lợi để học sinh khắc sâu kiến thức khi học.

4. Sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí

4.1. Thái độ của học sinh khi tham gia trò chơi

Thái độ của học sinh 12 khi tham gia học tự chọn bằng trò chơi địa lí ở

trường THPT Quỳ Hợp 3 năm học 2020 - 2021

Năm học 2020 - 2021, lớp 12C2 và 12C5 có 79 học sinh. Để thực hiện

nghiên cứu, tôi đã tiến hành khảo sát và thu được kết quả qua bảng dưới đây: Bảng 3. Thái độ của học sinh lớp 12 khi tham gia học tập bằng trò chơi địa lí ở trường THPT Quỳ Hợp 3 năm học 2020 - 2021

Thái độ Số lượng học sinh Tỉ lệ (%)

Rất thích, hào hứng 75 95

Thích 4 5

Bình thường 0 0

14

Không thích 0 0

Không quan tâm 0 0

Tổng 79 100

Biểu đồ 2. Biểu đồ thể hiện cơ cấu thái độ của học sinh lớp 12 khi tham gia học tập bằng trò chơi địa lí ở trường THPT Quỳ Hợp 3 năm học 2020 - 2021 Như vậy, hầu hết học sinh đều thích và rất thích trò chơi trong các tiết học có tới 100 % học sinh được hỏi đều tỏ ra rất thích và thích. Việc sử dụng trò chơi thường xuyên ở trên đã tạo được tác động tích cực đối với học sinh.

4.2. Tác động của trò chơi đối với học sinh

Tác giả đã tiến hành khảo sát nhằm đánh giá toàn diện hơn về tác động của

trò chơi đến việc học tập bộ môn.

Kết quả được thể hiện trong bảng dưới đây:

15

Bảng 4. Tác động của trò chơi trong việc học tự chọn môn Địa lí 12 bằng trò chơi ở trường THPT Quỳ Hợp 3 năm học 2020 - 2021.

Đồng ý Hoàn toàn đồng ý Không đồng ý Hoàn toàn không đồng ý

Tác động Tỉ lệ Tỉ lệ Tỉ lệ Tỉ lệ

Số lượng Số lượng Số lượng Số lượng % % % %

66 83,5 13 16,5 0 0 0 0 Yêu thích học tập bộ môn hơn

Hiểu bài hơn 64 81 15 19 0 0 0 0

73 92,4 6 7,6 0 0 0 0 Hào hứng tham gia học tập

Nhớ bài lâu hơn 72 91,1 7 8,9 0 0 0 0

73 92,4 6 7,6 0 0 0 0 Tăng cường hợp tác

Qua bảng trên, có thể nhận thấy, trò chơi đang có tác động rất tích cực đến

các em học sinh.

Tất cả 100% đều yêu thích học tập bộ môn hơn vì có trò chơi. Trong khi đó, có 19% học sinh đồng ý và có tới 81% học sinh hoàn toàn đồng ý với việc hiểu bài hơn nhờ có các trò chơi.

Có 100% học sinh cho rằng, trò chơi giúp cho các em hào hứng tham gia việc học tập và tới 91,1 % học sinh hoàn toàn đồng ý với việc sẽ nhớ bài lâu hơn sau khi chơi trò chơi liên quan đến phần kiến thức. Trò chơi cũng góp phần giúp học sinh tăng cường tính hợp tác thông qua các hoạt động thảo luận, trao đổi và liên kết lẫn nhau nhằm thực hiện yêu cầu cầu của trò chơi.

Rõ ràng, trò chơi có rất nhiều tác động tích cực trong việc học tập của học sinh.

5. Một số lưu ý khi thực hiện trò chơi

Trò chơi địa lý tuy hấp dẫn, dễ thực hiện, hình thức chơi đa dạng, phong phú và tính thu hút cao nhưng vẫn có hạn chế. Do đó, khi tổ chức trò chơi địa lý, giáo viên cần lưu ý những điểm sau:

- Giáo viên cần xác định rõ ràng mục đích của việc tổ chức trò chơi, trò chơi

phải đáp ứng được mục tiêu của bài học hoặc một phần của chương trình.

- Hình thức tổ chức trò chơi phong phú, đa dạng nên yêu cầu đặt ra là giáo viên phải lựa chọn hình thức trò chơi phù hợp với mục đích, nội dung bài học và đối tượng học sinh. 16

- Nên ứng dụng công nghệ thông tin vào thiết kế trò chơi để đơn giản hóa dụng cụ, phương tiện tổ chức trò chơi, làm phong phú hình thức tổ chức và tăng thêm tính hấp dẫn của trò chơi.

- Giáo viên khi tổ chức trò chơi cần phải chủ trì trò chơi (vừa làm ban tổ chức, vừa làm ban giám khảo) để đảm bảo tính công bằng, khách quan trong quá trình thực hiện trò chơi.

- Giáo viên cần có sự chuẩn bị tốt về nội dung, hình thức, phương tiện, phần

thưởng (nếu có).

- Sau mỗi trò chơi giáo viên phải nhận xét, tổng kết, đánh giá và không nên chú trọng nhiều đến chuyện thắng thua để nâng cao tinh thần cộng tác, đoàn kết và học hỏi nhau cùng tiến bộ.

- Không lạm dụng phương pháp: Mỗi phương pháp dạy học đều có ưu nhược điểm, không có tính vạn năng. Việc sử dụng phương phải phù hợp với nội dung học tập, đặc điểm đối tượng, mục đích dạy học… Sự lạm dụng phương pháp tổ chức trò chơi sẽ gây nhàm chán, thậm chí phản tác dụng.

6. Kết quả đạt được.

Qua thời gian vừa nghiên cứu cơ sở lý luận vừa áp dụng vào một số trò chơi trong chương trình tự chọn Địa lí 12, mà cụ thể là ở các lớp 12A4 & 12C2 năm học 2019 - 2020; lớp 12C2 & 12C5 năm học 2020 - 2021, tôi nhận thấy các trò chơi được áp dụng có hiệu quả dạy - học rõ rệt.

6.1. Kết quả về mặt định tính.

- Tôi thấy ở các tiết dạy có sử dụng phương pháp trò chơi các em học sinh tích cực, chủ động, hứng thú hơn, làm cho không khí lớp học thoải mái và dễ chịu hơn, với những biểu hiện như: các em sôi nổi, tích cực tham gia, trao đổi, hợp tác với nhau để thực hiện trò chơi.

- Các kiến thức mới hình thành, cũng như các kiến thức được ôn tập trong

tiết học dễ nhớ và nhớ lâu hơn.

- Các em được phát triển các năng lực quan sát, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực phán đoán, năng lực thu nhận thông tin, năng lực giao tiếp, năng lực tư duy sáng tạo…

- Một số trò chơi hình thành và phát triển ở các em kĩ năng mềm, kĩ năng giao tiếp, tự tin đứng trước đám đông (ví dụ: các em được làm MC của 1 trò chơi chương trình truyền hình như ai là triệu phú...).

- Học sinh phải sử dụng các giác quan để thực hiện các thao tác chơi, nhiệm vụ chơi do đó mà các giác quan của học sinh trở nên tinh nhạy hơn, ngôn ngữ mạch lạc hơn và tư duy trừu tượng cũng được phát triển.

6.2. Kết quả về mặt định lượng.

Qua việc thực hiện dạy học có sử dụng phương pháp trò chơi và sau tiết

17

dạy (ở cả hai lớp thực nghiệm và đối chứng) tôi nhận thấy kết quả học tập, kết quả thi tốt nghiệp năm học 2019 - 2020 và kết quả thi thử lần 1 năm học 2020 - 2021 giữa các lớp có sự khác nhau. Tôi đã thông kê, kết quả được thể hiện ở các bảng sau đây:

Bảng 5: Kết quả học tập năm học 2019 - 2020 giữa 2 lớp 12C2 và lớp 12C5

Giỏi Khá Yếu Trung bình Lớp Sĩ số SL % SL % SL % SL %

Lớp thực nghiệm (12C2) 38 13 34,2 25 65,8 0 0 0 0

h n i s c ọ h ố S

Xếp loại

Lớp đối chứng (12C5) 34 7 20,6 26 76,5 1 2,9 0 0

Biểu đồ 3. Biểu đồ thể hiện kết quả học tập của 2 lớp 12C2 và lớp 12C5 năm học 2019 - 2020 Bảng 6: Kết quả thi tốt nghiệp của 2 lớp 12C2 và 12C5 năm 2020.

Điểm thi Lớp sĩ số ≥ 8 % 5 - 7.9 % < 5 %

Lớp thực nghiệm (12C2) 38 4 10,5 33 86,9 1 2,6

Lớp đối chứng (12C5) 34 0 0 31 91,1 3 8,9

18

h n i s c ọ h ố S

Điểm

Biểu đồ 4. Biểu đồ thể hiện điểm thi tốt nghiệp giữa 2 lớp 12C2 và 12C5 năm 2020

Nhìn vào các bảng và sơ đồ trên cho thấy chất lượng tiết dạy có áp dụng

phương pháp trò chơi cao hơn hẳn so với tiết dạy không sử dụng.

Năm học 2019 - 2020 là năm học đầu tiên tôi mạnh dạn áp dụng phương pháp trò chơi vào dạy học tự chọn Địa lý 12 và kết quả có sự chênh lệch cả về điểm tổng kết và điểm thi tốt nghiệp năm 2020 giữa lớp áp dụng với lớp không áp dụng.

Tôi đã thực nghiệm ở 2 lớp 12C5 và 12C2 là hai lớp không chọn. Đối với lớp được áp dụng phương pháp này kết quả tổng kết cao hơn hẳn, có tới 34,2% học sinh đạt điểm từ 8.0 trở lên, cao hơn so với lớp không áp dụng 20,6%.

Năm học vừa qua là một năm đầy khó khăn vất vả với ngành giáo dục, khi cả thế giới đang đối mặt với dịch covid 19, thời gian và hình thức thi cũng có sự thay đổi. Đó là một khó khăn mà ngành giáo dục nói chung phải đối mặt, tuy vậy nhưng kết quả thi tốt nghiệp cũng khá cao, trung bình chung của lớp thực nghiệm (12C2) là 6,74 điểm. Trong khi đó lớp đối chứng (12C5) chỉ 6,26 điểm.

Tỉ lệ điểm cũng có sự khác nhau giữa 2 lớp, lớp 12C2 có trên 10% học sinh đạt điểm từ 8 trở lên, 86,9% học sinh từ 5 - 7.9 điểm và chỉ có duy nhất 1 em (2,6%) dưới điểm trung bình. So với 12C2 thì 12C5 không có học sinh nào đạt từ 8 điểm trở lên, có 91,9% học sinh điểm từ 5 - 7.9 điểm và có 3 học sinh (8,9%) điểm thi dưới trung bình.

Bảng 7: Kết quả thi thử THPT Nghệ An lần 1của 2 lớp 12C5 và 12C3 năm 2021

Điểm thi Lớp Sĩ số >7 % 5 - 7 % 2 - 4.9 % < 2 %

Lớp thực nghiệm (12C5) 41 1 2,4 25 61 15 36,6 0 0

19

h n i s c ọ h ố S

Điểm

Lớp đối chứng (12C3) 38 0 0 14 36,9 20 52,6 4 10,5

Biểu đồ 5. Biểu đồ thể hiện điểm thi thử THPT Nghệ An lần 1 của 2 lớp 12C5 và 12C3 năm 2021

Năm học 2020 - 2021 là năm thứ 2 áp dụng phương pháp trò chơi, bản thân tôi cũng rút ra được một số kinh nghiệm, kết quả thi thử THPT Nghệ An lần 1 do Sở Giáo Dục Đào Tạo Nghệ An tổ chức, tôi đã sử dụng kết quả của 2 lớp 12C3 và 12C5, hai lớp không chọn để đối chiếu. Có thể thấy lớp 12C5 điểm thi thử trung bình (5,1 điểm) cao hơn 0,9 điểm so với lớp 12C3 (4,2 điểm). Điểm trung bình từ 5 trở lên của lớp 12C5 cao gần gấp đôi so với 12C3, đồng thời điểm dưới 5 ít hơn hẳn và không có em nào điểm 2 trở xuống. Trong khi đó 12C3 có tới 4 em từ điểm 2 trở xuống.

Khi thiết kế các trò chơi bằng ứng dụng công nghệ thông tin bản thân tôi lựa chọn các trò chơi tạo hứng thú và dễ ghi nhớ nhất. Đồng thời các em học sinh lớp 12 có học tự chọn sẽ liên quan đến kì thi tốt nghiệp THPT Quốc Gia nên tôi đã sử dụng các câu hỏi trò chơi theo hình thức trắc nghiệm, với nội dung bám sát cấu trúc đề thi THPT Quốc Gia nhất, có một số câu hỏi tôi còn sưu tầm từ đề thi của các năm trước đó. Điều này đồng nghĩa với việc các em không chỉ học tự chọn thông qua các trò chơi mà các em còn được tiếp cận sớm nhất với dạng câu hỏi tương tự như đề thi. Một phần nào đó sẽ giúp các em làm quen với dạng câu hỏi, đồng thời phát triển tư duy nhận biết, xử lí các câu hỏi một cách nhanh nhất, tìm hiểu phương pháp trả lời câu hỏi trắc nghiệm sao cho hiệu quả cao.

Đây chỉ là một phần minh chứng về hiệu quả của việc sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học tự chọn Địa lí 12 mà tôi đã áp dụng. Tôi chắc chắn rằng khi chúng ta thực sự tìm tòi và biết vận dụng phương pháp này một cách hợp lý, linh hoạt và có sự đầu tư thì chúng ta sẽ thu được kết quả tốt trong việc dạy - học Địa lí nói riêng và các môn học khác nói chung.

20

PHẦN III: KẾT LUẬN

1. Đóng góp mới của đề tài

- Đề tài đưa ra được một số kinh nghiệm của bản thân về việc sử dụng trò

chơi trong dạy học tự chọn môn địa lí lớp 12.

- Góp phần đổi mới và đa dạng phương pháp dạy học,.

- Giúp học sinh hứng thú hơn, phát huy tính tích cực, tự giác, rèn luyện tư

duy cho học sinh thông qua việc học tự chọn địa lí lớp 12.

- Làm thay đổi hình thức học tập, làm cho không khí lớp học sôi nổi, thoải

mái dễ chịu hơn.

- Góp phần rất lớn trong việc hình thành phẩm chất và năng lực cho học sinh.

2. Tính khả thi của đề tài

- Trò chơi dễ sử dụng trong dạy học, thực hiện được ở tất cả các lớp, các

trình độ khác nhau và có thể áp dụng ở các khối lớp khác.

- Tính phổ biến: tất cả các đối tượng giáo viên, học sinh khi học tập và tìm

hiểu môn địa lí.

- Hình thức này có thể sử dụng giảng dạy được ở nhiều môn và nhiều cấp

học, kể cả tự nhiên và xã hội.

- Thiết kế trò chơi hay sử dụng trò chơi của các tác giả có thể dùng cho nhiều nhóm nội dung khác của môn Địa lí, đặc biệt là nội dung ngắn gọn, trả lời nhanh đòi hỏi HS vốn hiểu biết rộng.

3. Hướng phát triển của đề tài

- Đề tài không chỉ dừng lại ở việc sử dụng trò chơi trong dạy học tự chọn, mà trò chơi còn có thể ứng dụng trong nhiều nội dung khác nhau của các bước lên lớp, các hoạt động giáo dục hay sinh hoạt ngoài giờ lên lớp khác.

- Thiết kế trò chơi có thể tiến hành với nhiều thể loại trò chơi ứng dụng công

nghệ thông tin với tính tương tác cao hơn.

4. Kết luận

“Học mà chơi - Chơi mà học” là một phương châm được đề cao trong hoạt động dạy học do có tác dụng khơi dậy nhiều hứng thú cho người dạy lẫn người học, đồng thời tạo ấn tượng sâu sắc về bài học, giúp việc học nhẹ nhàng mà hiệu quả. Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng chính là đổi mới người thầy, biến những kiến thức hàn lâm, khô cứng trong sách giáo khoa đó trở thành những thông tin đơn giản, dễ tiếp thu. Đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục với mô hình “lấy học sinh làm trung tâm” là mục tiêu quan trọng mà toàn ngành đang ưu tiên hướng tới nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho tương lai. 21

Sử dụng trò chơi trong dạy học không chỉ khẳng định tính khoa học và nghệ thuật của hoạt động dạy học mà còn chứng tỏ tinh thần đam mê nghề nghiệp của giáo viên. Phương pháp này góp phần quan trọng trong việc hình thành phẩm chất và năng lực cho học sinh. Từ đó làm tăng hứng thú, động cơ học tập của học sinh và nâng cao hiệu quả đào tạo của nhà trường.

Thông qua phương pháp trò chơi các giờ học trở nên sôi nổi hơn, tăng cường tính hợp tác giữa các học sinh với nhau, góp phần hình thành các năng lực chuyên biệt và kĩ năng cần thiết cho học sinh.

Bên cạnh đó, phương pháp còn phần nào đó giúp các em lớp 12 tiếp cận sớm với các dạng câu hỏi thi THPT Quốc Gia, giúp các em tự tin hơn, không còn bỡ ngỡ trước các câu hỏi thi.

Có rất nhiều trò chơi với hình thức, quy mô phù hợp với bộ môn Địa lý, trong quá trình dạy học giáo viên Địa lý có thể tìm hiểu, dễ dàng khai thác hiệu quả và thực hiện các trò chơi kết hợp với các phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng dạy và học Địa lý ở bậc THPT.

Tuy nhiên để một giờ học thật sự có hiệu quả cũng đòi hỏi sự sáng tạo rất nhiều của giáo viên. Việc sử dụng phải phù hợp nội dung học tập, đặc điểm đối tượng, mục tiêu dạy học… Dạy đúng kiến thức Địa lí đã khó, dạy để học sinh yêu thích bộ môn lại càng khó hơn. Để học sinh yêu thích bộ môn, đòi hỏi mỗi giáo viên cần phải nỗ lực, quyết tâm, tìm tòi, nghiên cứu, trao đổi và học tập kinh nghiệm của đồng nghiệp.

Sử dụng trò chơi trong dạy học, nhất là môn địa lí, là hình thức không mới với nhiều giáo viên. Đặc biệt, trong năm học vừa qua, với bản thân tôi nói riêng và một số giáo viên nói chung đều đã áp dụng trò chơi trong dạy học hết sức tích cực và nhận được những phản hồi rất tốt, có kết quả khả quan từ phía học sinh. Tôi hi vọng đề tài của mình sẽ một phần nào đó mang đến cho các thầy cô và các em học sinh có thêm động lực, hứng khởi để học tập môn Địa Lý.

Trong quá trình tôi thực hiện đề tài chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót. Kính

mong quý thầy cô đóng góp ý kiến để đề tài hoàn thiện hơn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Quỳ Hợp, ngày 20 tháng 3 năm 2021

Tác giả

22

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Sách giáo khoa Địa lí lớp 12, NXB Giáo dục.

2. Công văn 3280 (2020), Phân phối chương trình THPT môn Địa lí, trường THPT

Quỳ Hợp 3, sở giáo dục Nghệ An

3. Chương trình giáo dục tổng thể, Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26

4. Đề thi THPT Quốc gia năm 2017, 2018, 2019 của Bộ giáo dục.

5. Kết quả thi THPT của trường THPT Quỳ Hợp 3 qua các năm.

6. Nguyễn Dược, Nguyễn Trọng Phúc, “Lí luận dạy học Địa lí” (phần đại cương), Nxb

Đại học quốc gia Hà Nội, 2001.

7. Nguyễn Đức Vũ - Phạm Thị Sen, “Đổi mới phương pháp dạy học địa lí ở trung học

phổ thông”. Nxb Giáo Dục, 2002.

tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

8. Nghị quyết số 29 - NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về giáo dục và

đào tạo

9. Phương pháp sử dụng trò chơi trong dạy học - Nguyễn Thị Bích Hồng.

10. Sách giáo viên địa lý 12 - NXB Giáo dục.

23

PHỤ LỤC

Phụ lục 1 PHIẾU ĐIỀU TRA THÁI ĐỘ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH KHI THAM GIA TRÒ CHƠI

1. Thông tin về học sinh

- Trường: …............................................................

- Lớp: …...................................................................

2. Em hãy đánh dấu () vào những ô mà bạn thấy đúng với bản thân:

2.1. Em có thích thầy (cô) sử dụng trò chơi học tập vào bài học tự chọn

Địa lí không?

 Rất thích

 Thích

 Bình thường

 Không thích

 Không quan tâm

2.2. Việc thầy (cô) sử dụng trò chơi học tập trong các tiết tự chọn giúp em

yêu thích học tập bộ môn hơn?

 Hoàn toàn đồng ý

 Đồng ý

 Không đồng ý

 Hoàn toàn không đồng ý

2.3 Học tập bằng phương pháp trò chơi giúp các em hiểu bài hơn, nhớ bài

lâu hơn?

 Hoàn toàn đồng ý

 Đồng ý

 Không đồng ý

 Hoàn toàn không đồng ý

24

2.4 Thầy (cô) sử dụng các trò chơi giúp các em hào hứng tham gia học

tập, hứng thú hơn với môn học?

 Hoàn toàn đồng ý

 Đồng ý

 Không đồng ý

 Hoàn toàn không đồng ý

2.5 Thông qua việc tham gia trò chơi giúp các em gắn kết, hợp tác với nhau hơn?

 Hoàn toàn đồng ý

 Đồng ý

 Không đồng ý

 Hoàn toàn không đồng ý

25

Phụ lục 2. GIÁO ÁN MINH HỌA

THẾ MẠNH VÙNG TRUNG DU MIỀN NÚI BẮC BỘ

VÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG.

I, MỤC TIÊU

1. Về kiến thức

Sau bài học, học sinh cần:

Nắm vững những thế mạnh của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ và vùng

Đồng bằng sông Hồng.

2. Về kĩ năng

Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng:

- Sử dụng bản đồ Atlat

- Phân tích sơ đồ các thế mạnh của vùng Đồng bằng sông Hồng.

3. Thái độ, hành vi

- Học sinh nhận thức được việc phát huy các thế mạnh của hai vùng này

không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà có ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc.

4. Định hướng phát triển năng lực

- Năng lực tưu duy

- Năng lực giao tiếp.

- Năng lực hợp tác.

- Năng lực giải quyết vấn đề.

- Năng lực sử dụng bản đồ, atlat.

II, CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH

1. Chuẩn bị của giáo viên

- Giáo án giảng dạy.

- Sử dụng tivi hỗ trợ giảng dạy.

2. Chuẩn bị của học sinh

- Chuẩn bị sách vở và dụng cụ học tập.

- Atlat địa lí Việt Nam

III, TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP

26

1. Ổn định tổ chức lớp: (1 phút)

2. Kiểm tra bài cũ: (Kết hợp từ tình huống xuất phát)

3. Tiến trình bài học

Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt Thời gian

A. Tình huống xuất phát

- Mục tiêu: Giúp học sinh gợi nhớ lại kiến thức đã học từ tiết học trước và tạo tâm thế tiếp nhận kiến thức mới.

- Phương pháp: trò chơi

- Phương tiện/kĩ thuật: phương tiện trực quan (hình ảnh)

5 phút GV: Cho học sinh quan sát nhanh một số hình ảnh (GV trình chiếu)

GV: Cho HS chơi trò chơi nhỏ: “Ai nhanh mắt, nhanh tay” quan sát về các đặc sản của Miền Bắc nước ta (10 giây)

- Gọi 2 học sinh lên bảng ghi tất cả các loại đặc sản mà các em quan sát được. Ai ghi nhanh, nhiều hơn (30 giây) sẽ là người chiến thắng.

? Theo các em, đây là những sản phẩm tiêu biểu của vùng nào?

HS: Trả lời

GV: Dẫn dắt vào bài

B. Hình thành kiến thức mới

*) Hoạt động 1: Tìm hiểu về thế mạnh của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ và vùng Đồng bằng sông Hồng

- Mục tiêu: Nắm vững những thế mạnh của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ và vùng Đồng bằng sông Hồng.

- Phương pháp/ kĩ thuật: trò chơi

- Hình thức tổ chức dạy học: cả lớp

- Tiến trình hoạt động:

I) Các thế mạnh của vùng 32 phút Bước 1: GV tổ chức hoạt động trò chơi “Rung chuông vàng”

- Giáo viên giới thiệu tên trò chơi.

- Hướng dẫn chơi:

+ Số người tham gia: cả lớp

+ Trọng tài: lớp trưởng và lớp phó quan sát các đáp án sai của các bạn

27

ghi trong bảng

+ Các dụng cụ dùng để chơi: bảng con, phấn, khăn lau, số thứ tự

- Luật chơi: GV (MC) sẽ chiếu và đọc thứ tự từng câu hỏi (câu 1 đến câu 20), mỗi câu hỏi thí sinh có 10 giây để suy nghĩ và ghi kết quả vào bảng con của mình.

Hết thời gian mỗi câu thí sinh đồng loạt giơ bảng của mình lên, GV công bố đáp án đúng.

Một số câu hỏi GV có thể yêu cầu HS giải thích và GV chuẩn kiến thức.

Những thí sinh có đáp án sai sẽ bị loại và rời vị trí di chuyển lên trên góc lớp.

Lưu ý: Khi số lượng thí sinh trên sàn đấu còn ít (dưới 5 thí sinh) thì sử dụng phần cứu trợ (tùy số lượng HS của từng lớp và số HS bị loại GV sử dụng các phương án cứu trợ khác nhau) để cứu các thí sinh bị loại quay lại sàn thi đấu.

Thí sinh trả lời đến câu hỏi số 20 sẽ chiến thắng và nhận được một phần quà từ GV

Bước 2: Thực hiện trò chơi

GV vừa làm MC vừa điều hành các hoạt động trong suốt quá trình tổ chức trò chơi.

Bước 3: Nhận xét sau trò chơi

- GV nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của HS, những việc làm chưa tốt của các trong quá trình thực hiện trò chơi để rút kinh nghiệm.

- GV công bố kết quả và trao phần thưởng cho người thắng cuộc.

28

- Tổng kết kiến thức, kỹ năng trong bài học mà trò chơi đã thể hiện.

Nhấn mạnh một số kiến thức, kĩ năng thông qua trò chơi

*) Hoạt động 3: Luyện tập

- Mục tiêu: Khắc sâu, củng cố kiến thức cơ bản cho học sinh.

- Phương pháp/kĩ thuật: Đàm thoại.

5 phút - Hình thức tổ chức dạy học: Cá nhân

- Tiến trình hoạt động:

GV: Củng cố nội dung kiến thức qua sơ đồ tư duy về thế mạnh của hai vùng.

*) Hoạt động 4: Vận dụng, mở rộng

- Mục tiêu: Mở rộng kiến thức cơ bản cho học sinh và liên hệ giải thích một số vấn đề.

- Phương pháp/kĩ thuật: Đàm thoại, gợi mở

3 phút - Hình thức tổ chức dạy học: Cá nhân

- Tiến trình hoạt động:

GV: đặt câu hỏi, gợi ý học sinh trả lời.

Dựa vào sơ đồ tư duy: Nêu mối quan hệ trong phát triển KT - XH giữa Trung du và miền núi Bắc Bộ và vùng Đồng bằng sông Hồng? (Thuận lợi giữa vùng này với vùng kia)

29

Phụ lục 3. HÌNH ẢNH CỦA HS KHI THAM GIA MỘT SỐ TRÒ CHƠI

30

31

32

33

Phụ lục 4. MỘT SỐ TRÒ CHƠI MINH HOẠ

34