intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THCS: Nâng cao kỹ năng thực hành trong dạy học thực nghiệm Hoá học 8

Chia sẻ: BÙI THỊ TƯỜNG VI | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:18

31
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích nghiên cứu đề tài là giúp học sinh học tập kinh nghiệm, tư duy sáng tạo để tìm tòi khám phá ra các chất và những tính chất của chúng. Giúp nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học và phát triển tư duy của học sinh. Kỹ năng thực hành giúp có đối chứng giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng làm việc với các chất, sản xuất ra chúng để phục vụ đời sống con người.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THCS: Nâng cao kỹ năng thực hành trong dạy học thực nghiệm Hoá học 8

  1. 1 I – MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài          Để bồi dưỡng cho học sinh năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề,  lý luận dạy học hiện đại khẳng định: Cần phải đưa học sinh vào vị trí chủ thể  hoạt động nhận thức, học trong hoạt động. Học sinh bằng họat động tự lực,  tích cực của mình mà chiếm lĩnh kiến thức. Quá trình này được lặp đi lặp lại  nhiều lần sẽ góp phần hình thành và phát triển cho học sinh năng lực tư duy  sáng tạo. Tăng cường tính tích cực phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong  quá trình học tập là một yêu cầu rất cần thiết, đòi hỏi người học tích cực, tự  lực tham gia sáng tạo trong quá trình nhận thức.  Nội dung chương trình hoá THCS đặc biệt là lớp 8 bao gồm hình thành các  khái niệm, định luật, ... rất trừu tượng đối với học sinh. Vì vậy nếu giáo viên  chỉ truyền thụ những lí thuyết cơ bản như sách giáo khoa thì học sinh rất thụ  động, việc tìm hiểu và phát triển kiến thức mới đơn điệu, dễ dẫn đến nhàm  chán. Như vậy để hình thành những khái niệm hoá học có lẽ hiệu quả nhất là  qua nghiên cứu các thí nghiệm, bởi đó là những sự vật, hiện tượng cụ thể mà  người giáo viên khó có thể dùng những từ ngữ nào để mô tả đầy đủ, cụ thể và  chính xác hơn. Và hoá học là môn khoa học thực nghiệm nên việc sử dụng thí  nghiệm hoá học để dạy học tích cực đó cũng là phương pháp đặc thù của bộ  môn . Tuy nhiên, muốn tiến hành được một thí nghiệm nào đó thì phải có sự lựa  chọn hoá chất phù hợp. Tại sao vậy? Bởi vì các chất khác nhau mặc dù có thể  cùng một loại hợp chất nhưng tính chất hoá học của chúng không giống nhau  hoàn toàn.        Sử dụng thí nghiệm để dạy học tích cực có những mức độ khác nhau. Tuỳ  theo mức độ mà thí nghiệm đó có thể là do học sinh tự thực hiện hoặc giáo viên  biểu diễn thí nghiệm để học sinh quan sát, mô tả hiện tượng, giải thích, và viết  các phương trình hoá học. Từ đó, học sinh rút ra nhận xét về tính chất hoá học,  qui tắc, định luật….Trong chương trình hoá học 8 có nhiều tiết giáo viên cần  tích cực sử dụng thí nghiệm trong việc giảng dạy thì tiết học mới đạt hiệu quả  cao hơn. Đặc biệt là sử dụng đồng thời các thí nghiệm đối chứng giúp học sinh  nắm bắt nhanh hơn và sâu sắc hơn.   Qua thực tiễn tìm hiểu đối tượng tôi nhận thấy học sinh tích cực hơn khi giờ  học có thí nghiệm và thí nghiệm đối chứng thì tinh thần học tập càng tốt, càng  hăng say, học sinh ít nói chuyện, chú ý bài, thích làm thí nghiệm, kiến thức tiếp  thu nhanh hơn. Song không chỉ đơn thuần là hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm  hay giáo viên biểu diễn thí nghiệm mà phải làm thế nào để một giờ học đạt  hiệu quả cao, phát huy hết vai trò của thí nghiệm, để qua đó phát huy tính chủ  động tích cực của học sinh. Bằng cách so sánh đối chiếu sẽ hình thành cho học  sinh những kiến thức cơ bản, phổ thông và cụ thể về Hoá học. Đó là vấn đề  làm tôi băn khoăn và cũng là lí do tôi chọn đề tài: “ Nâng cao kỹ năng thực  hành trong dạy học thực nghiệm Hoá học 8” để nghiên cứu. 2. Mục đích nghiên cứu
  2. 2 Kỹ năng thực hành giúp học sinh học tập kinh nghiệm, tư duy sáng tạo để tìm  tòi khám phá ra các chất và những tính chất của chúng. Giúp nâng cao lòng tin  của học sinh vào khoa học và phát triển tư duy của học sinh.  Kỹ năng thực hành giúp có đối chứng giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng làm  việc với các chất, sản xuất ra chúng để phục vụ đời sống con người.  3. Nhiệm vụ ­ Rèn luyện và nâng cao kỹ năng thực hành cho HS khối 8. ­ Nâng cao khả năng vận dụng kiến thức đã học trong thực nghiệm.  4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ­ Đối tượng nghiên cứu: Học sinh khối 8. ­ Phạm vi nghiên cứu: Trường THCS Đinh Tiên Hoàng. 5. Phương pháp nghiên cứu Trong đề tài này tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học:   Phương pháp thí nghiệm đối chứng. Phương pháp thí nghiệm kiểm chứng.  Phương pháp thí nghiệm biểu diễn. Phân tích lý thuyết, điều tra cơ bản, tổng kết kinh nghiệm sư phạm  Phương pháp thống kê toán học trong việc phân tích kết quả thực nghiệm  sư phạm II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận        Như Ăng ghen đã viết: “... trong nghiên cứu khoa học tự nhiên cũng như  lịch sử, phải xuất phát từ những sự thật đã có, phải xuất phát từ những hình thái  hiện thực khác nhau của vật chất; cho nên trong khoa học lý luận về tự nhiên,  chúng ta không thể cấu tạo ra mối liên hệ để ghép chúng vào sự thật, mà phải  từ các sự thật đó, phát hiện ra mối liên hệ ấy, rồi phải hết sức chứng minh mối  liên hệ ấy bằng thực nghiệm”.  Thí nghiệm biểu diễn do tự tay giáo viên làm, các thao tác rất mẫu mực  sẽ là khuôn mẫu cho học trò học tập và bắt chước, để rồi sau đó học sinh làm  thí nghiệm theo đúng cách thức đó. Như vậy, có thể nói thí nghiệm do giáo viên  trình bày sẽ giúp cho việc hình thành những kỹ năng thí nghiệm đầu tiên ở học  sinh một cách chính xác. Ngoài ra, thí nghiệm có đối chứng còn giúp giáo viên tiết kiệm thời gian  trên lớp mỗi tiết học, giúp giáo viên điều khiển hoạt động nhận thức của học  sinh, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh thuận lợi và có hiệu suất  cao hơn. Do đó chúng góp phần hợp lí hoá quá trình hoạt động của giáo viên và  học sinh nâng cao hiệu quả lao động của thầy và trò. Phân lọai hệ thống thí nghiệm hóa học ở trường THCS: Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên Thí nghiệm của học sinh
  3. 3 Thí nghiệm nghiên cứu bài mới. Thí nghiệm thực hành Thí nghiệm luyện tập trong quá trình vận dụng những  kiến thức mới lĩnh hội. Thí nghiệm ngoại khoá: các thí nghiệm ở nhà, vườn  trường, hay trong các buổi chuyên đề vui hoá học... 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Thuận lợi:      Được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của Phòng Giáo Dục, Ban giám hiệu đến  việc sử dụng, bảo quản đồ dùng dạy học, đặc biệt là dụng cụ thí nghiệm. Hàng  năm trang bị thêm những đồ dùng cần thiết, đảm bảo cho công tác dạy và học.     Cơ sở vật chất tương đối đảm bảo cho công tác thí nghiệm, có phòng thí  nghiệm hoá học riêng phục vụ nhu cầu thí nghiệm thực hành.     Chương trình hoá lớp  8 gồm 70 tiết: Trong đó có 7 tiết thực hành chính và 23  tiết có thí nghiệm với:            Thầy biểu diễn: 21 thí nghiệm Trò làm:           15 thí nghiệm (chủ yếu trong các bài thực hành) Số thí nghiệm trùng lặp:   lớp 8: 7 thí nghiệm 2.2. Khó khăn:     Học sinh mới bắt đầu làm quen với thí nghiệm hoá học nên còn bỡ ngỡ, lúng  túng, các thao tác chưa chính xác, chưa biết cách quan sát hoặc sợ làm thí  nghiệm, mất nhiều thời gian hướng dẫn. Một số học sinh còn lơ là gây mất trật  tự trong giờ học.      Diện tích phòng thí nghiệm nhỏ, hẹp ảnh hưởng đến quá trình làm thí  nghiệm: khó khăn khi di chuyển, mùi hoá chất....      Hoá chất sau khi thí nghiệm, chưa có nơi xử lí.     Mất nhiều thời gian chuẩn bị cho giờ học có thí nghiệm.  3. Phương pháp nghiên cứu sáng kiến * Những yêu cầu chung khi tiến hành bài dạy có thí nghiệm:   ­ Đảm bảo an toàn thí nghiệm: Luôn giữ hoá chất tinh khiết, dụng cụ thí  nghiệm sạch và khô, làm đúng kỹ thuật, luôn bình tĩnh khi làm thí nghiệm. Nếu  có sự cố không may xảy ra phải bình tĩnh tìm ra nguyên nhân, giải quyết kịp  thời. Không nên quá cường điệu hoá những nguy hiểm của thí nghiệm cũng như  tính độc hại của hoá chất làm học sinh quá sợ hãi.   ­ Đảm bảo thành công: Sự thành công của thí nghiệm tác động mạnh mẽ  đến lòng tin của học sinh vào khoa học.   ­ Số lượng thí nghiệm trong một bài vừa phải, lựa chọn thí nghiệm đối  chứng dễ thực hiện: tiết kiệm thời gian trên lớp. Giáo viên cần cải tiến các thí  nghiệm đối chứng theo hướng dễ thực hiện nhưng vẫn thành công và đảm bảo  tính trực quan, khoa học. ­ Kết hợp chặt chẽ thí nghiệm với lời giảng của giáo viên: Lúc này lời  gỉang của giáo viên không phải là nguồn thông tin mà là sự hướng dẫn quan sát, 
  4. 4 chỉ đạo sự suy nghĩ, so sánh, đối chiếu của học sinh để đi tới kết luận đúng  đắn, hợp lí, để qua đó các em lĩnh hội được kiến thức mới.       ­ Tạo mọi điều kiện để học sinh được trực tiếp thực hành và tất cả học  sinh đều được làm thí nghiệm, biết cách quan sát thí nghiệm, so sánh, đối chiếu  hiện tượng, trực tiếp làm việc với dụng cụ thí nghiệm, hóa chất, ở cả trong lớp  học, trong phòng thí nghiệm hoặc ngoài tự nhiên. Học sinh được đặt câu hỏi,  nêu ý kiến thắc mắc, và có thể tự giải đáp thắc mắc từ nghiên cứu thí nghiệm  có đối chứng hoặc được giải đáp qua sự giúp đỡ của giáo viên.Từ đó học sinh  có thể vận dụng linh họat những kiến thức, kỹ năng đã học để nhận thức những  kiến thức mới và có thể áp dụng kiến thức hóa học vào thực tế đời sống.       ­ Nghiên cứu phối hợp nhiều phương pháp dạy học khác nhau trong giờ  dạy. Kết hợp logic giữa biểu diễn thí nghiệm, hướng dẫn học sinh làm thí  nghiệm có đối chứng, quan sát hiện tượng, so sánh, thảo luận nhóm… từ đó  giúp học sinh biết nêu và giải quyết vấn đề tìm  ra kiến thức mới, củng cố kiến  thức cũ…sao cho phù hợp với từng loại bài, từng loại thí nghiệm…và phù hợp  với từng đặc điểm nhận thức của học sinh. ­ Phải xác định vị trí của từng loại thí nghiệm: Mỗi thí nghiệm có một vị  trí khác nhau trong dạy và học hóa học. Giáo viên cần xác định rõ vị trí của từng  loại thí nghiệm để áp dụng phù hợp vào các bài cụ thể. + Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên: là một trong những phương tiện  trực quan có hiệu quả trong dạy học hóa học. Nó được sử dụng trong những  trường hợp sau: Khi cần thực hiện nhanh trong thời gian hạn hẹp của bài lên lớp. Khi cần làm những thí nghiệm phức tạp mà học sinh chưa làm  được. Khi hoàn cảnh cơ sở vật chất thiếu, không đủ cho cả lớp cùng làm. Khi giáo viên muốn làm mẫu để chỉ dẫn cho học sinh những kỹ  thuật làm thí nghiệm. Khi biểu diễn thí nghiệm có đối chứng, giáo viên phải chú ý đồng thời hai  nhiệm vụ: Yêu cầu sư phạm về kỹ thuật biểu diễn thí nghiệm và phương pháp  dạy học khi biểu diễn thí nghiệm. + Thí nghiệm của học sinh:  Thí nghiệm để học bài mới: Việc sử dụng thí nghiệm của học  sinh khi nghiên cứu bài học mới cũng có thể sử dụng các phương  pháp tương tự như thí nghiệm biểu diễn của giáo viên. Nhưng Ở  đây giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, học sinh tự tay điều  khiển các quá trình biến đổi các chất, nên được rèn luyện cả kỹ  năng tư duy và kỹ năng thí nghiệm.  Từng học sinh làm.   Học sinh làm theo nhóm.  Thí nghiệm thực hành (Bài thực hành): là một hình thức tổ chức  học tập, trong đó học sinh phải tự làm một số thí nghiệm sau khi đã học xong 
  5. 5 một chương hay một phần của giáo trình. Sau khi kết thúc bài thực hành phải  đạt các mục đích sau: học sinh được: ­ Củng cố những kiến thức mới học được của chương. ­ Rèn luyện kỹ năng quan sát,so sánh, đối chiếu, giải thích hiện tượng, điều  chế, nhận biết các chất, kỹ năng sử dụng các dụng cụ thí nghiệm hay gặp nhất,  kỹ thuật làm việc an toàn với hóa chất, ý thức tổ chức kỷ luật, cẩn thận, chịu  khó, trung thực, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học.  * Các bước dạy bài thí nghiệm thực hành đạt yêu cầu:    Giáo viên đọc kỹ yêu cầu, nội dung, cách làm các thí nghiệm của bài thực  hành in trong sách giáo khoa để xác định xem thí nghiệm nào có thí nghiệm đối  chứng. Cùng nhân viên phòng thí nghiệm (nếu có) chuẩn bị các bộ thí nghiệm  cho mỗi em học sinh hoặc cho nhóm học sinh (2 hoặc 4 em).      Nếu các thí nghiệm đối chứng thì giáo viên cần soạn hướng dẫn thí  nghiệm, in và phát cho mỗi học sinh về nhà chuẩn bị học thuộc trước khi bước  vào học bài thực hành. Nội dung hướng dẫn đối với mỗi thí nghiệm đối chứng  phải nêu rõ mục đích của thí nghiệm, tác dụng của dụng cụ, dùng hóa chất nào  liều lượng bao nhiêu, thứ tự từng động tác thí nghiệm, phần nào cần tự mình  quan sát ghi hiện tượng số liệu giải thích vào tường trình.   Thực hiện bài thực hành tại phòng thí nghiệm: Toàn lớp cùng bắt đầu làm và  cùng kết thúc một thí nghiệm. Các thí nghiệm làm kế tiếp nhau đến hết, theo  các  bước sau: Bước 1: Ổn định tổ chức. Bước 2: Làm thí nghiệm: Giáo viên giới thiệu bộ dụng cụ để học sinh  biết sử dụng (hoặc yêu cầu học sinh nêu).  Bước 3: Làm thí nghiệm đối chứng : Giáo viên phát cách tiến hành đã in  sẵn cho từng em  Bước 4: Củng cố toàn bài: Giáo viên hệ thống lại mối liên hệ giữa các thí  nghiệm.  Bước 5: Nhận xét tinh thần làm việc trong bài thực hành. Hướng dẫn bài  tập thực hành về nhà (nếu có). Thu bản tường trình. Làm vệ sinh chuẩn bị cho  lớp khác vào phòng thí nghiệm.  * Chuẩn bị của giáo viên và học sinh:  Giáo viên:       Phải tích luỹ kinh nghiệm bằng cách làm thí nghiệm nhiều lần để  rút ra thiếu sót, và có thể cải tiến, sáng tạo. Nắm vững những kỹ thuật làm thí  nghiệm.     Phải chuẩn bị tỉ mỉ, chu đáo trước khi tiến hành trên lớp. Không nên chủ quan  cho rằng thí nghiệm đó đơn giản đã làm quen nên không cần thử trước.      Khi chuẩn bị cho thí nghiệm cần chuẩn bị chu đáo về mọi mặt như:  lượng hoá chất, nồng độ các dung dịch, nhiệt độ.......là các yếu tố rất quan  trọng.
  6. 6      Chuẩn bị dụng cụ cần đồng bộ, gọn, đảm bảo tính khoa học. Kiểm  tra số lượng, chất luợng dụng cụ, hoá chất và nên chuẩn bị những bộ dự trữ  nếu bị thiếu hay xảy ra sự cố, nghiên cứu tìm hiểu cách khắc phục những sự cố  xảy ra.        Giáo viên phải thực sự là người hướng dẫn, gợi mở để học sinh  chủ động thực hiện các hoạt động theo kế hoạch bài giảng. Tập trung theo dõi  uốn nắn giúp đỡ các nhóm gặp khó khăn....   Học sinh:         Chuẩn bị bài  chu đáo theo hướng dẫn của giáo viên.         Tập nghiên cứu thí nghiệm tại nhà, dự đoán hiện tượng của thí  nghiệm đối chứng.   * Một số thí dụ cụ thể: DÙNG THÍ NGHIỆM CÓ ĐỐI CHỨNG  Để hình thành khái niệm hóa học và giúp HS có kết luận đầy đủ, chính xác về một   qui tắc, tính chất của chất cần hướng dẫn HS sử dụng thí nghiệm hóa học ở dạng   đối chứng để làm nổi bật, khắc sâu nội dung kiểm tra mà HS cần chú ý.  Ví dụ 1: Thí nghiệm oxi tác dụng với lưu huỳnh.  Để làm rõ hiện tượng lưu huỳnh cháy trong  khí oxi mãnh liệt hơn trong không khí   ta có thể tổ chức cho HS làm thí nghiệm đối chứng.  ­ GV nêu vấn đề: Tiến hành thí nghiệm oxi tác dụng với lưu huỳnh bằng cách đốt   lưu huỳnh trong không khí và trong khí oxi. Vậy các em hãy quan sát thí nghiệm, so  sánh hiện tượng lưu huỳnh cháy trong không khí và trong khí oxi.  ­ GV tiến hành thí nghiệm:    + Lấy hai bình thủy tinh có thể tích như nhau, một bình chứa khí oxi, một bình   chứa không khí.      + Lấy hai muỗng sắt cho vào hai muỗng sắt lượng bột S như  nhau. Đưa hai   muỗng sắt chứa lưu huỳnh bột vào ngọn lửa đèn cồn, khi lưu huỳnh bắt đầu cháy  đưa 1 muỗng sắt vào lọ  chứa không khí, 1 muỗng sắt vào lọ  chứa khí oxi (Hình   2.1)                                       Hình: Lưu huỳnh tác dụng với oxi         A. Đốt lưu huỳnh trên đèn cồn.  B. Đốt lưu huỳn trong không khí và oxi  ­ Yêu cầu HS quan sát, nhận xét trả lời các câu hỏi:
  7. 7      + So sánh hiện tượng lưu huỳnh cháy trong khí oxi và trong không khí? Giải  thích?     + Lưu huỳnh cháy trong khí oxi và trong không khí có tạo ra sản phẩm giống   nhau hay không?  ­ GV hướng dẫn HS mô tả hiện tượng và nhấn mạnh       + Lưu huỳnh cháy trong oxi mãnh liệt hơn, ngọn lửa sáng xanh, lưu huỳnh cháy  trong không khí ngọn lửa xanh mờ. Giải thích lưu huỳnh cháy trong oxi mãnh liệt   hơn vì lượng oxi tác dụng với lưu huỳnh nhiều hơn. Trong không khí oxi chiếm   20% nên lượng oxi ít hơn, phản ứng xảy ra kém mãnh liệt hơn.    + Lưu huỳnh tác dụng với oxi tạo khí lưu huỳnh đioxit SO 2 không màu có mùi  hắc. Ta có thể xác nhận sản phẩm phản  ứng lưu huỳnh cháy trong không khí và  trong oxi có tạo ra sản phẩm là SO2 không bằng cách ngửi mùi của SO2 ( GV mở  nút 2 lọ  đựng sản phẩm cháy của S và dùng tay phẩy nhẹ  cho HS xác định sản  phẩm) và từ đó giới thiệu phương trình hóa học của phản ứng oxi tác dụng với lưu  huỳnh.  Ví dụ 2: Thí nghiệm oxi tác dụng với kim loại      Để hình thành và củng cố kiến thức về điều kiện của phản ứng hóa học thông   qua thí nghiệm oxi tác dụng với sắt. GV tiến hành thí nghiệm đối chứng, GV tiến   hành các hoạt động:  ­ Nêu mục đích thí nghiệm: nghiên cứu phản  ứng hóa học của oxi với kim loại   sắt.  ­ Mô tả thí nghiệm: Chuẩn bị thu hai bình đựng khí oxi, hai đoạn dây sắt cuốn hình   lò xo giống nhau, tiến hành thí nghiệm:     + Đầu đoạn dây sắt 1 không cắm mẫu than rồi đưa vào bình đựng khí oxi thứ 1.    + Đầu đoạn dây sắt 2 có cắm mẫu than nhỏ và đốt nóng đỏ  mẩu than rồi đưa   vào bình đựng khí oxi thứ 2.  ­ Yêu cầu quan sát hiện tượng xảy ra ở hai bình khí oxi và trả lời câu hỏi:   1­ Đưa đoạn dây sắt 1vào bình đựng oxi, có phản ứng hóa học xảy ra không? Nêu  nhận xét.   2­ Đưa đoạn dây sắt 2 có mẫu than hồng vào bình đựng oxi có phản ứng hóa học   xảy ra không? Nhận xét vai trò của mẫu than hồng và điều kiện xảy ra phản ứng   giữa oxi và sắt.   3­ Mô tả hiện tượng của thí nghiệm và sản phẩm của phản ứng hóa học giữa oxi   và sắt.   4­ Quan sát thành bình khí oxi đầu dây sắt khi kết thúc phản ứng. Từ hiện tượng  quan sát được rút ra nhận xét gì? Ví dụ 3: Thí nghiệm điều chế oxi trong PTN đi từ KClO3     Để hình thành hái niệm chất xúc tác GV tiến hành thí nghiệm đối chứng, GV tiến  hành các hoạt động như:  ­ Nêu mục đích thí nghiệm: So sánh tốc độ thoát khí oxi ở hai ống nghiệm KClO 3  và KClO3 + MnO2  ­ Tiến hành thí nghiệm: Cho vào hai  ống nghiệm lượng KMnO4   như nhau, tiếp  tục cho thêm 1 lượng nhỏ MnO2 vào một ống nghiệm. Đun nóng hai ống nghiệm 
  8. 8  ­ Yêu cầu quan sát hiện tượng ở hai bình thu khí oxi ( Hình 2.2) và trả lời câu hỏi:                                 Hình: Điều chế oxi trong PTN    1­ Lượng khí thoát ra  ở  bình thu khí oxi của  ống nghiệm chứa KClO 3  so với  lượng khí thoát ra  ở bình thu khí của  ống nghiệm chứa hỗn hợp KClO 3 + MnO2  như thế nào?   2­ Vai trò của MnO2 ? Giải thích?   3­ Mô tả hiện tượng của thí nghiệm? Viết PTHH của phản ứng       Như vậy từ thí nghiệm đối chứng sử  dụng trong bài dạy giúp HS hình thành  các khái niệm, kĩ năng một cách vững chắc và ghi nhớ sâu sắc hơn. Với HS lớp 8   do mới học hóa học nên việc sử  dụng thí nghiệm đối chứng là cần thiết để  HS   nắm được kiến thức vững chắc ngay từ những bài học đầu tiên.  DÙNG  T    HÍ NGHI   ỆM KIỂM CHỨNG .       Thí nghiệm kiểm chứng được dùng kết hợp với phương pháp nghiên cứu.   Với phương pháp nghiên cứu thì thí nghiệm kiểm chứng được dùng để  kiểm  nghiệm những giả thuyết khoa học, những dự đoán đưa ra trên cơ sở kiến thức   đã biết. Thí nghiệm kiểm chứng còn được dùng tổ  chức cho HS kiểm nghiêm   một nhận xét, một kết luận hoặc một qui luật.      Khi sử dụng thí nghiệm kiểm chứng GV tổ chức, điều khiển các hoạt động   của HS như:  ­ Hiểu và nắm vững vấn đề cần nghiên cứu ­ Nêu ra giả thuyết khoa học, những dự đoán trên cơ sở kiến thức đã có. ­ Lập kế hoạch giải ứng với từng giả thuyết ­ Chuẩn bị  hóa chất, dụng cụ, đề xuất cách tiến hành thí nghiệm, dự  đoán   hiện tương theo các giả thuyết. ­ Tiến hành thí nghiệm, quan sát, mô tả hiện tượng ­ Xác nhận giả  thuyết, dự đoán đúng, giải thích, viết PTHH của phản  ứng  và kết luận.
  9. 9   Ví dụ1 : Khi dạy bài “ Tính chất­ ứng dụng của hidro” (bài 31­ hoá hoc 8), giáo  viên có thể  sử  dụng thí nghiệm H2  tác dụng với CuO nghiên cứu tính chất của  H2      ­ Hoạt động của giáo viên: Nêu mục đích nghiên cứu. Giáo viên đặt vấn đề: H2 tác dụng với oxi đơn chất vậy có tác dụng với  CuO không? Nếu có thì sẽ xảy ra như thế nào? Lắp dụng cụ thí nghiệm (Hình 2.3), quan sát mầu của CuO. Tiến hành thí nghiêm, quan sát hiện tượng, sản phẩm phản ứng. Xác nhận dự đoán đúng, giải thích. Kết luận về tính chất của H2      Hình : Khí H2 khử CuO  ­ Hoạt động của học sinh: Lắng nghe mục đích của thí nghiệm. Học sinh dự đoán:            (1) H2 đẩy Cu ra khỏi CuO, sản phẩn là Cu mầu đỏ và H2O.            (2) H2 đẩy O2 ra khỏi CuO, nhận ra O2 nhờ tàn đóm. Học sinh quan sát CuO mầu đen. Tiến hành thí nghiệm, hiện tượng quan sát được là:  Mầu đen ban đầu chuyển thành mầu đỏ.  Có hơi nước đọng lại trên thành ống nghiệm. Kết luận: dự đoán 1 đúng.       Vậy khi đun nóng CuO sau đó cho H2 đi qua thì giải phóng ra Cu và tạo hơi  nước.        PTHH:          H2 + CuO        Cu + H2O Ví dụ  2: Khi dạy về  điều chế  khí hiđrô. GV có thể  sử  dụng thí nghiệm kiểm  chứng để yêu cầu HS kiểm nghiệm nhận xét : “Điều chế khí H2 bằng cách dùng  axit HCl hoặc H2SO4 tác dụng với các kim loại không hay chỉ  dùng với một số  kim loại”.
  10. 10  ­ GV tổ chức cho HS dự đoán hiện tượng khi cho dung dịch H 2SO4 tác dụng với  Fe, Al, Cu có giải phóng khí H2 không?  ­ HS tiến hành thí nghiệm kiểm nghiệm: lấy 3 ống nghiệm, mỗi  ống chứa 2ml   dd H2SO4  . Cho tiếp vào mỗi  ống nghiệm lần lượt: 1 đinh sắt sạch, 1 mãnh  nhôm, 1 mãnh đồng. Quan sát hiện tượng.  ­ HS rút ra nhận xét: dung dịch H2SO4 (hoặc HCl) chỉ tác dụng với một số kim  loại (Fe, Al, Zn) để tạo ra khí H2. Như vậy không phải dùng các kim loại bất kì  cho tác dụng với dung dịch axit HCl hoặc H2SO4  để điều chế khí hiđrô. Ví dụ 3: Khi dạy về tính chất hóa học của nước. GV có thể sử dụng thí nghiệm   kiểm chứng để yêu cầu HS kiểm nghiệm nhận xét : “H 2O chỉ tác dụng với một  số oxit bazơ để tạo ra bazơ”.  ­ GV tổ chức cho HS dự đoán hiện tượng khi cho H 2O tác dụng với FeO, CaO,  Na2O, CuO có tạo thành dung dịch bazơ làm quì tím hóa xanh không?  ­ HS tiến hành thí nghiệm kiểm nghiệm: lấy 4 ống nghiệm, mỗi  ống chứa 2ml   H2O. Cho tiếp vào mỗi  ống nghiệm lần lượt: FeO, CaO, Na2O, CuO . Quan sát  hiện tượng.  ­ HS rút ra nhận xét: H2O chỉ tác dụng với một số oxit kim loại kiềm để tạo ra  dung dịch bazơ  tan (dung dịch kiềm). Như vậy, không phải tất cả  các oxit kim  loại đều tác dụng với H2O  để tạo thành dung dich bazơ tan (dung dịch kiềm).   * Tương tự  GV có thể  sử  dụng thí nghiệm kiểm chứng để  yêu cầu HS kiểm  nghiệm các nhận xét bước đầu để hình thành các qui luật ở các nhận xét sau:   + Khí H2 ở nhiệt độ cao chỉ khử được một số oxit kim loại.   + H2O chỉ tác dụng với một số kim loại ở nhiệt độ thường.   + H2O chỉ tác dụng với một số oxit axit để tạo ra axit.         Cách tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của HS để  kiểm nghiệm các   nhận xét, nghiên cứu vấn đề được tiến hành tương tự như ví dụ 2.         Như vậy khi sử dụng thí nghiệm theo phương pháp nghiên cứu thì giáo viên   đã tập cho học sinh làm người nghiên cứu: Học sinh hiểu được mục đích của   nghiên cứu, vận dụng các kiến thức đã có đưa ra các dự  đoán và dự  kiến các  phương pháp thực hiện để kiểm nghiệm của giải thiết, tiến hành thí nghiệm để  khẳng   định   dự   đoán   đúng,   bác   bỏ   dự   đoán   không   phù   hợp   với   kết   quả   thí  nghiệm. Từ đó rút ra nhận xét, kết luận xác thực từ thực nghiệm. Bằng cách đó   học sinh vừa thu được kiến thức hoá học qua sự tìm tòi vừa có được nhận thức   hoá học cùng các kỹ năng hoá học cơ bản. DÙNG THÍ NGHIỆM BIỂU DIỄN CỦA GV THEO PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN  CỨU.        Với chương trình hóa học lớp 8 HS mới bắt đầu nghiên cứu hóa học do đó  GV sử dụng chủ yếu thí nghiệm biểu diễn của GV trong giờ học để hình thành  khái niệm, nghiên cứu tính chất các chất, hình thành các kĩ năng thí nghiệm hóa   học.   Khí   sử   dụng   thí   nghiệm   biểu   diễn   GV   nên   sử   dụng   thí   nghiệm   theo   phương pháp nghiên cứu, dùng thí nghiệm làm nguồn kiến thức, kết hợp biểu  
  11. 11 diễn thí nghiệm với đàm thoại tìm tòi để hình thành ở HS phương pháp tư duy,  nhận thức và học tập bộ môn hóa học. Khi tiến hành thí nghiệm biểu diễn theo   phương pháp nghiên cứu GV cần tiến hành các hoạt động:        ­ Nêu rõ mục đích của thí nghiệm        ­ Nêu yêu cầu đối với HS như quan sát cái gì, ở đâu và nhận xét, giải thích   cái gì. (Lưu ý các yêu cầu đối với HS thật cụ thể, chi tiết, GV có thể nêu dưới   dạng câu hỏi định hướng và đưa vào phiếu học tập).        ­ Tiến hành thí nghiệm, HS quan sát và trả lời câu hỏi trong phiếu học tập.        ­ GV chỉnh lí, bổ sung, nhấn mạnh các kiến thức, kĩ năng, phương pháp tư  duy thu nhận được qua thí nghiệm.  Ví dụ 1: Khi nghiên cứu tính chất của oxi. Oxi tác dụng với photpho đỏ   ­ GV nêu mục đích của thí nghiệm: Nghiên cứu phản ứng hóa học của oxi với   phi kim là photpho   ­ GV mô tả cách tiến hành thí nghiệm thí nghiệm:  Trước hết GV cho HS quan   sát lọ đựng P đỏ ( trạng thái, màu sắc) và nêu cách tiến hành   + Lấy 1 it P đỏ cho vào muỗng sắt và đưa vào bình chứa khí oxi theo các em P   đỏ có bốc cháy trong oxi không? Có phản ứng xảy ra không?   + Lấy 1 it P đỏ cho vào muỗng sắt và đưa lên ngọn lửa đèn cồn, đốt cho P cháy  rồi đưa vào bình chứa khí oxi. Photpho đỏ  có cháy tiếp không hay ngọn lửa tắt  đi? Hiện tượng xẩy ra thế nào? Sản phẩm phản ứng tạo thành ở trạng thái nào?   + Bỏ muỗng sắt ra, cho nước vào bình phản ứng lắc nhẹ để  thử  tính tan của  sản phẩm.  ­ Yêu cầu HS quan sát, nhận xét theo nội dung phiếu học tập:  1­ Khi đưa muỗng sắt chứa photpho đỏ  vào bình đựng khí oxi thì có phản ứng   hóa học xảy ra không?  2­ Đốt cháy P đỏ  trong muỗng sắt ngoài không khí rồi đưa vào bình đựng khí   oxi thì hiện tượng xảy ra thế nào?  3­ Nhận xét về điều kiện xẩy ra phản ứng hóa học giữa oxi và P đỏ.  4­ So sánh sự cháy của P đỏ trong không khí và trong oxi.  5­ Quan sát sản phẩm tạo thành và nhận xét tính tan của sản phẩm của phản   ứng giữa P đỏ và oxi trong nước.  ­ GV tổ chức cho HS thả luận nhóm, trả lời các câu hỏi. GV hệ thống các nhận  xét của HS và nhấn mạnh:   + P đỏ không tác dụng với oxi ở điều kiện thường   + Phản ứng của P đỏ với O2 chỉ xảy ra khi đun nóng   + P đỏ cháy trong khí O2 mãnh liệt hơn khi cháy trong không khí (ngọn lửa sáng  hơn, khói trắng nhiều hơn)   + Sản phẩm tạo ra là chất rắn, dạng bột, màu trắng, tan được trong nước có   tên gọi là điphotpho pentaoxit.  ­ GV viết PTHH của phản ứng và yêu cầu HS đọc tên các chất, giải thích các kí  hiệu trong PTHH. Ví dụ 2: Thí nghiệm điều chế khí hiđrô trong PTN
  12. 12  ­ GV nêu mục đích thí nghiệm: Nghiên cứu phương pháp điều chế khí H2 trong  PTN.  ­ GV mô tả cách tiến hành thí nghiệm: Điều chế  đưa tàn đóm đỏ lên đầu ống dẫn khí.   + Đưa que đóm đang cháy vào đầu ống dẫn khí.    + Nhỏ  1 giọt dung dịch trong  ống nghiệm lên mặt kính đồng hồ  và hơ  trên   ngọn lửa đèn cồn. III­ KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG. 1. Kết quả:    Học sinh yêu thích môn hoá học hơn , học sinh dễ nắm bắt kiến thức , hiểu  bài sâu , nhớ kỹ và vận dụng vào thực tế đời sống ..     Kết quả các bài kiểm tra đã có tiến bộ khả quan .    Tỉ lệ học sinh yếu giảm , tỉ lệ HS khá ,  giỏi tăng .    Kết quả khảo sát sau khi áp dụng chuyên đề: Tháng 3 năm 2021 * Kết quả học tập: ­ Trước khi thực hiện đề tài:  Tổn Giỏi Khá Trun Yếu,      g số  g Kém HS bình 142 SL TL SL TL SL TL SL TL % % % % 2 1,4 15 12,7 77 51,7 48 34,4 ­ Sau khi thực hiện đề tài:
  13. 13 Tổn Giỏi Khá Tru Yếu,      g số  ng Kém HS bình 142 SL TL SL TL SL TL SL TL % % % % 18 10,0 35 19,4 107 59,4 20 11,1 * Mức độ ưa thích: ­ Trước khi thực hiện đề tài: Câu hỏi Trả lời Thích Không Sợ SL       SL      SL      TL(%) TL(%)       TL(%) 1. Em thấy thế nào khi làm      thí nghiệm hoá học có đối  39 21,6  87 48,3 54 30,0 chứng? 2. Em có  Rất  Thích Không thích thích học  Thích môn hoá   22 12,2     35,6 94  52,2 học  64 không? - Sau khi thực hiện đề tài: Câu hỏi Trả lời Thích Sợ     SL  TL(%)   SL       SL          TL(%) (TL%) 1. Em thấy thế nào khi  107 59,4   47   26,1 26 làm thí nghiệm hoá học có  đối chứng? 2. Em có  Rất  Thích Không thích thích  Thích học môn   61 33,9   97   53,9 24  13,3 hoá học  không?
  14. 14 Giao viên ́ ̀ ̀ ử dung h : Ngay cang s ̣ ợp li các ph ́ ương pháp thí nghiệm thực hành  ̣ ̣ trong qua trinh day hoc, th ́ ̀ ương xuyên vân dung trong bai day môt cach h ̀ ̣ ̣ ̀ ̣ ̣ ́ ợp li va  ́ ̀ hương dân hoc sinh th ́ ̃ ̣ ực hiên.  ̣ ̣ Hoc sinh :  Đối với 142 học sinh (LỚP 8B,C,D,E)(Sử dụng tốt các phương pháp thí  nghiệm đối chứng trong dạy Hóa học): điểm trung bình bài kiểm tra đạt 6,9. + Ý thức học tập của học sinh tiến bộ rõ rệt, học sinh chăm học, chịu khó  nghe giảng hơn trước đây. + Kết quả học tập môn Hóa học được tăng lên, các em ngày càng yêu  thích môn Hóa học. * Sản phẩm được tạo ra từ giải pháp  ­ Kết quả kiểm tra sau tác động cho thấy điểm trung bình của nhóm thực  nghiệm là 6,9 cao hơn  so với điểm trung bình kiểm tra trước tác động là 5,4.  Điều này chứng tỏ nhóm thực nghiệm thông qua đã được nâng lên. ­ Độ chênh lệch điểm trung bình T­ test cho kết quả p= 0.033 
  15. 15 ­ Chuẩn bị tỉ mỉ, chu đáo trước khi lên lớp vì sự thành công của giờ học  hay giờ thực hành tùy thuộc phần lớn vào sự chuẩn bị chu đáo của giáo viên và  học sinh.  ­ Kết hợp logic giữa thí nghiệm với tranh ảnh, phiếu học tập, phương  pháp hỏi đáp tìm tòi, công nghệ thông tin ... để tổ chức tốt hơn hoạt động nhận  thức cho học sinh, tăng hiệu quả giáo dục.  ­ Vận dụng phương pháp thí nghiệm có đối chứng để phát huy tính tích  cực là gợi mở cho học sinh suy nghĩ, so sánh, đối chiếu, sáng tạo trong giờ học,  nhưng không lạm dụng quá nhiều thí nghiệm trong một giờ, mà phải lựa chọn  thí nghiệm phù hợp với đặc trưng của bài. Mỗi bài học chỉ nên tiến hành tối đa  2 thí nghiệm đối chứng. ­ Giáo viên cần chú ý tới một số học sinh hiếu động chỉ lo chú ý đến màu  sắc của hoá chất, ống nghiệm, hiện tượng thí nghiệm mà không lo giải thích  hiện tượng và kết luận thu được sau mỗi thí nghiệm. ­ Tiếp tục tiến hành thực nghiệm ở nhiều lớp khác để đề tài có tính thuyết phục  cao hơn.   IV . KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ      1. Kết luận:    Khoa học hoá học góp phần rất tích cực vào việc giải quyết các vấn đề gần  gũi với thực tế cuộc sống, các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên. Vì vậy khi  nghiên cứu hoá học không chỉ đơn thuần là tìm hiểu lí thuyết mà phải vận dụng  thật tốt các điều kiện thực nghiệm để giúp học sinh lĩnh hội  và áp dụng kiến  thức bộ môn một cách có hiệu quả phù hợp với mục tiêu thực hiện chương trình  đổi mới phương pháp dạy học hoá học theo hướng tích cực: học sinh giữ vai trò  chủ đạo, thầy đóng vai trò là người hướng dẫn.           Ngay từ những buổi đầu khi tiếp xúc với môn hoá học các em đã được  nghiên cứu về chất, những quy luật biến đổi chất này thành chất khác thông qua  các thí nghiệm đơn giản. thực tiễn cho thấy rằng mọi khái niệm đều xuất phát  từ sự trực quan những hiện tượng cụ thể. Trong việc giảng dạy Hoá học ở  trường THCS không thể bỏ qua bước đầu, bước quan sát thực nghiệm và so  sánh hiện tượng, vì chính nhờ vào bước đó mà ta có thể phát triển tư duy của  học sinh. Sau khi quan sát, học sinh so sánh đối chiếu và rút ra được sự giống và  khác nhau từ đó hình thành cho học sinh khả năng phân tích, tổng hợp và khái  quát hoá kiến thức.     Trước những học sinh phong phú về trình độ nhận thức, thì giáo viên luôn  phải tạo ra tình huống có vấn đề để phát huy khả năng tư duy, so sánh của học  sinh khá giỏi, tạo điều kiện cho học sinh yếu được tham gia phát biểu ý kiến  xây dựng bài. Thì những bài thí nghiệm có thí nghệm đối chứng sẽ giúp các em  hiểu sâu hơn, rõ hơn kiến thức của bài học. Để đạt được điều đó, đòi hỏi người  thì giáo viên phải linh hoạt trong các phương pháp, có kỹ năng, kỹ xảo trong  thao tác làm thí nghiệm, phát huy tối đa vai trò của thí nghiệm trong mỗi giờ dạy  hoá học. Bản thân mỗi giáo viên phải tự trang bị cho mình cơ sở lí luận về 
  16. 16 phương pháp thực nghiệm, tìm ra những phương án thí nghiệm tốt, cách tiến  hành có hiệu quả.... để đạt kết quả cao trong giảng dạy bộ môn hoá ở trung học  cơ sở. Với phương pháp thí nghiệm đối chứng tiến hành ở môn Hoá học của  chương trình THCS đã giúp tôi tìm ra một phương hướng giảng dạy hợp lý  nhằm phát huy tính tích cực và năng lực nhận thức của học sinh. Tuy nhiên để  đạt được kết qủa tốt thì người GV cần phải có sự linh hoạt và sự vận dụng hợp  lý. Bởi vì, bản thân phương pháp này không phải làm mục đích mà chỉ là phương  tiện để giúp học sinh rút ra được những tri thức cần thiết. Vì vậy, phương pháp  thí nghiệm đối chứng chỉ sử dụng khi cần thiết, phù hợp với từng đối tượng  học sinh, không được quá lạm dụng          Trên đây là kinh nghịêm mà tôi đã đúc rút được qua quá trình giảng dạy  thông suốt chương trình SGK mới. Tôi rất mong các đồng chí GV góp thêm ý  kiến, bổ sung để tôi có được một phương pháp tốt khi dạy môn Hoá học sau  này. Và để nó trở thành hành trang trong con đường dạy học của mình. 2/ Kiến nghị: ­ Dụng cụ thí nghiệm: đảm bảo đủ số lượng và cả chất lượng. Trong đó có cả  dự phòng và thay thế. Bổ sung kịp thời những hoá chất hết hoặc hết hạn sử  dụng. ­ Đầu tư trang thiết bị thông tin.  ­ Khi có thiết bị mới, cần tập huấn cho giáo viên. Đào tạo đội ngũ cán bộ thiết  bị để có đủ năng lực hỗ trợ cho giáo viên. Phường 9, ngày 20 tháng 3 năm 2021 Người thực hiện                                Nguyễn Văn Hồng
  17. 17 TÀI LIỆU THAM KHẢO   1­ Sách giáo khoa­ hoá 8, 9 Nxb giáo dục   2­ Sách giáo viên hoá 8, 9  Nxb giáo dục   3­ Thí nghiệm hoá học ở trường phổ thông ­ Trần Quốc Đắc­ Nxb GD­  1996   4­ Taøi lieäu daïy­hoïc tích cöïc trong boä moân hoaù hoïc ­    Nxb ÑHSP Haø  Noäi   5­ Sách thí nghiệm hóa học ở trường THCS   Nxb giáo dục   6 ­ Phöông phaùp daïy hoaù hoïc   Nxb giáo dục        7­ Bộ giáo dục và đào tạo (2007), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục     Trung học phổ thông môn hóa học, NXBGD, Hà Nội.        8­ Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện       chương trình, SGK lớp 8 môn Hóa học nâng cao, NXBGD, Hà Nội.
  18. 18   9­ Nguyễn Cương, Nguyễn Xuân Trường, Nguyễn Thị Sửu, Đặng Thị  Oanh, Hoàng Văn Côi, Trần Trung Ninh (2005), Thí nghiệm thực hành  phương pháp dạy học hóa học, NXBĐHSP, Hà Nội.    10 ­ Nguyễn Thị Hoa (2002), Sử dụng thí nghiệm và các phương tiện kĩ  thuật dạy học để nâng cao tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập  hóa học 10, 11 THPT Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ KHGD.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2