PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài.
Địa lý vốn là môn học có kiến thức gắn liền với thực tiễn, thay đổi hàng ngày theo sự phát triển của xã hội vì vậy kiến thức địa lý trở nên gần gũi và có vai trò quan trọng trong việc hình thành thế giới quan cho học sinh. Thế nhưng, một bộ phận không nhỏ học sinh còn thờ ơ với việc học tập bộ môn, nhiều phụ huynh coi nhẹ tầm quan trọng của môn địa lý. Để học sinh trở nên yêu thích môn học, để phụ huynh có cái nhìn đúng đắn về bộ môn thì rất cần sự thay đổi từ nhiều phía. Việc thay đổi sách giáo khoa theo hướng hiện đại, tích hợp liên môn thôi là chưa đủ mà điều quan trọng là cần phải đổi mới người thầy, đổi mới phương pháp giảng dạy để mỗi bài học là một sự khám phá, mỗi tiết lên lớp là những cuộc phiêu lưu, cuốn người học vào các hoạt động giảng dạy tích cực và hữu ích.
Quá trình dạy - học là một hoạt động phức tạp có sự tác động đa chiều, trong đó chất lượng và hiệu quả của hoạt động dạy – học cơ bản phụ thuộc vào chủ thể nhận thức - người học. Việc tiếp nhận và hình thành kiến thức kỹ năng lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan của người học như năng lực nhận thức, động cơ học tập, sự quyết tâm... tuy nhiên các yếu tố khách quan cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc tác động để tạo tâm lý sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ và hứng thú học tập của học sinh; quá trình hình thành các yếu tố khách quan lại chủ yếu phụ thuộc vào tác động của người giáo viên đứng lớp. Trước tình hình thực tế hiện nay, đa số giáo viên đều có tinh thần tự đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh; tuy nhiên phần lớn các thầy cô giáo đều hướng đến việc đổi mới trong hoạt động hình thành kiến thức là chủ yếu, chưa quan tâm đúng mức tới hoạt động khởi động cũng như vai trò của khởi động trong việc định hướng tiết dạy, tạo tâm lý tích cực cho học sinh để các em chủ động và tích cực khai thác, khám phá kiến thức mới nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đề ra về kiến thức, kỹ năng và những năng lực, phẩm chất cần hình thành cho học sinh sau mỗi tiết học.
Ngạn ngữ Việt Nam có câu: “Vạn sự khởi đầu nan”. Một sự khởi đầu thú vị, hấp dẫn sẽ phá vỡ sự lo lắng, e ngại ban đầu tạo hứng thú cho những hoạt động kế tiếp. Trong dạy học cũng vậy, một tiết học hạnh phúc trước hết phải có sự khởi đầu thú vị, điều này sẽ tạo ra không khí sôi nổi, tích cực, truyền cảm hứng và nguồn năng lượng tích cực cho học sinh trong suốt tiết học. Tạo nên sự hiểu biết thân thiện giữa giáo viên với học sinh, giữa các học sinh với nhau; thu hút học sinh vào việc học chủ động lĩnh hội kiến thức, muốn tìm tòi và muốn khám phá.
Mô hình “Happy School” của UNESCO, mô hình "Trường học hạnh phúc" bắt đầu triển khai thí điểm ở nước ta vào tháng 4/2018 và nhanh chóng được nhân rộng trong nhiều cơ sở giáo dục đào tạo các cấp khi người đứng đầu ngành giáo dục phát động phong trào "Triển khai kế hoạch nâng cao năng lực ứng xử sư phạm, đạo đức nhà giáo vì một môi trường hạnh phúc" (ngày 22/4/2019) nhằm lan tỏa những giá trị: Yêu thương, an toàn và tôn trọng trong các nhà trường. Làm thế nào để học sinh được hạnh phúc là trăn trở của nhiều nhà quản lý giáo dục, chuyên gia tâm lý, các nhà giáo. Trên thực tế, với học sinh, hạnh phúc mỗi ngày đến trường đôi khi thật giản dị.
1
Chúng tôi hiểu một cách đơn giản, tiết học hạnh phúc là tiết học khiến cả thầy cô và trò đều có cảm giác hứng thú, có niềm vui, sự mong chờ và những rung cảm. Khác với tiết học truyền thống, tiết học hạnh phúc không áp đặt phát triển theo khuôn mẫu mà đóng vai trò định hướng để học sinh được làm những gì mình yêu thích và say mê. Ở đó, học sinh không học theo kiểu nhồi nhét mà được học những gì có ý nghĩa với các em, được khơi gợi niềm yêu thích để tiếp tục tự tìm hiểu. Các môn học được biến hóa thành bài học thú vị qua những trò chơi, trải nghiệm.
Tiết học hạnh phúc sẽ giúp giáo viên và học sinh hình thành cũng như duy trì các trạng thái cảm xúc tích cực. Mỗi tiết học hạnh phúc sẽ tạo nên một môi trường học đường mà ai tham gia cũng cảm thấy hạnh phúc. Được tham gia vào các tiết học hạnh phúc, mỗi cá nhân sẽ thiết lập được tình cảm lành mạnh, góp phần phát triển nhân cách tốt đẹp.
Từ những lý do trên, trong thực tiễn công tác chúng tôi đã đúc rút một số kinh nghiệm về “ Sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực vào phần khởi động trong giảng dạy môn địa lý lớp 12” .
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
2.1. Đối tượng nghiên cứu.
+ Phương pháp dạy học tích cực: Phương pháp trò chơi, phương pháp đóng vai
+ Kĩ thuật dạy học tích cực: Kĩ thuật chia sẽ nhóm đôi, kĩ thuật phòng tranh, kĩ thuật phân tích video, kĩ thuật Kipling, kĩ thuật KWL.
2.2. Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài tập trung nghiên cứu các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh; góp phần xây dựng một tiết học hạnh phúc trong giảng dạy môn địa lý lớp 12. 3. Mục đích nghiên cứu.
Đề tài nhằm đề xuất một số cách thức sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học vào hoạt động khởi động để xây dựng một tiết học hạnh phúc; nhằm hình thành những năng lực và phẩm chất của học sinh trong mỗi tiết học. 4. Tính mới của đề tài.
Đề tài: “Sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực vào phần khởi động trong giảng dạy môn địa lý lớp 12”, nhằm làm mềm hóa kiến thức địa lý vốn khô khan, thiết lập mối quan hệ thầy trò gần gũi để tích cực giải quyết các nội dung bài học mà không thấy áp lực, nhàm chán. Với mong muốn tạo cho các em học sinh có nền tảng nhân cách, có niềm tin vào bản thân, có động lực học tập và phấn đấu, nuôi dưỡng ước mơ về tương lai tốt đẹp (phát triển năng lực cảm xúc EQ).
Sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực sẽ khơi dậy những giá trị tốt đẹp trong mỗi học sinh. Học sinh sẽ tự khám phá ra giá trị và mục tiêu của bản thân. GV- HS sẽ hiểu, hòa hợp, kết nối nhau hơn.
2
Phương pháp, kĩ thuật dạy học mà đề tài sử dụng sẽ tạo những tình huống có vấn đề, học sinh được trực tiếp tham gia, khám phá, kích thích các em tích cực và chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức một cách tự nhiên, không miễn cưỡng, gò bó.
Mục đích hướng tới của đề tài là: Thông qua việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong những phút đầu của tiết học để kết nối cảm xúc, phá tảng băng ngăn cách Thầy- Trò. Học sinh được học tập, được vui chơi, được chia sẽ, được thấu hiểu, được yêu thương và tôn trọng.
Tiết học hạnh phúc sẽ giúp giáo viên và học sinh hình thành cũng như duy trì các trạng thái cảm xúc tích cực. Mỗi tiết học hạnh phúc sẽ tạo nên một môi trường học đường mà ai tham gia cũng cảm thấy hạnh phúc.
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết:
+ Nghiên cứu các sách về phương pháp dạy học; nghiên cứu các văn bản, quy định, hướng dẫn… về đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh.
+ Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các nguồn tài liệu để xây dựng cơ sở lý thuyết và nội dung của đề tài.
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
+ Dùng phiếu điều tra, khảo sát; So sánh, phân tích thực trạng.
+ Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp bổ trợ.
+ Phương pháp toán thống kê toán học, xử lý số liệu.
6. Những đóng góp của đề tài.
- Về lý luận
Đề xuất quy trình thiết kế và tổ chức áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học
tích cực vào phần khởi động trong dạy học Địa lý THPT lớp 12
- Về thực tiễn
Khảo sát, phân tích, đánh giá khái quát thực trạng về nhận thức của GV và HS về áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực vào phần khởi động để xây dựng tiết học hạnh phúc.
3
PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIẾN CỦA ĐỀ TÀI. 1. Cơ sở lí luận của đề tài. 1.1. Đổi mới phương pháp dạy học. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”. Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, Nghị quyết số 29- NQ/TW ngày 4/11/2013 nhấn mạnh “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời.”. Đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện trong GD – ĐT, Bộ GD – ĐT có công văn số 5555/BDGĐT-GDTrH ngày 8 tháng 10 năm 2014 hướng dẫn và cụ thể hóa những yêu cầu trong đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh: “hình thức giao nhiệm vụ sinh động, hấp dẫn, kích thích được hứng thú nhận thức của học sinh” . Ngày 18/12/2020, Bộ GD&ĐT đã ban hành công văn 5512/BGDĐT- GDTrH về việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường. Ngoài ra, yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học còn được cụ thể hóa trong các văn bản chỉ đạo về việc thực hiện nhiệm vụ năm học hàng năm của Bộ GD – ĐT; hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của Sở GD – ĐT; kế hoạch năm học của nhà trường và kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học của mỗi giáo viên
Mục tiêu, yêu cầu của phương pháp giáo dục phổ thông là phải phát huy được tính tích cực, chủ động của người học, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Đây là định hướng cơ bản, thiết thực đối với mỗi giáo viên, cũng là yếu tố quyết định hiệu quả của một giờ dạy. 1.2. Các khái niệm.
1.2.1. Các khái niệm về phương pháp dạy học tích cực.
Phương pháp dạy học (PPDH) được hiểu là cách thức, là con đường hoạt động chung giữa GV và HS, trong những điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt tới mục đích dạy học.
4
Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
Theo quan điểm này thì dạy học chính là quá trình tổ chức cho học sinh lĩnh hội tri thức. Vai trò của học sinh trong quá trình dạy học là học sinh trở thành trung tâm của quá trình dạy học. Trong quá trình dạy học người học vừa là đối tượng của hoạt động dạy, lại vừa là chủ thể của hoạt động học. Thông qua hoạt động học, dưới sự chỉ đạo của thầy, người học phải tích cực chủ động cải biến chính mình về kiến thức, kĩ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách, không ai làm thay cho mình được. Vì vậy, nếu người học không tự giác chủ động, không chịu học, không có phương pháp học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế. Do đó, để nâng cao chất lượng học tập của học sinh thì việc dạy học theo những phương pháp dạy, kĩ thuật học tích cực là vấn đề thật cần thiết. Có nhiều phương pháp dạy học tích cực được sử dụng trong các giờ dạy học ở trường THPT như phương pháp đóng vai, thảo luận, nghiên cứu trường hợp điển hình, xử lí tình huống, trò chơi, phương pháp dự án, phương pháp giải quyết vấn đề…Ngoài các phương pháp trên, đối với môn địa lí còn có các phương pháp đặc thù bộ môn như: phương pháp trực quan, phương pháp thực địa, phương pháp hình thành biểu tượng địa lí, phương pháp hình thành kĩ năng xác lập mối quan hệ nhân quả...
1.2.2. Phương pháp trò chơi.
Là phương pháp dạy học mà giáo viên sẽ tổ chức cho các em học sinh tìm hiểu về một vấn đề nào đó thông qua chơi trò chơi. Và phương pháp này thuộc danh sách các phương pháp dạy học mới giúp tăng sự kích thích, hứng thú tìm hiểu vấn đề của học sinh.
Bản chất của phương pháp sử dụng trò chơi học tập là dạy học thông qua việc tổ chức hoạt động cho học sinh. Dưới sự hướng dẫn của GV, HS được hoạt động bằng cách tự chơi trò chơi trong đó mục đích của trò chơi chuyển tải mục tiêu của bài học. Luật chơi (cách chơi) thể hiện nội dung và phương pháp học, đặc biệt là phương pháp học tập có sự hợp tác và sự tự đánh giá.
1.2.3. Phương pháp đóng vai.
Đóng vai là phương pháp trong đó HS đóng các vai khác nhau, thể hiện các sự
vật hiện tượng địa lí trong quan hệ của chúng, từ đó nắm được kiến thức bài học.
Đây là phương pháp nhằm giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được. Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này, mà quan trọng hơn là thảo luận sau phần diễn.
1.2.4. Kỹ thuật dạy học tích cực.
Kỹ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học. Có những kỹ thuật dạy học chung, có những kỹ thuật đặc thù của từng phương pháp dạy học, ví dụ kỹ thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại. Ngày nay người ta chú trọng phát triển
5
và sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như “chia sẻ nhóm đôi”, “đóng vai”, “phòng tranh”, kipling, KWL...
Các kỹ thuật dạy học tích cực là những kỹ thuật dạy học có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát huy sự tham gia tích cực của HS vào quá trình dạy học, kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của HS.
Các kỹ thuật dạy học tích cực được trình bày sau đây có thể được áp dụng thuận lợi trong làm việc nhóm. Tuy nhiên chúng cũng có thể được kết hợp thực hiện trong các hình thức dạy học toàn lớp.
1.2.4.1. Kĩ thuật "Chia sẻ nhóm đôi"
Chia sẻ nhóm đôi (Think, Pair, Share) là một kỹ thuật do giáo sư Frank Lyman đại học Maryland giới thiệu năm 1981. Kỹ thuật này giới thiệu hoạt động làm việc nhóm đôi, phát triển năng lực tư duy của từng cá nhân trong giải quyết vấn đề. Think- Pair-Share là một chiến lược học tập phù hợp với học sinh ở mọi lứa tuổi. Với kỹ thuật dạy học này, giáo viên giao cho học sinh một bài tập/nhiệm vụ. Giáo viên yêu cầu học sinh dành thời gian suy nghĩ độc lập (think), sau đó học sinh sẽ làm việc với một bạn khác tạo thành cặp đôi (pair) để thảo luận về những điều mình đã suy nghĩ. Cuối cùng, học sinh chia sẻ (share) những điều đã trao đổi trong cặp với các bạn còn lại trong lớp.
1.2.4.2. Kĩ thuật phòng tranh.
Kĩ thuật này có thể sử dụng cho hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm.
- GV nêu câu hỏi/ vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm.
- Mỗi thành viên ( hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác hoạ những ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung quanh lớp học như một triển lãm tranh.
- HS cả lớp đi xem “ triển lãm’’và có thể có ý kiến bình luận hoặc bổ sung.
1.2.4.3. Kỹ thuật phân tích phim Video
Phim video có thể là một trong các phương tiện để truyền đạt nội dung bài học. Phim nên tương đối ngắn gọn (5-20 phút). GV cần xem qua trước để đảm bảo là phim phù hợp để chiếu cho các em xem
1.2.4.4. Kĩ thuật Kipling(5W1H)
Kĩ thuật này thường được dùng cho các trường hợp khi cần có thêm ý tưởng mới,
hoặc xem xét nhiều khía cạnh của vấn đề, chọn lựa ý tưởng để phát triển.
5W1H viết tắt từ các từ sau: What? (Cái gì?), Where? (Ở đâu?), When? (Khi nào?), Why? (Tại sao?), How? (Như thế nào?), Who? (Ai?). Để trình bày một ý tưởng, tóm tắt một sự kiện, một bài dạy hoặc bắt đầu nghiên cứu một vấn đề, chúng ta hãy tự đặt cho mình những câu hỏi sau:
6
1.2.4.5. Kĩ thuật KWL.
KWL do Donna Ogle giới thiệu năm 1986, vốn là một hình thức tổ chức dạy học hoạt động đọc hiểu. Học sinh bắt đầu bằng việc động não tất cả những gì các em đã biết về chủ đề bài đọc. Thông tin này sẽ được ghi nhận vào cột K của biểu đồ. Sau đó học sinh nêu lên danh sách các câu hỏi về những điều các em muốn biết thêm trong chủ đề này. Những câu hỏi đó sẽ được ghi nhận vào cột W của biểu đồ. Trong quá trình đọc hoặc sau khi đọc xong, các em sẽ tự trả lời cho các câu hỏi ở cột W. Những thông tin này sẽ được ghi nhận vào cột L.
1.3. Khởi động trong tiết học.
Một tiết học được coi là một hoạt động tổng thể diễn ra trong thời gian 45 phút đối với bậc THPT. Trong đó bao gồm các hoạt động của Thầy và hoạt động của Trò một cách nhịp nhàng để hình thành được kiến thức, năng lực và phẩm chất cần thiết. Trước thực trạng đổi mới căn bản, toàn diện của ngành giáo dục, người giáo viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giảng dạy cần có sự đổi mới trong phương pháp tổ chức hoạt động để kích thích sự sáng tạo, khơi dậy nhu cầu khám phá, tìm hiểu kiến thức của các em học sinh. Sự đổi mới đó không phải chỉ thể hiện trong đổi mới phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức bài học mà còn thể hiện qua hoạt động khởi động để các em có được điểm xuất phát tốt nhất trước khi tìm hiểu kiến thức mới.
Khởi động là hoạt động đầu tiên, hoạt động này nhằm giúp học sinh huy động những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm của bản thân về các vấn đề có nội dung liên quan đến bài học mới. Hoạt động khởi động sẽ kích thích tính tò mò, sự hứng thú, tâm thế của học sinh ngay từ đầu tiết học.
Hoạt động khởi động thường được tổ chức thông qua hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm sẽ kích thích sự sáng tạo, giúp học sinh hình thành năng lực hợp tác, tinh thần học hỏi, giúp đỡ nhau khi thưc hiện nhiệm vụ. Chuẩn bị phần khởi động như thế nào cho hiệu quả phải dựa vào nội dung bài, đối tượng học sinh và cả điều kiện của giáo viên.
Như vậy, có thể hiểu hoạt động này chưa đòi hỏi sự tư duy cao, không quá coi trọng về vấn đề kiến thức mà chủ yếu là tạo tâm thế tốt nhất cho các em nhập cuộc, lôi kéo các em có hứng thú với các hoạt động phía sau đó.
7
1.4. Hình thành năng lực và phẩm chất.
Chương trình giáo dục phổ thông mới với mục tiêu giáo dục học sinh phổ thông để rèn luyện tốt 5 phẩm chất và 10 năng lực. Thông qua việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong phần khởi động, các năng lực và phẩm chất được hình thành và phát triển. Theo đó 5 phẩm chất chủ yếu cần có ở học sinh là:
YÊU NƯỚC: Yêu thiên nhiên, yêu con người, tự hào về truyền thống Việt Nam; sẵn sàng bảo vệ đất nước khi cần
NHÂN ÁI: Yêu quý mọi người; Tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người.
CHĂM CHỈ: Ham học; Chăm làm.
TRUNG THỰC: Tôn trọng lẽ phải, thật thà ngay thẳng, lên án cái xấu
TRÁCH NHIỆM: Có trách nhiệm với bản thân; Có trách nhiệm với gia đình; Có trách nhiệm với nhà trường và xã hội; Có trách nhiệm với môi trường sống.
Đồng thời, học sinh cần được phát triển 10 năng lực cốt lõi gồm:
- Năng lực tự chủ và tự học: Tự lực; Tự khẳng định và bảo vệ quyền, nhu cầu chính đáng; Tự kiểm soát tình cảm, thái độ, hành vi của mình; Tự định hướng; Tự học, tự hoàn thiện.
- Năng lực giao tiếp và hợp tác: Xác định mục đích, nội dung, phương tiện và thái độ giao tiếp; Thiết lập, phát triển các quan hệ xã hội, điều chỉnh và hóa giải các mâu thuẫn; Xác định mục đích và phương thức hợp tác; Xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân; Xác định nhu cầu và khả năng của người hợp tác; Tổ chức và thuyết phục người khác; Đánh giá hoạt động hợp tác; hội nhập quốc tế.
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Nhận ra ý tưởng mới; Phát hiện và làm rõ vấn đề; Hình thành và triển khai ý tưởng mới; Đề xuất, lựa chọn giải pháp; Thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề; Tư duy độc lập.
- Năng lực ngôn ngữ: Sử dụng Tiếng Việt; Sử dụng ngoại ngữ.
- Năng lực tính toán: Hiểu biết kiến thức toán học phổ thông cơ bản; Biết cách vận dụng các thao tác tư duy, suy luận, tính toán, ước lượng, sử dụng các công cụ tính toán và dụng cụ đo,…; đọc hiểu, diễn giải, phân tích, đánh giá tình huống có ý nghĩa toán học.
- Năng lực khoa học:
Tìm hiểu tự nhiên: Hiểu biết kiến thức khoa học; Tìm tòi và khám phá thế giới tự nhiên; Vận dụng kiến thức vào thực tiễn, ứng xử với tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường.
Tìm hiểu xã hội: Nắm được những tri thức cơ bản về đối tượng của các khoa học xã hội; Hiểu và vận dụng được những cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học xã hội; Nắm được những tri thức cơ bản về xã hội loài người; Vận dụng được những tri thức về xã hội và văn hóa vào cuộc sống.
- Năng lực Công nghệ: Thiết kế; Sử dụng; Giao tiếp; Đánh giá.
8
- Năng lực Tin học: Sử dụng và quản lý các phương tiện, công cụ, các hệ thống tự động hóa của công nghệ thông tin và truyền thông; Hiểu biết và ứng xử phù hợp chuẩn mực đạo đức, văn hóa và pháp luật trong xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức.
- Năng lực thẩm mỹ: Nhận biết các yếu tố thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài, cái chân, cái thiện, cái cao cả); Phân tích, đánh giá các yếu tố thẩm mỹ; Tái hiện, sáng tạo và ứng dụng các yếu tố thẩm mỹ.
- Năng lực thể chất: Sống thích ứng và hài hòa với môi trường; Nhận biết và có các kỹ năng vận động cơ bản trong cuộc sống; Nhận biết và hình thành các tố chất thể lực cơ bản trong cuộc sống; Nhận biết và tham gia hoạt động thể dục thể thao;
2. Cơ sở thực tiễn.
2.1. Thực trạng tổ chức hoạt động khởi động trong giờ học Địa Lý hiện nay.
2.1.1. Thực trạng về phía giáo viên.
Trước những định hướng đổi mới của Đảng, nhà nước và của ngành về dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh; cơ bản giáo viên trường THPT Quỳnh Lưu 3 nói chung và giáo viên Địa Lý nói riêng đã có tinh thần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực của các em. Tuy nhiên, sự quan tâm đổi mới chưa nhiều, chưa thực sự đi vào chiều sâu; đôi khi còn qua loa, hình thức. Việc thực hiện tiết dạy của giáo viên vẫn còn theo hình thức cũ: nặng về lý thuyết, thiếu đi tính hấp dẫn, lôi cuốn học sinh ngay từ hoạt động vào bài; giáo viên còn xem nhẹ việc dẫn dắt vào bài mà chủ yếu dành thời gian cho việc tìm hiểu kiến thức mới dẫn đến tiết học khô khan, học sinh thụ động trong việc tiếp thu kiến thức. Một tiết dạy thu hút được sự chú ý, kích thích được sự tò mò tìm hiểu của học sinh phải xuất phát ngay từ đầu tiết dạy để tạo nên hứng thú học tập cho học sinh trong suốt quá trình diễn ra tiết học. Tuy nhiên trên thực tế, chúng tôi (ở các năm học trước) và hầu hết giáo viên khi thiết kế kế hoạch dạy học thường chỉ làm theo hình thức giới thiệu qua một chút để vào bài, như vậy sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian dành cho hoạt động khai thác kiến thức mới, không lo lắng nhiều về vấn đề thiếu thời gian, cháy giáo án… do đó tiết học tương đối khô khan, thiên về lý thuyết và giảng giảng mà thiếu đi sự hợp tác tích cực của học sinh; ngay từ bước vào bài học sinh đã có tâm lý thụ động chờ giáo viên dẫn dắt nội dung và truyền thụ một chiều, từ đó sẽ khó tạo tâm lý để các em sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ một cách tích cực ở các hoạt động tiếp theo của bài học.
Một số giáo viên đã chú trọng sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực vào phần khởi động. Tuy nhiên, số lượng chưa được nhiều, chưa thật thường xuyên, chỉ dừng lại ở các tiết thao giảng, dự giờ thăm lớp. Một số giáo viên cũng đã sử dụng các video, bài hát vào phần khởi động nhưng cũng chỉ mang tính chất minh họa, nên hiệu quả chưa cao. Một số giáo viên khác cho rằng việc sử dụng các phương pháp như đóng vai, trò chơi…thì sẽ tốn nhiều thời gian, tâm lý sợ học sinh không làm được, lúng túng trong khâu tổ chức…. Các kĩ thuật dạy học thì hầu như không sử dụng vào hoạt động khởi động. Giáo viên trẻ mới ra trường kinh nghiệm còn ít, chưa hiểu hết tâm lý của học sinh nên hay gò bó, nguyên tắc. Đôi lúc bản thân thầy cô giáo chưa kiềm chế
9
được cảm xúc, đã để cảm xúc ảnh hưởng đến tiết học nên khó lòng có thể mang lại cảm giác hạnh phúc cho học sinh.
2.1.2. Thực trạng về phía học sinh.
Trong những năm gần đây, hầu hết các trường đại học, cao đẳng tốp trên thường xét tuyển tổ hợp các môn KHTN; chính vì vậy lượng học sinh quan tâm học tổ hợp các môn KHXH (trong đó có môn Địa Lý) không nhiều. Tâm lý các em coi đây là môn phụ, ít dành sự quan tâm đến việc học Địa Lý cả trên lớp cũng như ở nhà. Một phần vì tâm lý học sinh còn chủ quan do được mang Atlat vào phòng thi. Tâm lý của học sinh nhìn chung không quan tâm và hứng thú nhiều với môn Địa Lý; khi vào tiết học thì quá trình dẫn dắt và định hướng bài học của giáo viên còn khô khan, chưa tạo được sự hứng thú để thu hút các em vào bài học; việc truyền thụ kiến thức của giáo viên còn nặng về lý thuyết, nội dung thiếu sinh động, hấp dẫn nên càng làm cho các em ít có sự quan tâm đối với bộ môn này hơn. Qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy vai trò của việc sử dụng phương pháp kĩ thuật dạy học theo hướng tích cực, phát huy tính sáng tạo của học sinh là rất quan trọng, và việc đổi mới cần quan tâm, chú trọng thực hiện ngay từ khâu vào bài để bài học sinh động, hấp dẫn và lôi cuốn hơn. Trên thực tế điều này chưa được quan tâm đúng mức; để có minh chứng cụ thể về những thực trạng trên, khi thực hiện đề tài này chúng tôi đã tiến hành một số khảo sát đối với giáo viên và học sinh về việc thiết kế và việc thực hiện hoạt động khởi động (còn gọi là định hướng, dẫn nhập, …) của năm học 2020-2021, kết quả khảo sát như sau:
* Khảo sát GVBM về thiết kế kế hoạch dạy học: Số giáo viên được khảo sát: 15 GVBM Địa Lý ở trường THPT Quỳnh Lưu 3, Quỳnh Lưu 2, Quỳnh Lưu 1, Nguyễn Đức Mậu (không bao gồm tác giả đề tài).
Bảng 1:
TT Mức độ Kết quả khảo sát Tỉ lệ % giáo viên đánh
giá
- Thường xuyên 0 0
1. Thực hiện khởi động - Thỉnh thoảng 2 13,3
- Không 13 86,7
0 0
2. Cơ sở tiến hành khởi động - Xuất phát từ nội dung bài học
6 40,0
- Từ nội dung liên quan đến nội dung bài học
7 46,7
- Từ nội dung liên quan đến tên bài học
- Từ các nguồn khác 2 13,3
10
7 46,7
3. Mục đích của khởi động - Kiểm tra kiến thức học sinh
5 33,3
- Tạo hứng thú cho học sinh
3 20,0
- Tạo ra “tình huống có vấn đề” để vào bài
0 0
- Xây dựng tiết học hạnh phúc
2 13,3
4. Hình thức khởi động thường dùng - Phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực.
- Truyền thống 9 60,0
- Sử dụng cả 2 4 26,7
2 13,3
5. Người thực hiện khởi động - Giáo viên và học sinh
- Giáo viên 13 86,7
- Học sinh 0 0
- Thường xuyên 0 0
- Thỉnh thoảng 4 26,7
- Không 11 73,3 6. Mức độ sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
- Hiệu quả cao 0 0
7. Hiệu quả của khởi động. - Hiệu quả trung bình 9 60
- Hiệu quả thấp 6 40
- Đã xây dựng được 0 0
- Chưa xây dựng được 15 100
8. Thầy cô đã xây dựng được tiết học hạnh phúc chưa?
Nhận xét: các GVBM Địa Lý trong trường có thực hiện việc khởi động trước khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài mới; hình thức thường là giáo viên dẫn dắt trực tiếp vào bài, học sinh lắng nghe, không tham gia trực tiếp vào hoạt động khởi động. Như vậy với hình thức dẫn nhập vào bài mà học sinh thụ động hoàn toàn chờ giáo viên định hướng thì chưa thể hiện rõ sự đổi mới; thông qua đánh giá của giáo viên thì với hình
11
thức khởi động hiện nay, lượng học sinh tích cực lắng nghe giáo viên định hướng cũng không nhiều. Hay nói cách khác, với hình thức khởi động như trên thì người thầy đang là trung tâm, thầy khởi động còn trò là người nghe và quan sát, chưa thực sự được khởi động trước khi tiến hành công việc là khai thác kiến thức mới. Như vậy, ngay khi vào bài đã chưa có được sự lôi cuốn, hấp dẫn thu hút học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức nên dẫn đến khả năng học sinh học thụ động, không tích cực trong việc tìm hiểu và nắm kiến thức mới. * Số học sinh được khảo sát:240 học sinh ở khối 12 của trường THPT Quỳnh Lưu 3 năm học 2020 – 2021 (6 lớp do tác giả đề tài thực hiện giảng dạy không thực hiện khảo sát ở mục này). * Hình thức khảo sát: - Dùng phiếu điều tra. - Số lượng HS được khảo sát: 240 HS (7 lớp).
Tiêu chí khảo sát Bảng 2 TT
1. Em có học bài và chuẩn bị bài trước khi đến lớp không?
- Thường xuyên - Thỉnh thoảng - Không - Có Số HS khảo sát 92 102 46 67 Tỉ lệ 38,3 42,5 19,2 27,9
2. Em có thích thầy cô tổ chức các hoạt động khởi động không?
- Không - Có 173 108 72,1 45
- Không 55 132
3. Em có chủ động tìm hiểu kiến thức trong phần khởi động không?
- Có 77,5 186
- Không 22,5 54
4. Nếu khởi động tạo cho em sự tò mò em có muốn tìm hiểu bài học để giải đáp vấn đề không?
- Có 20,8 50
5. Em có thấy thoải mái, hạnh phúc trong tiết học địa lý không? - Không 190 79,2
* Nhận xét: Qua khảo sát học sinh, đa số GVBM có thực hiện dẫn dắt trước khi vào tiết học một cách thường xuyên hoặc không thường xuyên. Tuy nhiên việc khởi động mà GVBM áp dụng mới chủ yếu dừng lại ở việc dẫn dắt của giáo viên, học sinh chưa được tham gia vào hoạt động cụ thể. Qua khảo sát cho thấy đa số học sinh đều có nhu cầu có được tiết học sinh động, hấp dẫn để kích thích tư duy của các em chủ động khám phá kiến thức mới. Tuy nhiên thực tế các em lại ít có sự chuẩn bị bài trước ở nhà,
12
vào đầu tiết học GVBM thực hiện truyền thụ một chiều như vậy dễ gây nhàm chán và chưa đáp ứng được nhu cầu tìm tòi, khám phá của học sinh. Từ đó chưa phát huy hết tính tích cực cũng như sự sáng tạo của các em trong học tập bộ môn.
Từ những kết quả khảo sát thực tế đã nêu trên, cá nhân chúng tôi xin mạnh dạn nêu ra những hạn chế trong quá trình tiến hành hoạt động khởi động/định hướng mà hiện nay các đồng nghiệp đã và đang thực hiện như sau:
Về phía giáo viên: việc định hướng vào bài học chỉ sơ qua bằng một vài câu dẫn dắt có liên quan, mang tính chất giới thiệu bài học; tình huống khởi động chưa thực sự xuất phát từ bài học để tạo hứng thú, tạo ra tình huống có vấn đề kích thích sự sáng tạo và học tập chủ động của học sinh. Hoạt động khởi động/dẫn nhập còn mang tính hình thức, chưa tạo được liên kết thực sự với bài học, chưa xuất phát từ bài học. Do đó khi GVBM dẫn dắt, thực chất là truyền thụ một chiều, các em thụ động lắng nghe mà không được trực tiếp khởi động. Thực chất việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực là chuyển từ việc lấy thầy làm trung tâm, truyền thụ kiến thức một chiều sang lấy hoạt động học của trò làm trung tâm, thầy cần định hướng để trò thực hiện được hoạt động học một cách tích cực. Tuy nhiên với phương pháp khởi động như GVBM đang thực hiện như khảo sát trên thì chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới dạy học hiện nay.
Về phía học sinh: Việc chuẩn bị bài trước ở nhà còn hạn chế, chưa có sự hứng thú với bài học; chưa tạo ra được sự yêu thích và động lực để tự tìm hiểu, tự học tập một cách tích cực. Tuy nhiên tất cả trong số các em học sinh được khảo sát đều có nhu cầu, mong muốn có được tiết học sôi nổi, tạo hứng thú và hấp dẫn ngay từ hoạt động khởi động để kích thích nhu cầu tự tìm hiểu, khám phá và chiếm lĩnh kiến thức mới một cách tích cực. Từ những hạn chế trên dẫn đến hiệu quả hoạt động khởi động của tiết học không cao, chỉ mang tính dẫn dắt mà không tạo được hứng thú và tư duy tích cực cho học sinh, qua đó không chỉ hoạt động khởi động không đạt được như mong muốn là khởi động để tạo hứng thú, tạo đà cho việc học tích cực ở các hoạt động tiếp theo trong bài học.
Nguyên nhân về phía giáo viên giảng dạy. Nguyên nhân khách quan: Chương trình môn Địa Lý THPT hiện tại ở các môn học còn tương đối dài, giáo viên còn gặp khó khăn trong việc xây dựng phân phối chương trình, phân phối thời gian cho phù hợp để dành nhiều thời gian cho hoạt động khởi động. Chương trình kiểm tra, thi hiện nay còn phân bổ số điểm tương đối nhiều cho việc ghi nhớ, do đó giáo viên khi dạy còn áp lực nhiều về việc cung cấp đủ kiến thức cho học sinh, để học sinh có đủ kiến thức cơ bản đáp ứng cho việc kiểm tra kiến thức thường xuyên và định kì. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh là phương pháp dạy học đã được nói đến nhiều trong vài năm trở lại đây, tuy nhiên hiện nay để có được những tiết học thực sự đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh để giáo viên có thể tham khảo và học hỏi còn hạn chế; giáo viên chủ yếu dựa vào kiến thức và kỹ năng vốn có của bản thân kết hợp với nghiên cứu lý thuyết, dự giờ đồng nghiệp… nên việc đổi mới của giáo viên trong hoạt động dạy học, đặc biệt là trong việc xây dựng các tình huống khởi động còn hạn chế.
Nguyên nhân chủ quan: Lực lượng giáo viên bộ môn Địa Lý ở trường còn trẻ, kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều nên việc đầu tư đổi mới phương pháp còn hạn chế.
13
Một số GVBM chưa chủ động trong việc học hỏi, tiếp thu phương pháp và kỹ năng dạy học tích cực để vận dụng trong quá trình dạy học. Tâm lý giáo viên còn nặng về truyền thụ kiến thức bài học mới, còn sợ dành nhiều thời gian cho hoạt động khởi động có thể bị “cháy giáo án” hoặc không đủ thời gian dành cho việc khai thác kiến thức mới. Việc ứng dụng công nghệ thông tin của giáo viên trong một số tình huống chưa tốt nên còn ngại trong việc đổi mới phương pháp dạy học và thiết kế giáo án theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong hoạt động khởi động.
Nguyên nhân về phía học sinh: Nhiều học sinh có tâm lý học lệch, thiên về một số môn KHTN nên ở các môn KHXH còn lại chưa có sự đầu tư, chưa quan tâm chuẩn bị bài chưa chu đáo, dẫn đến tiết học còn thụ động. Áp lực học tập từ nhiều bộ môn khác nhau trong cùng một buổi học nên khả năng tập trung tư duy, tích cực và sáng tạo dành cho môn Địa Lý còn ít. Tâm lý sợ bị hỏi bài nên nhiều học sinh trong giờ học chưa thực sự tích cực và chủ động dành thời gian tìm hiểu, khai thác kiến thức mà còn nặng về việc ghi chép nội dung bài học.
14
CHƯƠNG 3: CÁC BƯỚC THỰC HIỆN PHƯƠNG PHÁP, KĨ THUẬT DẠY HỌC VÀO PHẦN KHỞI ĐỘNG.
3.1. Các bước thực hiện phương pháp dạy học tích cực. 3.1.1. Sử dụng phương pháp trò chơi. 3.1.1.1. Các bước thực hiện và cách thức triển khai.
- Bước 1: Giáo viên phổ biến về trò chơi bao gồm tên, nội dung và quy tắc chơi.
- Bước 2: Hướng dẫn chơi. Bước này bao gồm những việc sau:
+ Tổ chức người tham gia trò chơi: Số người tham gia, số đội tham gia (mấy đội
chơi), quản trò, trọng tài.
+ Các dụng cụ dùng để chơi (giấy khổ to, quân bài, thẻ từ, cờ…)
+ Cách chơi: Từng việc làm cụ thể của người chơi hoặc đội chơi, thời gian chơi,
những điều người chơi không được làm…
+ Cách xác nhận kết quả và cách tính điểm chơi, cách giải của cuộc chơi. (nếu
có)
- Bước 3: Cho học sinh bắt đầu chơi trò chơi.
- Bước 4: Đánh giá khi trò chơi kết thúc. Bước này bao gồm những việc làm sau:
+ Giáo viên hoặc trọng tài là HS nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của từng
đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm.
+ Trọng tài công bố kết quả chơi của từng đội, cá nhân và trao phần thưởng cho
đội đoạt giải.
+ Một số học sinh nêu kiến thức, kỹ năng trong bài học mà trò chơi đã thể hiện.
Nguyên tắc để thực hiện trò chơi địa lý
- Để có một trò chơi đúng nghĩa và bổ ích phải hội tụ 3 yếu tố sau:
+ Xây dựng bầu không khí vui tươi, sống động, thu hút tất cả mọi học sinh cùng
tham gia
+ Rèn luyện kĩ năng phản ứng nhanh, tháo vát và quyết đoán…
+ Giáo dục chiều sâu: Thông qua các trò chơi giúp cho các em học sinh nhận
thức được tinh thần đoàn kết, tinh thần đồng đội và kỉ luật tập thể, tính trung thực.
- Để thực hiện trò chơi địa cần thực hiện những nguyên tắc sau:
+ Tổ chức trò chơi địa lý cần phải phù hợp với đặc điểm tâm lý, trình độ nhận thức và hoàn cảnh học tập của học sinh phù hợp với điều kiện vật chất và không gian, thời gian thực hiện
+ Nội dung trò chơi là nội dung địa lý hoặc có liên quan đến trực tiếp, giúp mở
rộng, năng cao kiến thức, kỹ năng địa lí
15
+ Trò chơi địa lý tuy mang tính tự nguyện tham gia, nhưng phải đề cao tính kỷ luật, ý thức tập thể của học sinh; đề cao được vai trò, tính tích cực sáng tạo của cá nhân học sinh.
Phân loại: có thể chia ra 3 nhóm trò chơi sau đây.
- Nhóm trò chơi dùng lời:
Với nhóm trò chơi chủ yếu bằng ngôn ngữ, nhiệm vụ của GV chủ yếu là đọc câu hỏi. Thông qua câu trả lời của người học, GV sẽ là người công bố đáp án, hình thức hỏi - đáp giúp các em tái hiện hoặc củng cố thêm kiến thức. Ở nhóm trò chơi này, GV phải là người linh hoạt trong việc dùng ngôn ngữ, động tác cơ thể hoặc di chuyển liên tục nhằm thu hút sự chú ý của HS, tạo bầu không khí sinh động cho tiết học. Các dạng trò chơi này rất phong phú và phổ biến như: trò chơi “Trả lời nhanh”, “Đoán từ”, “Ai là chuyên gia”.
- Nhóm trò chơi sử dụng phương tiện trực quan
Các phương tiện trực quan trong môn địa lý phổ biến là tranh ảnh, bản đồ, tập bản đồ, phim, sơ đồ, mô hình, sa bàn. Với các phương tiện nhìn thấy bằng mắt này, GV kết hợp dùng lời để mô tả, yêu cầu HS quan sát, nghiên cứu, ghi chép và trả lời nhằm tái hiện kiến thức, đánh giá, phản biện, giải thích các vấn đề địa lý. Tùy theo bài học, đối tượng và mục đích của GV mà phương tiện trực quan có thể sử dụng ở mức độ thời lượng sao cho hiệu quả và đảm bảo phát triển kỹ năng cho các em.
- Nhóm trò chơi có sử dụng công nghệ
Trong nhóm trò chơi này, GV và HS đều phải sử dụng máy tính, điện thoại thông minh có kết nối mạng để phục vụ cho việc tìm kiếm và tổng hợp kiến thức. Trò chơi lật hình, ghép hình là kết hợp giữa các hình ảnh và câu hỏi, HS phải trả lời các câu hỏi sau khi chọn số/chọn hình ảnh. Thao tác giở ra từng góc hình và đoán nội dung bị che giấu là điều HS rất hào hứng và còn có tác dụng phát huy khả năng ghi nhớ rất tốt. Trò chơi ô chữ là thông qua đoán các từ hàng ngang và lắp ghép các từ khóa để đoán được trọng tâm bài học sẽ giúp HS hệ thống kiến thức hiệu quả cũng như giúp HS phát huy tính quyết đoán của bản thân. Việc thiết kế trò chơi ô chữ trên phần mềm Powerpoin mất rất nhiều thời gian bởi sự phức tạp từ các hiệu ứng. Với môn địa lý, việc sử dụng phim đối với nhiều GV còn mang tính minh họa. Tuy nhiên HS rất quan tâm tới việc sử dụng đoạn phim làm học liệu và khai thác thông tin từ các đoạn phim nhằm minh họa, giải thích cho các đơn vị kiến thức. HS làm việc có hiệu quả hơn hẳn so với yêu cầu thông thường khi biến đoạn phim xem và ghi chép đơn thuần thành trò chơi liệt kê thông tin, giải thích sự phát triển.
3.1.1.2. Ví dụ minh họa.
Ví dụ minh họa 1.
Trong bài 24: Vấn đề phát triển ngành thủy sản và lâm nghiệp. Ở phần khởi động chúng tôi đã sử dụng phương pháp trò chơi “Tiếp sức đồng đội”. Mục đích để học sinh dựa vào những hiểu biết của mình đã được học, được trải nghiệm có thể liệt kê nhanh các thủy hải sản nuôi trồng và khai thác có giá trị. Xây dụng bầu không khí vui tươi
16
sống động, thu hút nhiều học sinh cùng tham gia. Rèn luyện kĩ năng phản ứng nhanh, tháo vát và quyết đoán… Giáo dục chiều sâu: Thông qua các trò chơi giúp cho các em học sinh nhận thức được tinh thần đoàn kết, tinh thần đồng đội và kỉ luật tập thể, tính trung thực, bồi dưỡng thêm tình yêu quê hương đất nước.
Bài 24: VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH THỦY SẢN VÀ LÂM NGHIỆP HĐ 1: Khởi động (6 phút)
1. Mục đích
- Liệt kê được nhanh các thủy hải sản nuôi trồng và khai thác có giá trị.
- Phát biểu được nhanh những thuận lợi khó khăn trong phát triển ngành thủy sản ở nước ta.
2. Nội dung
- Trò chơi: “Tiếp sức đồng đội ”
- Hình thức: cá nhân/nhóm nhỏ
- Bảng, phấn
3. Sản phẩm dự kiến: liệt kê nhanh các thủy hải sản nuôi trồng và khai thác có giá trị của nước ta.
4. Tổ chức thực hiện.
Bước 1. Chuyển giao nhiệm vụ: Trò chơi – Tiếp sức đồng đội
Bước 2. Giới thiệu thể lệ trò chơi
- Thành lập 2 đội chơi: mỗi đội 6 người (6 học sinh có số thứ tự lẻ, 6 học sinh có số thứ tự chẵn)
- Lần lượt HS ghi nhanh tên các thủy hải sản nuôi trồng và khai thác có giá trị lên bảng
- Mời 1 HS làm trọng tài quan sát và chấm điểm
- Thời gian hoàn thành 2 phút lần lượt mỗi HS kể tên các thủy hải sản nuôi trồng và khai thác có giá trị lên bảng
- Có thể vòng lại nhiều lượt.
Bước 3. Thực hiện nhiệm vụ: HS tiến hành chơi, GV và các học sinh khác quan sát, cổ vũ
Bước 4: GV cùng HS các còn lại chấm đội thắng. GV thưởng quà (vỗ tay, điểm cộng…) cho đội thắng.
Bước 5: GV nhận xét và dẫn dắt vào bài học
17
Kết quả: HS nhanh chóng liệt kê các thủy hải sản nuôi trồng và khai thác có giá trị, nếu được một số thuận lợi và khó khăn của ngành thủy sản nước ta. Không khí sôi nổi, HS hào hứng, phấn khởi, vui vẻ, hạnh phúc. Các em thấy được giá trị của tinh thần đoàn kết, trách nhiệm của bản thân.
Ví dụ minh họa 2.
Khi dạy đến bài 14: Vấn đề sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Chúng tôi đã sử dụng phương pháp trò chơi “ hiểu ý đồng đội ” để các em nhớ được các thuật ngữ liên quan về tài nguyên rừng, đất và sinh vật. Rèn kỹ năng diễn đạt bằng lời nói kết hợp ngôn ngữ hình thể; phát huy tính tích cực sáng tạo của cá nhân học sinh.
Bài 14: Vấn đề sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
HĐ 1. Khởi động (5 phút)
1. Mục đích
- Nhớ được các thuật ngữ liên quan về tài nguyên rừng, đất và sinh vật.
- Rèn kỹ năng diễn đạt bằng lời nói kết hợp ngôn ngữ hình thể.
2. Nội dung - Trò chơi/cặp đôi - Bộ từ, cụm từ 3 chủ đề: Rừng – Sinh vật – Đất. - Máy chiếu 3. Sản phẩm dự kiến - HS hiểu được một số thuật ngữ, vấn đề về môi trường 4. Tổ chức thực hiện
- Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ: GV hướng dẫn cả lớp chơi: “Hiểu ý đồng đội” GV chọn ngẫu nhiên 3 cặp lên bốc thăm lượt thi.
Thể lệ: Mỗi cặp lên thi sẽ bốc thăm 1 chủ đề (Không báo trước). Mỗi chủ đề có 6 từ hoặc cụm từ liên quan chủ đề. Trong thời gian 1,5 phút 1 bạn sẽ dùng lời để diễn đạt cho đồng đội đoán đúng từ hoặc cụm từ đó. Lưu ý, không được dùng từ đồng nghĩa, hoặc ký hiệu, ám hiệu khác…Từ nào khó có thể bỏ qua, còn thời gian sẽ quay lại đoán
18
tiếp. Hết thời gian, đội nào đoán được nhiều từ nhất đội đó thắng. Trong trường hợp số từ bằng nhau thì ai hoàn thành sớm hơn thì thắng hoặc ai bị phạm quy ít hơn sẽ thắng.
Chủ đề: Rừng; sinh vật; đất.
Rừng Sinh vật Đất
1. Cháy rừng 1. Đa dạng sinh học 1. Suy thoái
2. Rừng trồng 2. Tuyệt chủng
2. Nhiễm mặn, nhiễm phèn 3. Khai thác bừa bãi 3. Chất nổ
3. Nghèo dinh dưỡng 4. Lâm tặc 4. Sách đỏ
4. Cải tạo đất
5. Phủ xanh đất trống đồi trọc 6. Giao đất gia rừng
5. Vườn quốc gia 6. Ô nhiễm môi trường nước 5. Thâm canh 6. Định canh, định cư
- Bước 2: GV chọn 1 em lên làm MC , 1 thư ký và 1 trọng tài.
- Bước 3: Thực hiện nhiệm vụ :Tiến hành trò chơi.
- Bước 4: Tổng kết và GV vào bài mới. (GV có thể linh hoạt trong việc phần thưởng là quà hay điểm cộng).
Kết quả đạt được: HS đã biết được 1 số vấn đề liên quan đến bài học và muốn tìm hiểu rõ hơn về các vấn đề đó. HS hiểu bạn mình hơn. Rèn được kĩ năng diễn đạt, ngôn ngữ, sự sáng tạo của HS.
Ví dụ minh họa 3.
Hay khi tìm hiểu về các biểu hiện của thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa của nước ta qua các thành phần tự nhiên khác. Chúng tôi khởi động bằng phương pháp trò chơi “Ô chữ”, ô chữ được chuẩn bị trước bằng powerpoint. Thông qua trò chơi này giúp học sinh ghi nhớ kiến thức nhanh và sâu hơn, giúp các em hứng thú say mê môn học. Học sinh được hoạt động tập thể hình thành năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, tăng tinh thần trách nhiệm, đoàn kết hỗ trợ lẫn nhau.
BÀI 10. THIÊN NHIÊN NHIỆT ĐỚI ẨM GIÓ MÙA ( tiết 2 )
19
HĐ 1. Khởi động (5 phút)
1. Mục đích
- Ôn lại kiến thức cũ về quy luật thống nhất và hoàn chỉnh của lớp vỏ Địa lí trong chương trình lớp 10 và ảnh hưởng của vị trí địa lí Việt Nam.
- Rèn luyện cho học sinh kỹ năng liên hệ kiến thức cũ với bài mới.
2. Nội dung
- Trò chơi ô chữ
- Giáo viên chuẩn bị sẵn ô chữ, phiếu học tập, máy tính, máy chiếu.
3. Sản phẩm dự kiến HS nhớ lại kiến thức đã được học và vận dụng kiến thức của bản thân trả lời câu hỏi GV đưa ra. 4. Tổ chức thực hiện.
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ: GV chia lớp thành 2 dãy để thi đua và phổ biến thể lệ trò chơi. Lần lượt học sinh trong hai đội chọn các ô chữ hàng ngang, nếu trả lời đúng được 10 điểm và ô hàng ngang được mở ra với 1 chữ cái trong từ hàng dọc là chữ cái trong ô in đậm. Hai đội có thể trả lời ô hàng dọc bất kì lúc nào và giơ tay xin tín hiệu trả lời, điểm số của ô hàng dọc là 50 điểm. Kết thúc trò chơi đội nào được nhiều điểm hơn là đội thắng cuộc và được thưởng.
Bước 2: Chọn MC và thư kí
Bước 3: Chơi trò chơi, MC và thư kí tổng kết điểm, tuyên dương nhóm xuất sắc; Gv có thể cộng điểm cho cá nhân tích cực.
Bước 4: Giáo viên nhận xét và dẫn dắt vào bài.
Gợi ý từ khóa hàng dọc: từ gồm 10 chữ cái để chỉ tổng hợp các quyển của lớp vỏ địa lí.
Thời gian mỗi từ hàng ngang là 30 giây
T H O N G N H A T Câu 1
K H I H A U Câu 2
N H I E T D O I A M G I O M U A Câu 3
N H I E U D O I N U I Câu 4
Câu 5 L U A N U O C
Câu 6 T H I E N T A I
Câu 7 S O N G H O N G
Câu 8 B O I T U
Câu 9 F E R A L I T
Câu 10 X O I M O N
20
CÂU HỎI
1. Điền từ còn thiếu vào nội dung quy luật sau “Quy luật ……… và hoàn chỉnh của lớp vỏ địa lí là quy luật về mối quan hệ quy định lẫn nhau giữa các thành phần và của mỗi bộ phận lãnh thổ nhỏ trong lớp vỏ địa lí.”
2. Thành phần tự nhiên có vai trò chủ đạo trong sự hình thành và phân bố sinh vật?
3. Nêu tính chất chung của khí hậu Việt Nam.
4. Đặc trưng cơ bản nhất của địa hình nước ta.
5. Loại cây trồng phù hợp với khí hậu nóng ẩm và đất phù sa.
6. Khó khăn về mặt tự nhiên do vị trí địa lí mang lại cho Việt Nam.
7. Điền từ còn thiếu trong lời bài hát sau:
“Anh ở biên cương nơi con …………… chảy vào đất Việt.
Ở nơi anh đầu nguồn con nước, lắng phù sa in bóng đôi bờ.”
8. Cho biết hiện tượng trong hình 2 là hiện tượng tự nhiên nào?
9. Loại đất tiêu biểu ở nước ta.
10. Cho biết hiện tượng trong hình 1 là hiện tượng tự nhiên nào?
Kết quả: HS nhớ lại được nhanh kiến thức cũ ở lớp 10, biết thêm được những kiến thức khác. HS tham gia nhiệt tình, hào hứng, không khí lớp học vui vẻ, hạnh phúc.
3.1.2. Sử dụng phương pháp đóng vai:
3.1.2.1. Các bước thực hiện và cách thức triển khai:
+ Bước 1: Nêu bối cảnh để đóng vai, mục tiêu, yêu cầu, cách thức thực hiện.
+ Bước 2: Đề nghị HS nhận vai. GV hướng dẫn cách thực hiện.
+ Bước 3: Các vai được chọn lựa sẽ trình diễn nội dung học tập theo các hành động thích hợp. Số HS còn lại trong lớp quan sát và nhắc ý (nếu thấy cần thiết). (Chú ý:nếu thời gian còn nhiều, có thể cho một số HS khác thay một số vai trình diễn hoặc lặp lại nội dung đóng vai với một “kíp” HS khác).
+ Bước 4: Cho HS thảo luận quanh nội dung của các vai. Rút ra những kết luận cần thiết.
21
3.1.2.2. Ví dụ minh họa
Ví dụ minh họa 1
Trong phần khởi động bài 17: Lao động và việc làm, chúng tôi đã sử dụng phương pháp đóng vai. Mục đích là giúp HS suy nghĩ sâu sắc về vấn đề việc làm mà các em được đóng vai và quan sát được, kích thích trí tưởng tượng, sự sáng tạo, suy nghĩ, tìm tòi. Đồng thời phát triển khả năng ngôn ngữ, diễn đạt.
Bài 17: Lao động và việc làm
HĐ 1. Khởi động (5 phút)
1. Mục đích.
- Nêu được vấn đề cơ bản liên quan đến lao động và việc làm
- Liên hệ được tình hình bản thân Hs đang gặp phải
2. Nội dung.
- Đóng vai
- Diễn tiểu phẩm
- Bàn ghế, vật dụng…
3. Sản phẩm dự kiến.
- Học sinh hiểu thêm về thực trạng lao động, việc làm của nước ta hiện nay.
4. Tổ chức thực hiện.
- Bước 1: Vở kịch diễn ra tự nhiên. HS dẫn chuyện
Chuyện xảy ra trong 1 buổi tối cuối tuần của một gia đình có con học lớp 12
- Bố: Hương này, con chuẩn bị làm hồ sơ thi ĐH phải không? Con đã có phương án cuối
cùng chưa?
- Con gái: Con muốn thi vào trường đại học sư phạm địa lý bố ạ - Mẹ (thảng thốt): Trời ơi con ơi, học sư phạm làm gì, lương thấp ra trường lại khó xin việc, con không thấy con Bác Bình đó à, ra trường mấy năm rồi không xin được việc làm, lấy chồng sớm rồi còn gì
- Bố: Theo bố thấy, con nhanh nhẹn, con cứ học kinh tế, về sau này bố xin vào công ty
của Bác Chiến mà làm
- Con: Nhưng con không thích kinh doanh. Rủi ro nhiều lắm bố ơi. - Con: Mẹ ơi đừng lo, con tự xoay sở được - Mẹ (tru tréo): Trời ơi, trứng lại còn đòi khôn hơn vịt. Không được, không sư phạm, sư
viên gì hết.
- Bố (phụ họa): Phải đấy, bố thầy nghề đó nghèo lắm - Con: (giãy nảy): Đó là niềm yêu thích của con. Sao bố mẹ không hiểu con gì hết, (đứng
dậy vào phòng khóc).
- Mẹ: Giời đất ơi, con ơi là con
22
Dẫn chương trình: Các bạn thấy đấy, thi Đại học, chọn trường, chọn ngành không bao giờ là đơn giản. Giải quyết vấn đề việc làm cho 1 quốc gia đông dân như VN không bao giờ là dễ dàng.
Bước 2: GV đặt 1 số câu hỏi
Em có thấy hình ảnh của gia mình trong tiểu phẩm trên không?
Em đã chọn cho mình trường đại học nào chưa?
Em có đồng ý với quan niệm của bố và mẹ bạn Hương không?
Làm thế nào để lựa chọn trường, ngành nghề phù hợp?
HS: Suy nghĩ trả lời
GV tiếp lời vào bài mới: Vậy nên, bài học hôm nay cô và các em cùng nhau tìm hiểu vấn đề lao động và việc làm, giải pháp cho vấn đề này.
Kết quả: HS biết được thực trạng của vấn đề việc làm ở nước ta hiện nay và lúng túng trong việc lựa chọn trường, ngành nghề phù hợp với năng lực bản thân và xã hội. HS rất hứng thú khi được trải nghiệm vào vai: Mẹ, Bố, Con và qua đó cũng thấy được hình ảnh của gia đình mình, bồi đắp thêm tình yêu gia đình.
Ví dụ minh họa 2.
Bài 36. VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ HĐ1. Khởi động (5 phút)
1. Mục tiêu:
- Tạo hứng thú học tập và tiếp thu kiến thức cho học sinh.
- Phát huy năng lực tìm kiếm, xử lí thông tin và thuyết trình trước đám đông
2. Phương pháp dạy học:
- Đóng vai: Hướng dẫn viên du lịch
3. Sản phẩm dự kiến
- Giới thiệu về vùng Nam Trung Bộ
23
4. Tổ chức thực hiện.
- Bước 1: Gv cung cấp clip về vùng Nam Trung Bộ và cho HS về nhà tập trước giới thiệu về vùng với vai trò là một hướng dẫn viên
- Bước 2: GV và các HS khác đánh giá kết quả làm việc của HS thuyết trình.
- Bước 3: GV điều chỉnh kiến thức nếu cần rồi vào bài.
3.2. Sử dụng một số kỹ thuật dạy học
3.2.1. Kĩ thuật "Chia sẻ nhóm đôi"
3.2.1.1. Các bước thực hiện và cách thức triển khai:
+ Bước 1: Giáo viên giới thiệu vấn đề, đặt câu hỏi mở, dành thời gian để học sinh suy nghĩ.
+ Bước 2: Học sinh thành lập nhóm đôi và chia sẻ ý tưởng, thảo luận, phân loại.
+ Bước 3: Nhóm đôi này lại chia sẻ tiếp với nhóm đôi khác hoặc với cả lớp.
Lưu ý:
- Điều quan trọng là người học chia sẻ được cả ý tưởng mà mình đã nhận được, thay vì chỉ chia sẻ ý kiến cá nhân.
- Giáo viên cần làm mẫu hoặc giải thích.
3.2.1.2. Ví dụ minh họa.
Ví dụ minh họa 1.
Trong phần khởi động của bài 8: Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển, chúng tôi sử dụng kĩ thuật “chia sẻ nhóm đôi”. Thông qua kĩ thuật này học sinh sẽ chủ động suy nghĩ, lập nhóm, chia sẻ ý tưởng, thảo luận, phân loại những kiến thức liên quan đến vùng biển nước ta.
Bài 8: Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển
HĐ1. Khởi động (5 phút)
1. Mục đích
- Giúp cho HS gợi nhớ lại được những kiến thức:
+ Đặc điểm chung của địa hình nước ta.
+ Phạm vi lãnh thổ nước ta: vùng biển
+ Rèn luyện kĩ năng trình bày và khai thác Atlat cho học sinh về các đặc điểm và khu
vực địa hình của nước ta.
2. Nội dung
- Hoạt động cá nhân/nhóm
- Kĩ thuật Think – Pair - Share
24
- bản đồ SGK, atlat
3.Sản phẩm dự kiến
- HS nhớ lại kiến thức về vùng biển nước ta
- Nêu được các giá trị về vùng biển của địa phương
4. Tổ chức thực hiện
Bước 1: GV giao nhiệm vụ:
Dựa vào kiến thức đã học và những hiểu biết của bản thân, em hãy cho biết:
+ Vùng biển nước ta có những đặc điểm gì?
+ Địa phương em có biển không,liệt kê các giá trị của biển quê em
+ Em hãy liệt kê các thiên tai vùng biển địa phương em
- Think: HS làm việc cá nhân, nêu các đặc điểm, liệt kê các gái trị , thiên tai vùng biển trong 1 phút.
- Pair: HS chia sẻ cặp đôi, bổ sung thông tin từ bạn bè trong 2 phút
- Share: HS thể hiện vai trò lãnh đạo, tầm nhìn trước lớp, lập luận và trình bày trong 1 phút, có căn cứ khoa học, lập luận.
Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ
- Bước 3: GV cho HS xung phong chia sẻ quan điểm nhanh chóng. Các HS khác ghi nhận và cùng nêu quan điểm. GV đánh giá chung, tôn trọng quan điểm các em
Bước 4: GV chốt ý và khen ngợi HS
GV có thể cung cấp cho HS giấy viết có mặt dính để dính lên bảng các câu trả lời, yêu cầu mỗi em có thể viết nhiều tờ, nhưng mỗi tờ chỉ được viết một câu đơn nghĩa (để dễ tổng hợp kết quả).
25
Kết quả: HS được nhiều ý tưởng của các bạn và chia sẻ cả ý tưởng của mình đã nhận được. HS biết lắng nghe, tóm tắt ý của bản cùng nhóm phát triển kĩ năng nghe và nói
Ví dụ minh họa 2.
Bài 31. VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI VÀ DU LỊCH
HĐ1. Khởi động (5 phút)
1. Mục đích
- Kiến thức: Tái hiện lại được kiến thức về xuất- nhập của nước ta mà các em đã biết.
- Kĩ năng: Xử lý nhanh thông tin và kĩ năng quan sát Atlat.
- Từ những nội dung chưa biết, bổ sung và khắc sâu những kiến thức của bài học cho học sinh, định hướng nội dung bài học.
2. Nội dung
- Hoạt động cá nhân/nhóm
- Kĩ thuật Think – Pair - Share
- bản đồ SGK, atlat
3. Sản phẩm dự kiến HS nhớ lại kiến thức đã được học và vận dụng kiến thức của bản thân trả lời câu hỏi GV đưa ra. 4. Tiến trình hoạt động
- Bước 1: GV giao nhiệm vụ:
Dựa vào kiến thức đã học và những hiểu biết của bản thân, em hãy:
Kể tên các mặt hàng nước ta đang nhập khẩu nhiều hiện nay.
Kể tên các mặt hàng nước ta đang nhập khẩu nhiều hiện nay.
Kể tên các quốc gia là thị trường xuất khẩu của nước ta.
Kể tên các quốc gia là thị trường xuất khẩu của nước ta.
- Think: HS làm việc cá nhân, đề xuất liệt kê các mặt hàng, thị trường xuất nhập khẩu của nước ta trong 1 phút.
- Pair: HS chia sẻ cặp đôi trong 2 phút
- Share: HS thể hiện vai trò lãnh đạo, tầm nhìn trước lớp, lập luận và trình bày trong 1 phút, có căn cứ khoa học, lập luận.
Bước 2: HS phản biện nhanh thể hiện quan điểm.
Bước 3: GV chốt ý và khen ngợi, cho điểm HS.
3.2.2. Kĩ thuật phòng tranh.
3.2.2.1. Các bước thực hiện và cách thức triển khai.
+ Bước 1: GV nêu câu hỏi/ vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm.
26
+ Bước 2: Mỗi thành viên( hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác hoạ những ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung quanh lớp học như một triển lãm tranh.
+ Bước 3: HS cả lớp đi xem “ triển lãm’’ và có thể có ý kiến bình luận hoặc bổ sung.
+ Bước 4:Cuối cùng, tất cả các phương án giải quyết được tập hợp lại và tìm ph- ương án tối ưu.
Kĩ thuật này có thể sử dụng cho hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm.
3.2.2.2. Ví dụ minh họa.
Ví dụ minh họa 1.
Khi dạy bài 15: Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai, chúng tôi đã sử dụng kỹ thuật dạy học “phòng tranh” để tổ chức hoạt động khởi động. Mục đích từ quan sát học sinh sẽ biết được tình trạng môi trường ở nước ta hiện nay (Rác thải nhựa), đưa ra một số giải pháp. HS rèn luyện kĩ năng quan sát, phân tích, thay đổi không khí lớp học, biến lớp học thành không gian triển lãm tranh ảnh.
BÀI 15: BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI.
HĐ 1. Khởi động (5 phút)
1. Mục đích
- HS biết được MT nước ta đang trong tình trạng “báo động đỏ”.
- Liệt kê được các loại ô nhiễm MT ở nước ta.
- Đề xuất được những giải pháp để giải quyết tình trạng trên.
2. Nội dung
- kĩ thuật phòng tranh
- tranh ảnh HS sưu tầm 3. Sản phẩm dự kiến - tranh ảnh về ô nhiễm môi trường, rác thải nhựa 4. Tổ chức thực hiện
- Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ
GV: Yêu cầu HS các bức tranh ở vị trí thích hợp
Yêu cầu các em đi xem tranh, suy nghĩ và trả lời câu hỏi:
- Các hiện tượng ONMT được đề cập trong các bức tranh ảnh là gì? Thuộc môi trường nào?
- Vấn đề rác thải nhựa ở VN hiện nay như thế nào?
- Việt Nam đã làm gì để khắc phục tình trạng ONMT?
Bước 2: thực hiên nhiệm vụ
HS quan sát, đi xem “triển lãm” và trả lời các câu hỏi
27
- Bước 3: GV gọi HS ngẫu nhiên để trình bày. Gọi HS khác bổ sung (nếu cần).
- Bước 4: GV chốt ý và khen ngợi, cho điểm HS và dẫn nhập vào bài mới.
Kết quả: HS nhìn thấy được vấn đề ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay là vấn đề cấp bách, từ đó đưa ra một số giải pháp. HS được di chuyển, trao đổi với nhau. Không gian lớp học sinh động hơn.
Ví dụ minh họa 2.
BÀI 18: ĐÔ THỊ HÓA
HĐ1. Khởi động (5 phút)
1. Mục đích
- Giúp cho HS tiếp cận các thông tin, xâu chuỗi thông tin về vấn đề đô thị hóa ở nước ta và liên hệ với bài học.
- Có kỹ năng xem và phân tích hình vẽ kết hợp vốn hiểu biết để để tìm ra kiến thức.
- Tìm ra những nội dung HS chưa biết, để từ đó bổ sung và khắc sâu những kiến thức của bài học cho HS.
2. Nội dung.
- kĩ thuật phòng tranh.
- HS sưu tầm tranh ảnh.
- Hình thức: nhóm/cả lớp.
3. Sản phẩm dự kiến.
- Các tranh ảnh của nhóm về đô thị hóa ở nước ta: đô thị xưa, đô thị ngày nay, ảnh hưởng tích cực của đô thị, ảnh hưởng tiêu cực của đô thị, đô thị trong tương lai.
4. Tổ chức thực hiện.
- Yêu cầu: Xem “triển lãm” hãy:
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ
+ Nêu những thông tin mà em thu thập được về vấn đề đô thị hóa ở nước ta mà
hình vẽ đề cập đến?
28
+ Ngoài những thông tin tranh ảnh, hình vẽ mang đến, hãy nêu những hiểu biết
của bản thân về vấn đô thị hóa ở nước ta?
Bước 2: Thực nhiện nhiệm vụ
Học sinh xem tranh ảnh, ghi chép nhanh thông tin vào giấy nháp trong thời gian 2
phút
Bước 3: GV gọi bất kì một HS trình bày và tính điểm. GV ghi nhanh thông tin lên bảng.
Bước 4:
- GV nhận xét, đánh giá hoạt động của các nhóm.
- GV dẫn dắt vào bài: Trên đây là những thông tin chưa đầy đủ về quá trình của vấn đề đô thị hóa ở nước ta mà các em có được. Và bài 18 này sẽ giúp các em có một cái nhìn đầy đủ, rõ ràng và đa chiều hơn về vấn đô thị hóa ở nước ta.
Kết quả: HS nhìn thấy được vấn đề đô thị hóa ở nước ta xưa và nay. HS được di chuyển, trao đổi với nhau. Không gian lớp học sinh động hơn.
3.2.3. Kỹ thuật phân tích phim Video.
3.2.3.1. Các bước thực hiện và cách thức triển khai.
+ Bước 1: GV cho HS xem video. Phim video có thể là một trong các phương tiện để truyền đạt nội dung bài học. Phim nên tương đối ngắn gọn (3-5phút). GV cần xem qua trước để đảm bảo là phim phù hợp để chiếu cho các em xem.
+ Bước 2: HS xem video.
+ Bước 3: Sau khi xem phim video, yêu cầu HS làm việc một mình hoặc theo cặp và trả lời các câu hỏi hoặc viết tóm tắt những ý cơ bản về nội dung phim đã xem.
Lưu ý: Trước khi cho HS xem phim, hãy nêu một số câu hỏi thảo luận hoặc liệt kê các ý mà các em cần tập trung. Làm như vậy sẽ giúp các em chú ý tốt hơn.
3.2.3.2. Ví dụ minh họa .
Ví dụ minh họa 1.
Khi dạy bài 12: Thiên nhiên phân hóa đa dạng, trong phần khởi động chúng tôi đã sử dụng kĩ thuật “phân tích video”. Mục đích kết hợp giữa hình ảnh và âm thanh sẽ tác động tích cực đến cảm xúc của các em, tiết học thoải mái, nhẹ nhàng hơn. Từ đó HS được đặc điểm thời tiết, khí hậu của hai miền
Bài 12: Thiên nhiên phân hóa đa dạng HĐ 1. Khởi động (3 phút)
1. Mục đích
- Kiến thức: HS biết được sự khác nhau giữa khí hậu Bắc – Nam và muốn biết được nguyên nhân tại sao.
- Kĩ năng: quan sát và phân tích video, hình ảnh.
29
- Thái độ: nhận thức cái đẹp của thiên nhiên nước ta, khơi dậy lòng yêu thiên nhiên đất nước.
2. Nội dung
- Phương pháp phân tích video/clip.
- Máy tính, Loa, clip/video
3. Sản phẩm dự kiến.
- HS biết được khí hậu, thời tiết, cảnh quan miền bắc, miền nam qua bài hát
4. Tổ chức thực hiện
- Bước 1: GV cho HS xem video và nghe 1 đoạn bài hát Gửi nắng cho em, Link bài hát:
- Bước 2: Sau khi nghe xong GV yêu cầu HS nêu những đặc điểm thời tiết các vùng
miền qua bài hát theo phiếu học tập. (phụ lục)
- Bước 3: Một vài HS trả lời, HS nhận xét, bổ sung.
- Bước 4: GV dẫn dắt vào bài.
Phần khởi động: Các đặc điểm thời tiết của Miền Bắc và Miền nam nước ta có trong bài hát
Miền Bắc Miền Nam
Khí hậu/ Thời tiết
Cảnh quan
Tây Trường Sơn Đông Trường Sơn
Kết quả: HS nêu được 1 số đặc điểm của thời tiết Miền Bắc và Miền nam nước ta có trong bài hát. HS nhận thức cái đẹp của thiên nhiên nước ta, khơi dậy lòng yêu thiên nhiên đất nước. Tác động đến tâm trạng của HS: vui vẻ, hào hứng sẵn sàng tìm hiểu kiến thức ở các hoạt động khác.
Ví dụ minh họa 2.
Bài 26: CƠ CẤU NGÀNH CÔNG NGHIỆP
HĐ 1.Khởi động (3 phút)
1. Mục đích.
- Huy động những kiến thức và hiểu biết của học sinh về một số sản phẩm nổi bật của công nghiệp Việt Nam hiện nay.
- Rèn luyện năng lực phân tích, quan sát.
- Hình thành phẩm chất yêu nước, lòng tự tôn dân tộc.
30
2. Nội dung. - Thảo luận theo cặp. - Máy tính, máy chiếu, video về Vinfast. 3.Sản phẩm dự kiến. - Một số hiểu biết về ngành công nghiệp nước ta 4. Tổ chức thực hiện.
- Bước 1: GV chiếu 2 hình ảnh sau lên bảng, đặt câu hỏi cho cả lớp: Cho biết đây là logo thương hiệu của những sản phẩm nào? Nêu những hiểu biết của em về những sản phẩm đó.
Link tham khảo: https://vingroup.net/linh-vuc-hoat-dong/cong-nghiep
- Bước 2: Học sinh thảo luận theo cặp.
- Bước 3: HS xung phong trả lời câu hỏi.
- Bước 4: Giáo viên chuẩn kiến thức, cho HS xem 1 đoạn video về Vinfast và liên hệ về ngành công nghiệp Việt Nam để dẫn vào chương và bài học.
Kết quả: HS biết được một số đặc điểm ngành công nghiệp nước ta (ngành sản xuất ô tô). Tự hào về ngành công nghiệp nước ta. HS có thể đưa ra một số giải pháp cho sự phát triển ngành công nghiệp nước ta.
3.2.4. Kĩ thuật Kipling (5W1H).
3.2.4.1. Các bước thực hiện và cách thức triển khai.
Kĩ thuật này thường được dùng cho các trường hợp khi cần có thêm ý tưởng mới, hoặc xem xét nhiều khía cạnh của vấn đề, chọn lựa ý tưởng để phát triển.
- Dụng cụ
Giấy bút cho người tham gia.
+ Bước 1: GV cung cấp thông tin, phát phiếu học tập với các câu hỏi được đưa ra theo thứ tự ngẫu nhiên hoặc theo một trật tự định ngầm trước, với các từ khóa: Cái gì, Ở đâu, Khi nào, Thế nào, Tại sao, Ai.
Ví dụ:
+ Vấn đề là gì?
+ Vấn đề xảy ra ở đâu?
+ Vấn đề xảy ra khi nào?
31
+ Tại sao vấn đề lại xảy ra?
+ Làm thế nào để giải quyết vấn đề?
+ Ai sẽ tham gia giải quyết vấn đề?
+ Khi nào thì vấn đề giải quyết xong?
+ Bước 2: HS nghiên cứu thông tin, trả lời các câu hỏi
+ Bước 3: Học sinh trình bày và bổ sung chéo giữa các nhóm có cùng phiếu học tập.
Lưu ý
- Các câu hỏi cần ngắn gọn, đi thẳng vào chủ đề.
- Các câu hỏi cần bám sát vào hệ thống từ khóa 5W1H (What, where, when, who, why, how).
3.2.4.2. Ví dụ minh họa.
Ví dụ minh họa 1.
Bài 9. THIÊN NHIÊN NHIỆT ĐỚI ẨM GIÓ MÙA
HĐ 1. Khởi động(4 phút)
1. Mục đích
- Đánh giá được khác biệt về khí hậu giữa hai miền Nam Bắc và ảnh hưởng đến cuộc sống cũng như sản xuất.
- Rèn luyện cho học sinh kỹ năng làm việc nhóm và khai thác kiến thức từ các phương tiện truyền thông, đặt vấn đề trước một tình huống thực tế.
2. Nội dung.
- Phương pháp thảo luận nhóm/ Kĩ thuật Kipling.
- Phương tiện: Clip giáo viên chuẩn bị sẵn, phiếu học tập, máy tính, máy chiếu.
3. Sản phẩm dự kiến.
HS được thời điểm, địa điểm, cảnh quan thiên nhiên
4. Tổ chức thực hiện.
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ:
- GV chia lớp thành 6 nhóm (2 nhóm làm chung 1 nhiệm vụ), phát phiếu học tập và cho HS xem clip về bài hát “Gửi nắng cho em”
- Thời gian: 3 phút
PHIẾU SỐ 1
1. Cho biết nhân vật Anh trong lời bài hát hát đang ở đâu?
2. Nhân vật này muốn gửi gì cho cô gái?
PHIẾU SỐ 2
32
Cho biết nhân vật Em trong lời bài hát hát đang ở đâu? 1.
Tại sao sao nhân vật anh lại thương những người thợ cày thợ cấy? 2.
PHIẾU SỐ 3
1. Cho biết bài hát đang viết vào thời điểm nào trong năm?
2. Theo em tại sao nhân vật Anh lại nhớ đến đến hoa đào chứ không phải hoa mai?
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
Học sinh xem clip và trả lời câu hỏi trong thời gian 3 phút.
Bước 3: Học sinh trình bày và bổ sung chéo giữa các nhóm có cùng phiếu học tập.
Bước 4: Giáo viên chuẩn kiến thức và vào bài.
Ví dụ minh họa 2.
Bài 16: Đặc điểm dân số và phân bố dân cư nước ta
HĐ1. Khởi động(5 phút)
1. Mục đích.
- HS biết được về ngày tổng điều tra dân số và hiểu được mục đích của việc điều tra dân số.
2. Nội dung.
- Hình thức: Các câu hỏi được GV đưa ra theo thứ tự ngẫu nhiên hoặc theo một trật tự định ngầm trước, với các từ khóa: Cái gì, Ở đâu, Khi nào, Thế nào, Tại sao, Ai.
- Giấy nháp, bút.
- Kĩ thuật dạy học: Kipling.
3. Sản phẩm dự kiến.
Vận dụng kiến thức đã học và của bản thân trả lời các câu hỏi của giáo viên
4. Tổ chức thực hiện
- Bước 1: GV phát giấy nháp cho học sinh và giao nhiệm vụ.
Nhiệm vụ: GV sẽ đọc lần lượt các câu hỏi được GV sắp xếp theo logic. Lần lượt sau mỗi câu hỏi GV dùng thẻ lớp để rút thăm người trả lời. (Thẻ này được GV làm từ đầu năm học).
BỘ CÂU HỎI
1. Em biết gì về ngày 1 tháng 4? (Có thể có HS trả lời là ngày “cá tháng tư” – GV có thể linh hoạt kể một tình huống vui về ngày này. Nhưng, cần chú ý linh hoạt, không nên để HS dẫn lạc chủ đề)
2. Ngày này (điều tra dân số VN) được thực hiện bao lâu một lần? (Điều 29 của Luật Thống kê: 10 năm thực hiện 1 lần. Sau năm 1975 thực hiện các năm 1979 – 1989 – 1999 – 2009 – .......).
33
3. Tại sao chúng ta phải thực hiện đều đặn điều tra dân số các đợt như thế?
Em biết dân số nước ta năm ....... là bao nhiêu không? dự đoán dân số nước ta vào đến ngày 1/4/2029 sẽ như thế nào?
Dân số chính là nguồn nhân lực quan trọng cùng với phương thức sản xuất quyết định cho sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Điều tra dân số để phục vụ Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; phân tích và dự báo tình hình phát triển dân số; phục vụ đánh giá kết quả thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo từng giai đoạn; xây dựng chiến lược và các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn tiếp theo.
3. Em thử đề ra các giải pháp khắc phục tình trạng đó?
- Bước 2: HS suy nghĩ và note trong vòng 1 phút
- Bước 3: tiến hành Hỏi/Đáp.
- Bước 4: GV đánh giá và vào bài mới
3.2.5. Kĩ thuật KWL
3.2.5.1. Các bước thực hiện và cách thức triển khai + Bước 1. GV giới thiệu bài học, phát phiếu học tập KWLH cho HS. Tạo bảng KWL. Giáo viên vẽ một bảng lên bảng, ngoài ra, mỗi học sinh cũng có một mẫu bảng của các em. Có thể sử dụng mẫu sau:
K(Know: Điều đã biết)
W(Want to know: Điều muốn biết) L(Learned: Điều đã được học)
K(Know: Điều đã biết) W(Want to know: Điều muốn biết) H(How can to learn more)
L(Learned: Điều đã được học)
+ Bước 2. Hướng dẫn HS điền các thông tin vào phiếu. Bảng KWLH + Bước 3. Đề nghị HS động não nhanh và viết ra những điều có liên quan vào cột K và W. - Bước 4. GV thu phiếu và tổng hợp qua các ý kiến của HS, trên cơ sở đó tạo ra các tình huống có vấn đề giữa cái biết và cái chưa biết. Lưu ý: - Đề nghị học sinh động não nhanh và nêu ra các từ, cụm từ có liên quan đến chủ đề. Cả giáo viên và học sinh cùng ghi nhận hoạt động này vào cột K. Hoạt động này kết thúc khi học sinh đã nêu ra tất cả các ý tưởng. Tổ chức cho học sinh thảo luận về những gì các em đã ghi nhận.
- Một số lưu ý tại cột K
34
Chuẩn bị những câu hỏi để giúp học sinh động não. Đôi khi để khởi động, học sinh cần nhiều hơn là chỉ đơn giản nói với các em: "Hãy nói những gì các em đã biết về..."
Khuyến khích học sinh giải thích. Điều này rất quan trọng vì đôi khi những điều
các em nêu ra có thể là mơ hồ hoặc không bình thường.
Hỏi học sinh xem các em muốn biết thêm điều gì về chủ đề. Cả giáo viên và học sinh ghi nhận câu hỏi vào cột W. Hoạt động này kết thúc khi học sinh đã nêu ra tất cả các ý tưởng. Nếu học sinh trả lời bằng một câu phát biểu bình thường, hãy biến nó thành câu hỏi trước khi ghi nhận vào cột W.
- Một số lưu ý tại cột W
Hỏi những câu hỏi tiếp nối và gợi mở. Nếu chỉ hỏi các em: "Các em muốn biết thêm điều gì về chủ đề này?" Đôi khi học sinh trả lời đơn giản "không biết", vì các em chưa có ý tưởng. Hãy thử sử dụng một số câu hỏi sau:
"Em nghĩ mình sẽ biết thêm được điều gì sau khi em đọc chủ đề này?"
Chọn một ý tưởng từ cột K và hỏi: "Em có muốn tìm hiểu thêm điều gì có liên
quan đến ý tưởng này không?"
Chuẩn bị sẵn một số câu hỏi của riêng bạn để bổ sung vào cột W. Có thể bạn mong muốn học sinh tập trung vào những ý tưởng nào đó, trong khi các câu hỏi của học sinh lại không mấy liên quan đến ý tưởng chủ đạo của bài đọc. Chú ý là không được thêm quá nhiều câu hỏi của bạn. Thành phần chính trong cột W vẫn là những câu hỏi của học sinh.
Yêu cầu học sinh đọc và tự điền câu trả lời mà các em tìm được vào cột L. Trong quá trình đọc, học sinh cũng đồng thời tìm ra câu trả lời của các em và ghi nhận vào cột W.
Học sinh có thể điền vào cột L trong khi đọc hoặc sau khi đã đọc xong.
- Một số lưu ý tại cột L
Ngoài việc bổ sung câu trả lời, khuyến khích học sinh ghi vào cột L những điều các em cảm thấy thích. Để phân biệt, có thể đề nghị các em đánh dấu những ý tưởng của các em. Ví dụ các em có thể đánh dấu tích vào những ý tưởng trả lời cho câu hỏi ở cột W, với các ý tưởng các em thích, có thể đánh dấu sao.
Đề nghị học sinh tìm kiếm từ các tài liệu khác để trả lời cho những câu hỏi ở cột W mà bài đọc không cung cấp câu trả lời. (Không phải tất cả các câu hỏi ở cột W đều được bài đọc trả lời hoàn chỉnh)
Thảo luận những thông tin được học sinh ghi nhận ở cột L
Khuyến khích học sinh nghiên cứu thêm về những câu hỏi mà các em đã nêu ở
cột W nhưng chưa tìm được câu trả lời từ bài đọc. 3.2.5.2. Ví dụ minh họa . Ví dụ minh họa 1
35
Bài 31: Vấn đề phát triển ngành giao thông vận tải và thông tin liên lạc
HĐ1. Khởi động (4 phút)
1. Mục đích.
- Kiến thức: HS vận dụng được kiến thức thực tế để đưa ra các loại hình giao thông ở
nước ta mà các em biết.
- Từ những nội dung chưa biết, bổ sung và khắc sâu những kiến thức của bài học cho
học sinh, định hướng nội dung bài học.
2. Nội dung. - Kĩ thuật : Bảng KWLH - Máy chiếu, bảng phụ, giấy nhỏ. 3. Sản phẩm dự kiến
Vận dụng kiến thức đã học, hiểu biết bản thân trả lời các câu hỏi của giáo viên
4. Tổ chức thực hiện - Bước 1. GV giới thiệu bài học, phát phiếu học tập KWLH cho HS. - Bước 2. Hướng dẫn HS điền các thông tin vào phiếu. Bảng KWLH Họ và tên: K Em đã biết gì về thông vận giao tải và thông tin liên lạc ở nước ta
L Em đã học được gì về giao thông vận tải và thông tin lạc ở liên nước ta
W Em muốn biết giao về gì tải thông vận và tin thông liên lạc ở nước ta
Lớp: H Em có thể đưa ra những giải pháp nào cho hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc trong bài học hôm nay? Em muốn biết thêm gì giao thông vận tải và thông tin liên lạc ở nước ta, phương pháp tìm hiểu
- Bước 3. Đề nghị HS động não nhanh và viết ra những điều có liên quan đến giao thông vận tải và thông tin liên lạc ở nước ta vào cột K và W. - Bước 4. GV thu phiếu và tổng hợp qua các ý kiến của HS, trên cơ sở đó tạo ra các tình huống có vấn đề giữa cái biết và cái chưa biết về giao thông vận tải và thông tin liên lạc ở nước ta Sau đó, GV kết nối vào bài mới.
36
Kết quả: HS đã biết được một số kiến thức cơ bản về GTVT nước ta. Phát triển năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề, phân tích của học sinh. HS hào hứng, tò mò muốn tìm hiểu kiến thức tiếp theo. 3.3. Các biện pháp tổ chức hoạt động khởi động.
Trong quá trình sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học dạy học tích cực vào phần khởi động, để cho phần khởi động có hiệu quả cao, góp phần xây dựng tiết học hạnh phúc. Chúng tôi rút ra một số biện pháp và kinh nghiệm sau:
- Xác định mục tiêu khởi động:
Việc thay đổi hình thức khởi động từ việc chỉ dùng một vài câu để dẫn dắt vào bài thay bằng việc tổ chức khởi động thành một hoạt động để học sinh được tham gia trực tiếp giải quyết vấn đề khởi động; hoạt động khởi động phải xác định rõ mục tiêu cần đạt, phương pháp và kỹ thuật tổ chức, phương tiện cần dùng; chuyển giao nhiệm vụ cho học sinh một cách rõ ràng. Nhiệm vụ khi chuyển giao cho học sinh trong hoạt động khởi động cần kiểm kê lại kiến thức của học sinh (xem học sinh đã có được kiến thức gì liên quan đến bài học), tạo hứng thú cho học sinh, tạo ra tình huống có vấn đề để dẫn dắt HS vào phần hình thành kiến thức mới.
- Kỹ thuật cơ bản khi xây dựng hoạt động khởi động.
Với phương pháp dạy học truyền thống, khởi động chỉ bằng một vài câu dẫn nhập nên không mất nhiều thời gian. Với hình thức đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh ngay từ hoạt động khởi động, do đó khởi động cần tổ chức thành hoạt động để học sinh trực tiếp tham gia nên sẽ cần lượng thời gian nhiều hơn. Do đó khi xây dựng kịch bản cho hoạt động khởi động giáo viên cần lưu ý không lấy những nội dung không thiết thực với bài học, tránh lấy những nội dung mang tính chất minh họa mà cần cụ thể: Sử dụng nội dung bài học để khởi động, sao cho trong khởi động sẽ bao quát được nội dung bài học, qua đó giúp GV biết được học sinh đã có kiến thức gì trong bài mới và chưa biết gì để khai thác sâu vào những nội dung học sinh chưa biết (điều này có thể sẽ khác nhau ở từng lớp nên giáo viên cần có sự điều chỉnh kịp thời để phù hợp với đối tượng học sinh ở các lớp). Hoạt động khởi động là bước “thực hiện các động tác nhẹ trước khi thực hiện công việc” nên việc khởi
37
động cũng cần nhẹ và sinh động để tạo sự hấp dẫn cho học sinh. Việc đặt câu hỏi hay tình huống khởi động cần chú ý tạo được hứng thú cho học sinh: Để học sinh được thực hiện nhiệm vụ, được tham gia trả lời câu hỏi hoặc tham gia vào các tình huống khởi động. Câu hỏi/tình huống đưa ra ở phần này cũng cần có nhiều mức độ trong đó nhất thiết phải có câu dễ học sinh nào cũng có thể trả lời được. Khi các em trả lời được sẽ phần nào sẽ cảm thấy vui vẻ, thích thú để tạo tâm lý tốt khi vào bài học. Ở mỗi hoạt động khởi động đều xuất phát từ nội dung bài học, nhưng nếu tình huống nào đưa ra học sinh cũng giải quyết được thì các em sẽ không có hứng thú tìm hiểu kiến thức mới, không kích thích được trí tò mò và nhu cầu học tập một cách chủ động và tích cực của các em. Do đó bên cạnh câu hỏi dễ cần có một lượng nhất định các câu hỏi khó liên quan đến nội dung bài học, đòi hỏi học sinh phải tư duy, phải chủ động khai thác kiến thức mới thì mới trả lời được. Do đó, trong hoạt động khởi động nếu giáo viên tìm ra được tình huống khó nhưng lại hấp dẫn, kích thích trí tò mò của các em thì dù là học sinh khá giỏi hay học sinh trung bình, học sinh yếu cũng sẽ có nhu cầu tìm hiểu để trả lời. Từ đó dẫn các em vào bài học một cách tự nhiên, không gò bó mà các em tự giác, tích cực học tập để giải quyết cái khúc mắc đã được đưa ra từ tình huống ban đầu.
Khi áp dụng tổ chức hoạt động khởi động cho tất cả các tiết học ở các lớp thì
GVBM nên lưu ý:
+ Kế hoạch hoạt động đã xây dựng cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm học sinh của từng lớp; tránh việc xây dựng 1 tình huống cố định dùng chung cho tất cả các lớp trong cùng một khối.
+ Phương án xây dựng tình huống khởi động giữa các tiết, các bài học nên có sự đổi mới về hình thức, phương pháp; tránh sự nhàm chán cho học sinh khi tiết học nào cũng tổ chức hoạt động khởi động theo kiểu “đến hẹn lại lên” với các bước tuần tự như nhau. Để một tiết học thực sự hạnh phúc có ý nghĩa với cả Thầy và Trò thì tâm huyết và cảm xúc của người Thầy đóng vai trò rất quan trọng. Người Thầy muốn lan tỏa hạnh phúc cho trò, bản thân thầy cô giáo phải là người hạnh phúc. Mặt khác thầy cô giáo phải thay đổi hành vi, thái độ với học sinh theo hướng thân thiện, gần gũi, yêu thương giảm áp lực, tạo hứng thú trong học tập; luôn tôn trọng, lắng nghe và chia sẻ nhưng vẫn trong khuôn khổ kỷ cương trường lớp. Hạnh phúc với người học đôi khi rất giản dị, một lời hỏi thăm, nhắn nhủ, động viên; một lời phê, nhận xét chính xác, chân tình; một giờ giảng hay, hấp dẫn; một phong cách giản dị, trong sáng, mực thước với trí tuệ uyên bác của thầy cô đều để lại những ấn tượng, hình ảnh đẹp sẽ theo người học suốt cuộc đời. Không phải giáo viên nào khi lên lớp đều cũng làm được như vậy, mỗi giáo viên phải tự rèn luyện, tự kiểm soát cảm xúc và nuôi dưỡng cảm xúc tích cực. Chúng tôi rất tâm đắc với câu nói: “Người giáo viên hạnh phúc sẽ thay đổi cả thế giới”.
38
CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
4.1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sư phạm (TNSP) được tiến hành nhằm đánh giá tính khả thi, hiệu quả của việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong hoạt động khởi động tại trường chúng tôi đang công tác, trường THPT Quỳnh Lưu 3 và xin được tiến hành thực nghiệm sư phạm tại một số trường trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu.
4.2. Nội dung của thực nghiệm sư phạm.
Với mục đích TNSP như trên, tôi đã xác định các nhiệm vụ TNSP như sau:
- Chọn đối tượng để tổ chức TNSP.
- Xác định nội dung và phương pháp TNSP.
- Chuẩn bị các kế hoạch bài học, phương tiện dạy học, bộ công cụ đánh giá…
- Lập kế hoạch và tiến hành TNSP.
- Xử lí kết quả TNSP, rút ra kết luận.
4.3. Tiến hành thực nghiệm sư phạm.
4.3.1. Chọn đối tượng thực nghiệm.
- Đối tượng TNSP được lựa chọn là học sinh lớp 12 tại trường THPT Quỳnh Lưu 3 và một số trường THPT trên địa bàn huyện như trường THPT Quỳnh Lưu 1, THPT Quỳnh Lưu 2.
4.3.2. Chọn nội dung thực nghiệm
Để đảm bảo tính hiệu quả, khả thi, phổ biến trong quá trình thực nghiệm thì việc chọn nội dung TN dựa trên: cấu trúc, mục tiêu, chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ của chương trình địa lý (ban cơ bản).
- Tiến hành dạy thử nghiệm
Tên bài dạy: Bài 14:sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
+ Chọn lớp: 12D1 làm lớp thực nghiệm (TN); Lớp 12D3, làm lớp đối chứng (ĐC);
12A1 làm lớp thực nghiệm (TN); Lớp 12A2, làm lớp đối chứng (ĐC); 12A5 làm lớp thực nghiệm (TN); Lớp 12A01, làm lớp đối chứng (ĐC);
+ Địa điểm: Trường THPT Quỳnh Lưu 3 và trường THPT Quỳnh Lưu 2, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
+ Giáo án tiết thử nghiệm
Tên bài dạy: Bài 17: Lao động và việc làm.
+ Chọn lớp: 12C3 làm lớp thực nghiệm (TN); Lớp 12C1, làm lớp đối chứng (ĐC);
12A4 làm lớp thực nghiệm (TN); Lớp 12D4, làm lớp đối chứng (ĐC);
+ Địa điểm: Trường THPT Quỳnh Lưu 3 và trường THPT Quỳnh lưu 1, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
39
+ Giáo án tiết thử nghiệm.
4.3.3.Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Dự giờ thăm lớp.
- Phiếu điều tra thăm dò.
4.3.4. Kết quả thực nghiệm.
4.3.4.1. Kết quả qua phiếu điều tra thăm dò.
Khi dạy bài 14: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trong phần khởi động có sử dụng phương pháp trò chơi ở lớp thực nghiệm 12D1, 12A1( Tại trường THPT Quỳnh Lưu 3), lớp 12A5 (Tại trường THPT Quỳnh lưu 2) trong phiếu điều tra thăm dò dựa trên một số tiêu chí:
- Tiêu chí 1: Mức độ thu hút.
- Tiêu chí 2: Mức độ thú vị, hấp dẫn.
- Tiêu chí 3: Mức độ tích cực, chủ động.
- Tiêu chí 4: Mức độ duy trì cảm xúc tích cực.
- Tiêu chí 5: Mức độ phát triển năng lực, phẩm chất.
Chúng tôi thu được kết quả như sau:
Lớp 12D1
Tiêu chí Các mức độ (Tỉ lệ %)
Trung bình Thấp Cao
Tiêu chí 1 27,9 9,3 62,8
Tiêu chí 2 25,6 14,0 60,4
Tiếu chí 3 27,9 11,6 60,5
Tiêu chí 4 27,2 8,6 64,2
Tiêu chí 5 23,6 9,7 66,7
Lớp 12A1
Tiêu chí Các mức độ (Tỉ lệ %)
Thấp Cao Trung bình
Tiêu chí 1 26,9 10,3 62,8
Tiêu chí 2 27,6 12,0 60,4
Tiếu chí 3 26,9 9,6 63,5
Tiêu chí 4 27,2 11,9 60,9
40
Tiêu chí 5 12,6 25,6 61,8
Lớp 12A5( Trường THPT Quỳnh Lưu 2)
Tiêu chí Các mức độ (Tỉ lệ %)
Trung bình Thấp Cao
8,3 23,9 67,8 Tiêu chí 1
10,0 21,6 68,4 Tiêu chí 2
9,6 25,9 64,5 Tiếu chí 3
11,9 27,2 60,9 Tiêu chí 4
8,6 26,6 64,8 Tiêu chí 5
Còn ở những lớp đối chứng khi chúng tôi khởi động bằng câu dẫn đơn giản thì kết qủa thu được như sau:
Lớp 12D3
Các mức độ (Tỉ lệ %) Tiêu chí
Trung bình Thấp Cao
27,5 63,2 9,3 Tiêu chí 1
25,6 60,4 14,0 Tiêu chí 2
27,9 60,5 11,6 Tiếu chí 3
30,2 55,9 13,9 Tiêu chí 4
32,6 55,8 11,6 Tiêu chí 5
Lớp 12A2
Tiêu chí Các mức độ (Tỉ lệ %)
Thấp Cao Trung bình
30,0 59,6 10,4 Tiêu chí 1
26,5 59,9 13,6 Tiêu chí 2
28,6 59,4 12,0 Tiếu chí 3
31,2 54,8 14,0 Tiêu chí 4
32,6 54,8 12,6 Tiêu chí 5
Cũng tương tự khi dạy bài 17: Lao động và việc làm với hình thức và phương pháp khởi động là đóng vai. Ở những lớp thực nghiệm 12C3. 12A4 tiêu chí 1, 2, 3, 4, 5 mức
41
độ cao đạt trên 60%, còn ở lớp đối chứng 12C1, 12D4 tiêu chí 1, 2, 3, 4, 5 chủ yếu ở mức độ trung bình.
4.3.4.2. Nhận xét, đánh giá của Thầy (cô), học sinh.
Một số GV khi dự giờ thực nghiệm đều cho rằng: Không khí tiết học rất sôi nổi, tích cực, truyền cảm hứng và nguồn năng lượng tích cực cho HS trong suốt tiết học. HS rất hào hứng tham gia giờ học. Những tình huống và tư liệu mà GV đã chuẩn bị cho tiết học không chỉ phát huy được năng lực tự học của HS mà còn phát huy được các năng lực khác của bản thân như: năng lực giao tiếp, năng lực làm việc nhóm… điều đó không chỉ có ý nghĩa là nâng cao kết quả học tập mà còn là giải pháp để tập cho các em có thói quen độc lập, năng động trong học tập cũng như trong cuộc sống sau này.
- Cô giáo Nguyễn Bá Tình (Hiệu trưởng nhà trường) nhận xét:
“ Các đồng chí đã rất sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động khởi động. Các
em học sinh đã tự chủ trong quá trình học tập và có sự chuẩn bị tốt.”
- Cô giáo Hồ Thị Bình(Tổ trưởng tổ KHXH) cho biết:
“Không khí lớp học rất sôi nổi, vui vẻ, thoải mái. Học sinh tích cực tham gia các hoạt động khởi động, được thỏa sức thể hiện khả năng, năng lực sáng tạo của bản thân. Đối với giáo viên đã nâng cao được vai trò là người tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học của học sinh.”
Qua trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp ở các trường THPT trong huyện đã tiến hành thực nghiệm thì đều có nhận xét chung là rất khả thi, khả năng ứng dụng cao, phát huy được hiệu quả năng lực tự học cho học sinh. Đặc biệt với cách thiết kế các hoạt động khởi động như trên có thể áp dụng thực hiện trong toàn chương trình Địa lí THPT.
- Cô giáo Bùi Thị Hậu(GVG tỉnh môn Địa lí, trường THPT Yên Thành 3) cho
hay:
“Các hoạt động học tập phát triển năng lực tự học cho HS là một hình thức giúp cho HS có thói quen học tập theo nhóm. Từ đó hình thành cho các em thói quen tự tìm tòi, sáng tạo. Các hoạt động dạy học được thiết kế vừa sức không chỉ phát triển được năng lực tư duy độc lập, tự chủ mà còn rèn luyện được cả cách trình bày lập luận của HS một cách logic.”
- Cảm nhận của học sinh
Phần lớn các em cho rằng: Giờ học thực nghiệm các em rất hứng thú trong học tập vì các em được trực tiếp tham gia các hoạt động trong phần khởi động. Tiết học diễn ra nhẹ nhàng, vui vẻ, thoải mái. Các em được làm việc tích cực hơn và đều phải tham gia vào giờ học nên các em cho rằng sau giờ học các em hiểu bài ngay trên lớp. Còn HS các lớp đối chứng thì đa số các em cho rằng giờ học hôm nay rất bình thường vì thế rất nhiều HS ểu oải, chưa tích cực tham gia vào giờ học.
Em Nguyễn Thị Hồng Nhung (HS lớp 12D1) viết:“ Em rất hào hứng khi tham gia hoạt động khởi động. Em được thoải mái thể hiện sở trường, sở đoạn của mình. Em
42
không chỉ khám phá được năng lực của bản thân mà còn thấy bản thân tự tin hơn trong con đường tìm đến với tri thức.” (Trích cảm tưởng của HS)
Em Trương Thị Thủy (HS lớp 12A1) cho biết:
“Chúng em chủ yếu học các môn khoa học tự nhiên, liên quan đến nhiều con số, nên khi đến giờ Địa lý được tham gia vào các hoạt động khởi động, chúng em cảm thấy rất thoải mái, vui vẻ, hào hứng.Chúng em cảm thấy giờ học không gò bó, nặng nề, mà lại được chơi, được thể hiện chính mình.Vì vậy chúng em chỉ mong đến giờ học địa lý đặc biệt là phần khởi động.”
4.3.5. Phân tích kết quả thực nghiệm.
- Ưu điểm:
Tổ chức thành các hoạt động, đa dạng về hình thức tổ chức; thu hút được sự chú ý và tham gia của học sinh; thông qua việc các em được tham gia trực tiếp vào hoạt động, được học tập tích cực và kích thích sự sáng tạo bằng các tình huống “có vấn đề” giúp các em chú ý hơn vào bài học, học tập một cách chủ động và tích cực hơn trong tiết học. Học sinh đã phát huy được năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác nhóm, năng lực giao tiếp, ngôn ngữ của học sinh; đồng thời hình thành được các năng lực chuyên biệt của môn Địa lí như tư duy theo lãnh thổ, năng lực sử dụng bản đồ, sơ đồ địa lí, tranh ảnh địa lí....phát triển năng lực cảm xúc EQ, góp phần xây dựng tiết học hạnh phúc.
- Hạn chế:
Trong số các hoạt động khởi động đã xây dựng, dù ít nhưng vẫn có hoạt động học sinh ít tích cực trong tiết học, kéo dài thời gian, có những lúc HS vui quá ảnh hưởng tới các hoạt động tiếp theo, đôi khi hơi ồn ảnh hưởng đến các lớp khác. Quá trình thực hiện cần tiếp tục điều chỉnh hoạt động đa dạng và hấp dẫn hơn để phát huy tối đa tính tích cực, năng lực và phẩm chất của học sinh.
4.3.5. Kết luận thực nghiệm.
Để tiết học mang lại hiệu quả cao, phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh, giúp các em chủ động lĩnh hội kiến thức thì việc đổi mới phương pháp của người giáo viên đứng lớp có vai trò quan trọng hàng đầu. Mỗi giáo viên trong quá trình giảng dạy cần tự học hỏi, tự tìm tòi và sáng tạo để đa dạng hóa các hình thức tổ chức học tập cho học sinh. Một tiết học có thực sự tích cực và thu hút sự quan tâm chú ý củ học sinh hay không thì phải bắt đầu ngay từ hoạt động đầu tiên: Hoạt động khởi động. Nếu ngay từ khởi động mà không thu hút được sự quan tâm và không phát huy được tính tích cực của học sinh thì ở các hoạt động sau sẽ rất khó để đưa các em vào guồng của một tiết học phát huy tính tích cực của học sinh. Nếu giáo viên đánh mất 2 phút đầu tiên, thì những phút còn lại chỉ làm một việc là kéo chúng lại. Khởi động bắt đầu giờ học, hãy làm điều gì đó khác đi.
43
44
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Một số kết quả đạt được.
1.1. Đối với giáo viên.
Việc sử dụng đa dạng hóa các phương pháp, kĩ thuật dạy học trong phần khởi
động đã giúp giáo viên có thêm kiến thức về các hoạt động khởi động, cụ thể là:
- Biết được một cách rõ ràng mục đích của hoạt động khởi động và làm nó một
cách có chủ đích.
- Giúp GV hiểu được sự liên kết giữa các hoạt động khởi động với các hoạt động
trong bài học và với cả những bài học hôm trước.
- Trả lời được câu hỏi: Vì sao một hoạt động khởi động lại lôi cuốn hoặc không
lôi cuốn được sự tham gia của học sinh.
- Biết được cách thức tổ chức hoạt động khởi động sao cho hiệu quả, thời lượng
dành cho hoạt động khởi động bao nhiêu là đủ.
- Làm thế nào để hoạt động khởi động có thể lôi cuốn được tất cả học sinh cùng
tham gia và đưa phản hồi tốt nhất.
- Mục đích là tạo tâm thế học tập cho học sinh, giúp các em ý thức được nhiệm vụ học tập, hứng thú với học bài mới. Giáo viên đã tạo tình huống học tập dựa trên việc huy động kiến thức, kinh nghiệm của học sinh có liên quan đến vấn đề xuất hiện trong tài liệu làm bộc lộ "cái" học sinh đã biết, bổ khuyết những gì cá nhân học sinh còn thiếu, giúp học sinh nhận ra "cái" chưa biết và muốn biết thông qua hoạt động này. Từ đó, giúp học sinh suy nghĩ và bộc lộ những quan niệm của mình về vấn đề sắp tìm hiểu, học tập. Vì vậy, các câu hỏi, hay nhiệm vụ trong hoạt động khởi động là những câu hỏi, hay vấn để mở, chưa cần HS phải có câu trả lời hoàn chỉnh.
- Việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học trong phần khởi động một cách nhuần nhuyễn, linh động, linh hoạt giáo viên đã làm cho học sinh cảm thấy luôn thư giãn, thoải mái, hào hứng, năng nổ để sẵn sàng trải nghiệm những bài học. Góp phần xây dựng nên những tiết học hạnh phúc, phát triển năng lực cảm xúc EQ.
1.2. Đối với học sinh.
Từ kết quả nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn, chúng tôi đã lập được các tiêu chí đánh giá sau khi sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để khởi động nhằm phát huy các năng lực, phẩm chất của học sinh đó là:
+ Năng lực thu thập và xử lý thông tin một cách nhanh và hiệu quả nhất.
45
+ Năng lực tổ chức các hoạt động như vẽ tranh ảnh, tổ chức các hoạt động trò
chơi, đóng vai….
+ Năng lực xử lý nhanh thông tin và kĩ năng quan sát Atlat.
+ Rèn luyện cho học sinh kỹ năng làm việc nhóm và khai thác kiến thức từ các
phương tiện truyền thông, đặt vấn đề trước một tình huống thực tế.
+ Phẩm chất: Yêu nước, nhân ái, trung thực, trách nhiệm, chăm chỉ.
+ “Nhập vai” để hạnh phúc, học sinh không cảm thấy bị áp đặt vào khuôn mẫu cố định, nhồi nhét kiến thức. Các em được bày tỏ ý kiến, cảm xúc của mình, được tôn trọng và được lắng nghe. Từ đó, giúp các em tự tin, hòa đồng và tiếp thu bài học tốt hơn, góp phần phát triển nhân cách tốt đẹp.
2. Kết luận.
Đổi mới phương pháp dạy học nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục về kiến thức hình thành những năng lực và phẩm chất cần thiết cho học sinh trong thời đại mới; để thực hiện được điều đó thì vai trò của người giáo viên cần tiên phong đi đầu trong công tác đổi mới. Việc đổi mới không phải bắt đầu từ hoạt động học mà cần bắt đầu từ hoạt động dạy của người thầy. Hoạt động dạy- học lúc này chuyển từ việc lấy giáo viên hay học sinh làm trung tâm sang lấy hoạt động học của học sinh làm trung tâm; tất cả các hoạt động tiến hành trong tiết học đều hướng tới mục tiêu là hoạt động học của học sinh, thông qua hoạt động học để học sinh tích cực và chủ động tiếp thu kiến thức, hình thành năng lực và phẩm chất. Để định hướng và tạo đà cho các hoạt động học tập, hình thành kiến thức trong mỗi tiết học thì việc khởi động là cần thiết, do đó đổi mới cần tiến hành trước tiên từ hoạt động khởi động. Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong các tiết học, tôi nhận thấy việc đổi mới hoạt động dạy học là cần thiết. Trong đó, hoạt động khởi động cần được quan tâm đầu tư đổi mới đúng mức để tiết học sôi nổi, hứng thú và tạo tâm lý tích cực cho học sinh ngay từ đầu mỗi tiết học. Với việc “sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học vào phần khởi động trong giảng dạy môn địa lý lớp 12” cùng với quá trình khảo nghiệm và thu thập kết quả, chúng tôi nhận thấy đề tài có hiệu quả thiết thực vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn Địa Lý. Từ kết quả và ý nghĩa của đề tài, chúng tôi nhận thấy giải pháp đưa ra không những vận dụng tốt ở các lớp cá nhân chúng tôi thực hiện giảng dạy mà có thể nhân rộng mô hình này đến tất cả các GVBM bộ môn Địa lý cũng như các GVBM khác trong nhà trường THPT nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong các môn học; góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của mỗi giáo viên cũng như của nhà trường đồng thời cũng giúp học sinh chủ động hơn trong học tập, trong việc tìm hiểu kiến thức và đó cũng là tiền đề cần thiết để hình thành các kỹ năng sống tích cực cho học sinh THPT, góp phần xây dựng trường học hạnh phúc.
3. Kiến nghị.
Qua nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn, bằng việc tổ chức thực nghiệm và thu được một số kết quả bước đầu. Mặc dù vậy tác giả cũng mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị, đề xuất sau:
46
3.1. Đối với học sinh:
- Muốn cho tiết học diễn ra sôi nổi, hứng thú, hiệu quả cao thì trước tiên học sinh
phải chuẩn bị đầy đủ đồ dùng, nội dung cho học tập.
- Thực hiện tốt các bước, các thao tác theo sự hướng dẫn của giáo viên.
- Học sinh có thể tổ chức các nhóm, đôi học tập để trao đổi nhận xét, đánh giá kết
quả của nhau.
3.2- Đối với giáo viên bộ môn:
- Thầy cô dạy môn Địa lý cần tâm huyết hơn nữa với môn của mình để từ đó quan tâm đến việc củng cố và bổ sung kiến thức chuyên môn. Vì khi có kiến thức chuyên môn vững mới có thể vận dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp, linh hoạt đem lại hiệu quả cao cho bài giảng.
- Không chỉ nắm vững kiến thức, có phương pháp dạy học môn của mình mà giáo viên cũng phải biết phân tích tâm lý, có những hiểu biết để có những chia sẽ, hỗ trợ học sinh.
- Nhóm chuyên môn phải thường xuyên dự giờ, rút kinh nghiệm, cùng nhau thiết kế, xây dựng từng bài giảng theo phương pháp và kĩ thuật mới, hiệu quả hơn. Thường xuyên trao đổi, thảo luận chuyên môn qua “trường học kết nối”.
- Thầy cô phải nhiệt tình, sáng tạo tìm tòi các phương pháp, kĩ thuật dạy học để mỗi tiết học, học sinh được học tập, được vui chơi, được chia sẽ, được thấu hiểu, được yêu thương và tôn trọng.
- Thầy cô cần bổ sung kiến thức tin học, nhất là các phần mềm hỗ trợ cho việc giảng dạy và khai thác Internet, tích cực sử dụng các phương tiện dạy.
3.3. Đối với nhà trường và cấp trên.
- Cần có sự quan tâm hơn nữa đối với đội ngũ giáo viên giảng dạy môn Địa lý. Tạo điều kiện cho họ nâng cao nghiệp vụ bằng các đợt tập huấn có chất lượng, tham gia các khóa học về kĩ năng sống.
- Thường xuyên bổ sung để từng bước hoàn thiện nguồn tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy môn Địa lý. Như tạo điều kiện cho giáo viên tiếp xúc với các sáng kiến kinh nghiệm đã đạt giải của đồng nghiệp, cập nhật cho giáo viên các loại tài liệu hỗ trợ giảng dạy đã có mặt trên thị trường…
Trong quá trình thực hiện đề tài, do trình độ và thời gian nghiên cứu có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi mong nhận được những đóng góp của đồng nghiệp để đề tài hoàn thiện hơn.
47
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu tập huấn: Kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong trường trung học phổ thông của Bộ Giáo Dục Đào Tạo tháng 5 năm 2014.
2. Tài liệu bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên: Tăng cường nghiên cứu khoa học của giáo viên. Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
3. Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học phổ thông. Nhà xuất bản giáo dục tháng 7 năm 2007
4. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên của sở Giáo Dục và Đào Tạo Tỉnh Hà Tĩnh
5. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên: MODULE 2 phương pháp dạy học tích cực
6. Sách giáo khoa địa lí 12 - Nhà xuất bản giáo dục
7. Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng địa lí 12. Nhà xuất bản Đại Học Sư Phạm
8. Luyện tập và tự kiểm tra đánh giá, đánh giá theo chuẩn kiến thức kĩ năng- Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
9. Một số thông tin từ Internet
10. Chương trình VTV7: Thầy cô chúng ta đã thay đổi.
48
PHỤ LỤC
1. GIÁO ÁN DẠY THỰC NGHIỆM
BÀI 14: VẤN ĐỀ SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
I. MỤC TIÊU
1. Kiến thức
- Biết được sự suy giảm tài nguyên rừng và đa dạng sinh vật và tài nguyên đất ở nước
ta.
- Phân tích được nguyên nhân và hậu quả của sự suy giảm tài nguyên sinh vật, sự suy
thoái tài nguyên đất.
- Nêu được các biện pháp của nhà nước nhằm bảo vệ tài nguyên rừng và tài nguyên
sinh vật và các biện pháp bảo vệ tài nguyên đất.
2. Năng lực học sinh:
- Năng lực chung: Năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp,
năng lực sử dụng ngôn ngữ, công nghệ thông tin.
- Năng lực chuyên biệt: Năng lực sử dụng tranh ảnh, năng lực sử dụng bảng biểu, sử
dụng bản đồ, năng lực tư duy tổng hợp
3. Phẩm chất:
- Yêu nước, nhân ái, trách nhiệm, trung thực, chăm chỉ
II.PHƯƠNG PHÁP VÀ HÌNH THỨC DẠY HỌC
1. Phương pháp.
- Nêu vấn đề.
- Thảo luận nhóm, cặp đôi.
- Trò chơi.
2. Hình thức dạy học.
- Trên lớp.
- Hướng dẫn học sinh tự học.
III. CHUẨN BỊ CỦA GV VÀ HS
1. Chuẩn bị của GV
- Atlat Địa lí Việt Nam.
49
- Bản đồ Địa lí tự nhiên Việt Nam. Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học
- Hình ảnh về các hoạt động chặt phá, phát đốt rừng, hậu quả của mất rừng, làm suy
thoái đất và môi trường. Atlat Địa lí Việt Nam.
2. Chuẩn bị của HS
- Vở, SGK, át lát
- Sưu tầm tranh ảnh, tư liệu...
IV. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
A. Khởi động (5 phút)
1. Mục đích
- Nhớ được các thuật ngữ liên quan về tài nguyên rừng, đất và sinh vật.
- Rèn kỹ năng diễn đạt bằng lời nói kết hợp ngôn ngữ hình thể.
2. Nội dung - Trò chơi/cặp đôi - Bộ từ, cụm từ 3 chủ đề: Rừng – Sinh vật – Đất. - Máy chiếu 4. Tổ chức thực hiện
- Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ: GV hướng dẫn cả lớp chơi: “Hiểu ý đồng đội” GV chọn ngẫu nhiên 3 cặp lên bốc thăm lượt thi. Thể lệ: Mỗi cặp lên thi sẽ bốc thăm 1 chủ đề (Không báo trước). Mỗi chủ đề có 6 từ hoặc cụm từ liên quan chủ đề. Trong thời gian 1,5 phút 1 bạn sẽ dùng lời để diễn đạt cho đồng đội đoán đúng từ hoặc cụm từ đó. Lưu ý, không được dùng từ đồng nghĩa, hoặc ký hiệu, ám hiệu khác…Từ nào khó có thể bỏ qua, còn thời gian sẽ quay lại đoán tiếp. Hết thời gian, đội nào đoán được nhiều từ nhất đội đó thắng. Trong trường hợp số từ bằng nhau thì ai hoàn thành sớm hơn thì thắng hoặc ai bị phạm quy ít hơn sẽ thắng. Chủ đề: Rừng; sinh vật; đất.
Rừng Sinh vật Đất
1. Đa dạng sinh học 1. Suy thoái 1. Cháy rừng
2. Rừng trồng 2. Tuyệt chủng
2. Nhiễm mặn, nhiễm phèn 3. Khai thác bừa bãi 3. Chất nổ
3. Nghèo dinh dưỡng 4. Lâm tặc 4. Sách đỏ
4. Cải tạo đất
5. Phủ xanh đất trống đồi trọc 6. Giao đất gia rừng
5. Vườn quốc gia 6. Ô nhiễm môi trường nước 5. Thâm canh 6. Định canh, định cư
- Bước 2: GV chọn 1 em lên làm MC , 1 thư ký và 1 trọng tài.
- Bước 3: Thực hiện nhiệm vụ :Tiến hành trò chơi.
50
- Bước 4: Tổng kết và GV vào bài mới. (GV có thể linh hoạt trong việc phần thưởng là quà hay điểm cộng).
B. Hình thành kiến thức mới
HOẠT ĐỘNG 1: SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN SINH VẬT VÀ ĐẤT (25 phút)
1. Mục đích
- Trình bày được vấn đề sử dụng và bảo vệ tài nguyên sinh vật và đất.
- Phân tích bảng số liệu, atlat để thấy hiện trạng tài nguyên sinh vật và đất của nước ta.
- Đề ra các biện pháp bảo vệ tài nguyên sinh vật và đất.
- Kể tên được các loại sinh vật trong sách đỏ Việt Nam.
- Có ý thức tốt trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên ở địa phương.
2. Nội dung Thảo luận nhóm/kỹ thuật KWLH 3. Sản phẩm
Sản phẩm dự kiến
1. sử dụng và bảo vệ tài nguyên sinh vật
a. Thực trạng
Diện tích rừng và tỉ lệ che phủ rừng nước ta giai đoạn 1945- 2017
+ Diện tích rừng suy giảm mạnh, đặc biệt từ 1945-2017
+ Mặc dù tổng diện tích rừng đang tăng dần lên (d/c), nhưng tài nguyên rừng vẫn bị suy thoái vì chất lượng rừng chưa thể phục hồi (70% rừng nghèo và rừng non)
+ Bình quân diện tích rừng đầu người thấp ( 0,14 ha)
* Nguyên nhân:
Khai thác quá mức (du canh, du cư, khai thác bừa bãi)
Chưa có những chủ trương, biện pháp khai thác kịp thời và hiệu quả
Ý thức người dân chưa cao
Do chiến tranh, cháy rừng.
* Hậu quả:
Tăng diện tích đất trống đồi trọc, xói mòn đất, nguồn gen giảm sút, sinh vật tuyệt
chủng, mất cân bằng tài nguyên nước, tai biến thiên nhiên.
Ảnh hưởng đến các ngành kinh tế, mất nguồn sống của Đồng bào dân tộc, đe dọa
môi trường
* Biện pháp bảo vệ TN rừng.
- Trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc.
51
- Ban hành và triển khai Luật bảo vệ và phát triển rừng:
+ Quy định về nguyên tắc quản lí, sử dụng và phát triển đối với 3 loại rừng: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất.
+ Giao quyền sử dụng đất và bảo vệ rừng cho người dân
- Giáo dục ý thức cho mọi tầng lớp nhân dân.
b. Đa dạng sinh học.
* Hiện trạng:
SV TN nước ta có sự đa dạng cao thể hiện ở sự đa dạng thành phần loài, các kiểu hệ sinh thái và nguồn gen quý hiếm, nhưng đang bị suy giảm :
Số lượng loài thực vật và động vật đang bị mất dần, nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng, giảm mức độ tập trung, đặc biệt nguồn hải sản bị giảm sút rõ rệt
* Nguyên nhân
- Khai thác quá mức, kĩ thuật lạc hậu, ý thức của người dân chưa cao.
làm thu hẹp diện tích rừng tự nhiên và làm nghèo tính đa dạng của sinh vật.
- Ô nhiễm môi trường đặc biệt là môi trường nước làm cho nguồn thuỷ sản bị giảm sút.
* Hậu quả: Mất dần nguồn gen quý
* Biện pháp:
- Xây dựng và mở rộng hệ thống vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên.
- Ban hành “sách đỏ VN”.
- Dùng luật pháp để hạn chế vi phạm.
4. Tổ chức thực hiện
- Bước 1: GV chia nhóm và giao nhiệm vụ học tập
+ Hình thành 6 nhóm Nhóm 1, 2: Tìm hiểu về tài nguyên rừng Nhóm 3, 4: Tìm hiểu về sự đa dạng sinh học Nhóm 5, 6: Tìm hiểu về tài nguyên đất. + Nhiệm vụ: đọc SGK, atlat hoàn thành bảng sau:
K W L
Lưu ý: Giáo viên vẽ một bảng này lên bảng, ngoài ra, mỗi học sinh cũng có một mẫu bảng của các em.
- Bước 2: GV phát về nhóm bảng KWL và thực hiện điền thông tin vào cột K bằng các từ, cụm từ liên quan đến chủ đề của nhóm. (…. phút)
52
Câu hỏi: Các em biết gì về tài nguyên rừng (nhóm 1-2); sự đa dạng sinh học (nhóm 3- 4); tài nguyên đất (5-6) nước ta?
Sau đó, GV chọn nhóm ngẫu nhiên và lần lượt cho HS thảo luận hoặc giải thích về những điều đã ghi trong cột K ở mỗi chủ đề. Nhóm còn lại quan sát ghi chép thêm và bổ sung (nếu có). GV giám sát và chuẩn kiến thức. - Bước 3: Ghi những điều các em muốn biết thành câu hỏi vào cột W (…. phút)
Gợi ý: Các em muốn biết gì về diện tích rừng, các loại rừng? độ che phủ rừng? Luật bảo vệ rừng…; Sự đa dạng sinh học, các loài có nguy cơ tuyệt chủng, biện pháp bảo vệ…; Thực trạng tài nguyên đất? đất như thế nào là bị ô nhiễm? cách bảo vệ đất….;
Em có muốn biết thêm gì về một điều em ghi ở cột K không?
- Bước 4: Cho HS ghi những câu trả lời cho câu hỏi ghi ở cột W vào cột L (…. phút)
Ghi những điều em thích trong chủ đề của nhóm. GV nhận xét câu trả lời nào đầy đủ, câu trả lời nào cần bổ sung.
- Bước 5: Thêm cột H và nộp sản phẩm (…. phút)
Gv yêu cầu các nhóm kẻ thêm cột H và ghi những thông tin em muốn tìm hiểu
thêm và cách em sẽ tiếp tục tìm hiểu về chủ đề nhóm.
GV gợi ý: Em muốn biết thêm điều gì? Em sẽ làm cách nào để tìm hiểu thêm? Các nhóm ghi tên các thành viên nhóm mình phía sau bảng KWLH và Nhóm
trưởng nộp sản phẩm nhóm cho GV.
VÍ DỤ
K W L H
1. TN rừng:
- cách tính độ che phủ rừng.
- Tại sao tài nguyên rừng bị suy thoái chưa thể phục hồi? - Diện tích rừng giảm mạnh - Vì chất lượng rừng chưa thể phục hồi (rừng nghèo, rừng non) - “giao đất giao rừng” - Rừng nghèo. - Làm sao để ngăn chặn nạn phá rừng?
…………………………. - Sách đỏ là gì?
tìm hiểu - Do: hai thác quá mức, chiến tranh, cháy rừng.
=> Google - Đất trống đồi trọc
- Xói mòn
- Trồng rừng - Trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc. Ban hành và triển khai Luật bảo vệ và phát triển rừng. Giáo dục ý thức cho mọi tầng lớp nhân dân.....
…
2. Đa dạng sinh học:
- ………
53
HOẠT ĐỘNG 2: SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN KHÁC (10 phút)
1. Mục đích
- Biết giá trị sử dụng và yêu cầu bảo vệ đối với các loại tài nguyên nước, khoáng sản, du lịch, khí hậu, biển.
- Đọc atlat: Kể tên và xác định được nơi phân bố các loại khoáng sản có trữ lượng lớn (than, dầu khí, sắt, apatit, vàng, bô-xit...), các di sản thiên nhiên – văn hóa – phi vật thể nổi tiếng (Vịnh Hạ Long, Vịnh Vân Phong, Cung đình Huế, Phố cổ Hội An, ....
2. Nội dung - Thảo luận nhóm/cặp đôi - SGK, atlat, phiếu học tập 3. Sản phẩm
Sản phẩm dự kiến
Tài nguyên Tình hình sử dụng Các biện pháp
bảo vệ Sản phẩm/địa danh/danh lam, thắng cảnh (nếu có)
Nước
- Ngập lụt vào mùa mưa. - Sử dụng tiết kiệm, chống ô nhiễm
- Thiếu nước vào mùa khô . - Biện pháp hành chính để xử lí vi phạm
- Ô nhiễm môi trường nước. - Tuyên truyền, GD ý thức người
Than (Quảng Ninh) Khoáng sản
- Nước ta có 3500 mỏ KS, phần nhiều là mỏ nhỏ, phân tán. Tránh lãng phí tài nguyên, chống ô nhiễm môi trường. Sắt (Thạch Khê – Hà Tĩnh)
Vàng (Bồng Miêu – Qnam)
(Tây xit - Nhiều nơi việc khai thác, còn gây lãng phí tài nguyên, ô nhiễm MT - Quản lí chặt chẽ việc khai thác, xử lí những trường hợp vi phạm luật.
Bô Nguyên) Mỏ dầu (kể tên)
Mỏ khí (kể tên)
Vịnh Hạ Long Du lịch
Nha Trang
Nhã nhạc cung đình Huế - Tình trạng ô nhiễm môi trường xảy ra ở nhiều điểm du lịch, cảnh quan du lịch bị suy thoái.
- Cần bảo tồn, tôn tạo giá trị TN du lịch và bảo vệ môi trường du lịch khỏi bị ô nhiễm, phát triển du lịch sinh thái. Thánh địa Mỹ Sơn
- Săn bắt động vật quý hiếm trái phép Phố cổ Hội An
54
Động Phong Nha…
4. Tổ chức thực hiện.
- Bước 1: Hình thành nhóm đôi và giao nhiệm vụ.
Hai em ngồi chung bàn là một nhóm, chia sẻ ý tưởng, thảo luận, phân loại.
Nhóm đôi này lại chia sẻ tiếp với nhóm đôi khác theo quy tắc từ dưới lên.
Hoàn thành bảng
Tài nguyên Tình hình sử dụng Các biện pháp
Sản phẩm/địa danh/danh lam, thắng cảnh (nếu có) bảo vệ
- Bước 2: Các cặp đôi tiến hành thảo luận và ghi vào phiếu học tập. GV giám sát.
- Bước 3: GV cho các cặp chia sẻ với cặp đôi khác.
Bắt đầu từ 4 cặp cuối chuyền lên cho 4 cặp trên mình. Các cặp này sẽ xem và đối chiếu với kết quả của mình và ghi bổ sung (nếu có) rồi chuyển lên cho cặp trên mình tiếp theo 1 phiếu học tập ưng ý nhất. Tương tự cho đến 4 cặp trên cùng.
- Bước 4: GV thu lại 4 phiếu học tập cuối cùng và chuẩn kiến thức, công bố dãy cặp đôi làm việc tốt nhất.
C. Hoạt động luyện tập (4 phút)
1. Mục đích
- Kiểm tra sự lĩnh hội kiến thức của từng HS.
2. Nội dung - Trò chơi “Bão tuyết” 3. Sản phẩm dự kiến - Nắm được kiến thức bài học 4. Tổ chức thực hiện
- Bước 1: GV phổ biến chơi
HS viết ra những gì học được trên một mẩu giấy, sau đó vo lại thành quả bóng tuyết. Khi giáo viên đưa ra một tín hiệu, học sinh ném quả bóng giấy của mình đến một bạn trong lớp. Học sinh nào bị ném trúng phải đọc to và đưa ra phản hồi về câu hỏi trong quả bóng giấy đó.
Bước 2: HS ghi những gì học được vào mẩu giấy. GV quan sát.
55
GV chỉ định ngẫu nhiên 1 HS ném quả bóng giấy của mình đến bất kỳ một bạn trong lớp. Bạn nhận bóng đọc to và đưa ra câu trả lời. Cứ như thế GV điều khiển cho đến khi cảm thấy đủ về mức kiểm tra và thời gian.
D. Hoạt động nối tiếp- hướng dẫn học tự học (…..phút)
- GV yêu cầu HS về nhà sưu tầm các tranh ảnh về các loại thiên tai ở nước ta.
- Xem trước bài 15/SGK.
V. RÚT KINH NGHIỆM
GIÁO ÁN DẠY LỚP ĐỐI CHỨNG.
Bài 14: SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
I. Mục tiêu :
1. Kiến thức :
- Biết được sự suy thoái của tài nguyên rừng, đa dạng sinh học và đất; một số nguyên nhân và biện pháp bảo về tài nguyên, môi trường.
- Biết được nội dung chiến lược quốc gia về bảo vệ nguồn tài nguyên
2. Kỹ năng:
+ Phân tích các bảng số liệu
+ Liên hệ thực tế địa phương về biểu hiện suy thoái tài nguyên
3.Thái độ :
+ Đấu tranh chống lại những tư tưởng, hành vi xâm hại tài nguyên
+ Tham gia các phong trào bảo vệ tài nguyên
4. Định hướng phát triển năng lực:
- Năng lực chung: giải quyết vấn đề, tư duy, hợp tác
- Năng lực chuyên biệt: tư duy tổng hợp theo lãnh thổ, sử dụng tranh ảnh, số liệu
II/Phương pháp và Phương tiện dạy học :
1. Phương pháp:
- Nêu vấn đề
- Thảo luận
- Đàm thoại gợi mở
2. Phương tiện
Các bảng số liệu
Các hình ảnh về các hoạt động chặt phá rừng, đất đai bị suy thoái, xói mòn….
III/ Tiến trình dạy học :
1/ Ổn định :
56
2/ Kiểm tra bài cũ :
Kiểm tra việc sưu tầm tranh ảnh của HS
3/ Giới thiệu bài mới: Tài nguyên thiên nhiên nước ta hiện nay đang suy giảm rất nhanh,vậy nguyên nhân và biện pháp bảo vệ như thế nào. Bài học hôm cô và các em sẽ cùng nhau tìm hiểu rõ hơn.
Hoạt động của Thầy và Trò Nội dung chính
HĐ1 15 phút
1/ Sử dụng và bảo vệ tài nguyên sinh vật:
? Rừng có vai trò như thế nào trong kinh tế và đời sống? a/ Tài nguyên rừng:
* Sự suy giảm:
GV cho HS phân tích sự biến động diện tích rừng VN qua bảng số liệu 14.1 giải thích sự biến động đó.
Diện tích rừng có tăng nhưng tài nguyên rừng vẫn bị suy thoái, chất lượng rừng chưa thể phục hồi. (70% diện tích là rừng nghèo, mới phục hồi)
* Biện pháp bảo vệ: Tập trung vào việc làm cho HS hiểu diện tích rừng có tăng lên nhưng chất lượng rừng còn thấp (phần lớn là rừng non, rừng nghèo)
Nâng độ che phủ lên 45-50% (miền núi 70-80%)
Năm 2007, nước ta có: 28 vườn quốc gia, 62 khu dự trữ thiên nhiên, 40 khu bảo vệ cảnh quan, di tích, môi trường) + Rừng phòng hộ: nuôi dưỡng rừng hiện có, trồng mới trên diện tích đất trống đồi trọc
+ Rừng đặc dụng: bảo vệ cảnh quan, đa dạng sinh vật của các rừng quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên.
+ Rừng sản xuất: phát triển diện tích và chất lượng rừng
GV cho HS phân tích bảng 14.2 để thấy sự đa dạng sinh vật và sự suy giảm số lượng loài sinh vật. Triển khai luật bảo vệ rừng
Giao quyền sử dụng rừng cho người dân
Để thực hiện bảo vệ đa dạng hoá sinh vật nhà nước ta ta đã thi hành những biện pháp nào? Trước mắt, đế năm 2011 độ che phủ đạt 43%
b/ Đa dạng sinh vật:
* Sự suy giảm đa dạng sinh vật: (lập rừng quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, ban hành “sách đỏ”, quy định về khai thác…)
Thu hẹp diện tích rừng, làm nghèo tính đa dạng của các hệ sinh thái, thành phần loài, nguồn gen.
* Biện pháp bảo vệ đa dạng sinh vật:
(Năm 1986 có 7 vườn quốc gia đến năm 2007 có 30 vườn quốc gia, 65 khu dự trữ thiên nhiên. Trong đó có 6 khu được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới. + Xây dựng hệ thống vườn quốc gia, khu
57
bảo tồn thiên nhiên. HĐ2: 10 phút
+ Ban hành sách đỏ VN.
-Buớc 1: HS nghiên cứu SGK và trao đổi cặp đôi để trả lời câu hỏi: + Quy định khai thác
GV(?) Hiện trạng sử dụng tài nguyên đất của nước ta. (HS trả lời) 2/ Sử dụng và bảo vệ tài nguyên Đất:
a/ Hiện trạng sử dụng:
GV(?)Nêu các biểu hiện suy thoái tài nguyên đất ở nước ta. (xói mòn, rửa trôi, bạc màu, ô nhiễm...)
(HS trả lời)
Đất nông nghiệp 9,4 triệu ha (chiếm 28,4% diện tích đất tự nhiên) bình quân 0,1 ha/người. Khả năng mở rộng đất nông nghiệp rất thấp.
GV(?)Nêu các biện pháp bảo vệ đất đồi núi và cải tạo đất đồng bằng. (HS trình bày) Diện tích đất đai bị suy thoái còn lớn (9,3 triệu ha đất bị đe doạ sa mạc hoá.
a/ Các biện pháp bảo bệ: - Bước 2: GV nhận xét, khẳng định và ghi bảng.
Đồi núi: Chống xói mòn bằng các biện pháp tổng hợp HĐ3: 10 phút
-Bước 1: HS nghiên cứu SGK, thảo luận tổ theo phân công: Đồng bằng: Thâm canh, canh tác hợp lý, chống nhiễm phèn, mặn, glây, chống ô nhiễm môi trường đất.
+ Tổ 1. Tài nguyên nước 3/ Sử dụng và bảo vệ tài nguyên khác:
+ Tổ 2. Tài nguyên khoáng sản - Nước: Sử dụng tiết kiệm, chống ô nhiễm
+ Tổ 3. Tài nguyên du lịch
- Khoáng sản: Tránh lãng phí tài nguyên, chống ô nhiễm môi trường. + Tổ 4. Các nguồn tài nguyên khác
-Bước 2: HS trình bày - Du lịch: Bảo tồn, tôn tạo bảo vệ cảnh quan GV khẳng định, ghi bảng
- Khai thác sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên khí hậu, tài nguyên biển.
Củng cố:
Bài tập về nhà:
Sưu tầm các tranh ảnh về sự ô nhiễm môi trường
Giáo án dạy thực nghiệm
BÀI 17: LAO ĐỘNG VIỆC LÀM
I. MỤC TIÊU 1. Kiến thức:
- Liệt kê được những ưu điểm và hạn chế của lao động nước ta
- Trình bày được sự chuyển dịch cơ cấu lao động ở nước ta.
58
- Chứng minh được việc làm là vấn đề gay gắt
- Đề xuất các hướng giải quyết việc làm mang tính thực tiễn, phù hợp với bối cảnh
hiện tại. 2. Năng lực:
- Năng lực chung: Năng lực giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề, tự học, sử dụng
công nghệ thông tin.
- Năng lực chuyên biệt: Tư duy tổng hợp theo lãnh thổ; sử dụng bản đồ; sử dụng
tranh ảnh. 3. Phẩm chất:
- Phẩm chất: trung thực, chăm chỉ, trách nhiệm. II. PHƯƠNG PHÁP VÀ HÌNH THỨC DẠY HỌC 1. Phương pháp - Nêu vấn đề - Thảo luận - Đóng vai 2. Hình thức - Trên lớp - Hướng dẫn học sinh tự học III. CHUẨN BỊ GV VÀ HS 1. GV: Máy tính, máy chiếu. 2. HS: SGK, Atlat, bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh, video. IV. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
A. Khởi động (5 phút)
1. Mục đích
- Nêu được vấn đề cơ bản liên quan đến lao động và việc làm
- Liên hệ tình hình bản thân Hs đang gặp phải
2. Nội dung
- Đóng vai
- Diễn tiểu phẩm
- Bàn ghế, vật dụng…
3. Sản phẩm
- Học sinh hiểu thêm về thực trạng lao động, việc làm của nước ta hiện nay
4. Tổ chức thực hiện
- Bước 1: Vở kịch diễn ra tự nhiên. HS dẫn chuyện
Chuyện xảy ra trong 1 buổi tối cuối tuần của một gia đình có con học lớp 12 - Bố: Hương này, con chuẩn bị làm hồ sơ thi ĐH phải không? Con đã có phương án cuối cùng chưa? - Con gái: Con muốn thi vào trường đại học sư phạm địa lý bố ạ
59
- Mẹ (thảng thốt): Trời ơi con ơi, học sư phạm làm gì, lương thấp ra trường lại khó xin việc, con không thấy con Bác Bình đó à, ra trường mấy năm rồi không xin được việc làm, lấy chồng sớm rồi còn gì - Bố: Theo bố thấy, con nhanh nhẹn, con cứ học kinh tế, về sau này bố xin vào công ty của Bác Chiến mà làm - Con: Nhưng con không thích kinh doanh. Rủi ro nhiều lắm bố ơi. - Con: Mẹ ơi đừng lo, con tự xoay sở được - Mẹ (tru tréo): Trời ơi, trứng lại còn đòi khôn hơn vịt. Không được, không sư phạm, sư viên gì hết. - Bố (phụ họa): Phải đấy, bố thầy nghề đó nghèo lắm - Con: (giãy nảy): Đó là niềm yêu thích của con. Sao bố mẹ không hiểu con gì hết, (đứng dậy vào phòng khóc). - Mẹ: Giời đất ơi, con ơi là con Dẫn chương trình: Các bạn thấy đấy, thi Đại học, chọn trường, chọn ngành không bao giờ là đơn giản. Giải quyết vấn đề việc làm cho 1 quốc gia đông dân như VN không bao giờ là dễ dàng.
Bước 2: GV đặt 1 số câu hỏi
Em có thấy hình ảnh của gia mình trong tiểu phẩm trên không?
Em đã chọn cho mình trường đại học nào chưa?
Em có đồng ý với quan niệm của bố và mẹ bạn Hương không?
Làm thế nào để lựa chọn trường, ngành nghề phù hợp?
HS: Suy nghĩ trả lời
GV tiếp lời vào bài mới: Vậy nên, bài học hôm nay cô và các em cùng nhau tìm hiểu vấn đề lao động và việc làm, giải pháp cho vấn đề này.
B. Hình thành kiến thức mới
HOẠT ĐỘNG 1: Tìm hiểu đặc điểm nguồn lao động (7 phút)
1. Mục đích
- Liệt kê được những ưu điểm và hạn chế của nguồn lao động nước ta
2. Nội dung - Trò chơi “Hiểu ý đồng đội” - Giấy note, máy chiếu 3. Sản phẩm I. NGUỒN LAO ĐỘNG
1. Mặt mạnh
+ Nguồn lao động rất dồi dào 54,4 triệu người, chiếm 75,5% dân số hoạt động kinh tế
(năm 2017).
+ Mỗi năm tăng thêm khoảng 1 triệu lao động.
60
+ Người lao động cần cù, sáng tạo, có kinh nghiệm sản xuất phong phú.
+ Có khả năng tiếp thu nhanh khoa học kĩ thuật.
+ Chất lượng lao động ngày càng nâng lên.
2. Hạn chế
+ Thiếu kỉ luật và tác phong công nghiệp.
+ Lao động có trình độ cao còn yếu và thiếu.
+ Phân bố lao động chưa đều 4. Tiến trình hoạt động
- Bước 1: GV giới thiệu trò chơi:
+ Gọi 2 HS ngẫu nhiên
+ GV giới thiệu thể lệ chơi
Có nhiều từ khóa: Cần cù, Sáng tạo, Kinh nghiệm, Thiếu kỉ luật, Phân bố không đều
Chuyên gia, Chất lượng tăng, Tác phong công nghiệp, 1 triệu lao động, Dồi dào Các HS dưới lớp sẽ gợi ý cho 2 thành viên bên trên thi nhau đoán Người gợi ý không được lặp từ, tách từ có trong từ khóa Ghi nhận điểm cộng cho người gợi ý tốt và đoán đúng - Bước 2: Tiến hành trò chơi
- Bước 3: Yêu cầu HS nối kết các từ khóa để giới thiệu nhanh về các ưu điểm và hạn chế của lao động nước ta
- Bước 4: GV tổng kết, chốt một số điểm quan trọng về đặc điểm nguồn lao động
HOẠT ĐỘNG 2: Tìm hiểu về sự thay đổi cơ cấu lao động nước ta (10 phút)
1. Mục đích
- Trình bày được sự chuyển dịch cơ cấu lao động ở nước ta.
- Nhận xét được các bảng số liệu về lao động
- Rèn luyện kĩ năng đọc bảng số liệu, phân tích thông tin địa lí qua video
- Phát triển năng lực tự học, năng lực phân tích
2. Nội dung - Thảo luận, làm việc theo cặp - Sử dụng các phương tiện trực quan - Bảng số liệu về lao động, máy chiếu - Phiếu học tập 3. Sản phẩm dự kiến.
Cơ cấu lao động Theo ngành
Theo thành phần kinh tế
Theo khu vực thành thị và nông thôn
61
Nông-lâm-thủy sản. Nhà nước Nông thôn
Khu vực giảm tỉ trọng Xu hướng
Thành thị
Công nghiệp-xây dựng và dịch vụ.
Khu vực tăng tỉ trọng
Ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Nhà nước Nông thôn
Khu vực chiếm ưu thế Nông -lâm - thủy sản
Nguyên nhân - Đổi mới - Đổi mới
- Phân bố dân cư
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa. - Nền kinh tế thị trường
- Đô thị hóa và nhu cầu phát triển kinh tế. - Chuyển dịch cơ cấu theo ngành
4. Tổ chức thực hiện
- Bước 1: GV giới thiệu yêu cầu
+ Các cá nhân làm việc trên phiếu học tập.
+ HS dựa trên những thông tin từ SGK và giáo viên cung cấp. HS rút ra những thay đổi trong cơ cấu lao động theo ngành, theo thành phần kinh tế và theo khu vực thành thị và nông thôn trong vòng 2 phút.
Bước 2: HS trình bày kết quả. Mỗi HS trình bày về một loại cơ cấu, các HS khác bổ sung, GV giúp HS chuẩn kiến thức.
HS có thể trao đổi nhanh với nhau và rút ra những nguyên nhân khiến cơ cấu lao động nước ta có sự thay đổi theo ngành; theo thành phần kinh tế và theo khu vực thành thị, nông thôn.
Bước 3: GV cho HS quan sát đoạn phim và trả lời câu hỏi: chủ đề của đoạn phim là gì?
Từ đoạn phim, GV nhấn mạnh đến một số hạn chế, vấn đề lớn trong việc sử dụng
nguồn lao động.
Bước 4: GV chốt ý, liên hệ với cơ cấu nghề nghiệp hiện nay để chuyển sang nội dung mới.
HOẠT ĐỘNG 3: Tìm hiểu vấn đề việc làm và giải pháp (12 phút)
1. Mục đích
- Chứng minh được việc làm đang là vấn đề gay gắt hiện nay ở nước ta
- Giải thích được tại sao tỉ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm ở nước ta còn cao
62
- Đề xuất một số giải pháp
2. Nội dung - Thảo luận/kĩ thuật Khăn trải bàn - Sử dụng các phương tiện trực quan 3. Sản phẩm dự kiến
3. Vấn đề việc làm
3.1. Việc làm là vấn đề kinh tế xã hội gay gắt.
Biểu hiện:
+ Tỉ lệ thất nghiệp trung bình trên 2% /năm, ở thành thị cao hơn nông thôn
+ Tỉ lệ thiếu việc làm cao
+ Mỗi năm tăng khoảng 1 triệu lao động
Nguyên nhân:
- Nước ta có dân số đông, nguồn lao động dồi dào, mỗi năm tăng thêm khoảng 1 triệu
lao động.
- Nền kinh tế có nhiều chuyển biến tích cực nhưng còn chậm phát triển nên khả năng
tạo việc làm còn hạn chế.
- Chất lượng lao động chưa cao, lao động còn yếu và thiếu nhiều kĩ năng quan
trọng…
3.2. Hướng giải quyết việc làm
- Phân bố lại dân cư và nguồn lao động.
- Thực hiện tốt chính sách dân số, sức khỏe sinh sản.
- Đa dạng hóa các hoạt động sản xuất
- Tăng cường hợp tác liên kết để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, mở rộng sản xuất
hàng xuất khẩu.
- Mở rộng, đa dạng các loại hình đào tạo
- Đẩy mạnh xuất khẩu lao động. 4. Tiến trình hoạt động
- Bước 1: GV giới thiệu yêu cầu:
+ Nghiên cứu đoạn trích và bài báo mà GV đã chuẩn bị
+ Thảo luận 2 câu hỏi theo kĩ thuật Khăn trải bàn Chứng minh rằng việc làm ở nước ta là vấn đề KTXH gay gắt Tại sao tỉ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm ở nước ta còn cao >>> liệt kê các giải pháp quan trọng nhất hiện nay. Bước 2: HS làm việc, GV hỗ trợ HS làm việc cá nhân 2 phút
63
HS thống nhất ý kiến trong 2 phút Bước 3: HS báo cáo theo vòng tròn, mỗi HS được gọi ngẫu nhiên chỉ trình bày 1 ý kiến
Bước 4: HS chuyền sản phẩm >>> chấm chéo >>> báo cáo điểm
Bước 5: GV khen ngợi phần làm việc của nhóm, công bố kết quả và chốt ý. Liên hệ tình hình việc làm tại địa phương để nhấn mạnh vấn đề xã hội gay gắt này
C. Luyện tập và nâng cao (10 phút)
1. Mục đích
- HS trình bày nguyện vọng và ước mơ của mình
2. Nội dung Thuyết trình/hùng biện 3.Sản phẩm dự kiến.
- HS lên thuyết trình
4. Tiến trình hoạt động Bước 1: GV nêu yêu cầu trên máy chiếu, chọn 3 giám khảo Bước 2: Tiến hành cuộc thi – Ước mơ tôi, tương lai tôi Thể lệ: HS thuyết trình trong 1 phút Tiêu chí đánh giá: Thuyết trình tự tin; ngôn ngữ rõ ràng, mạch lạc; Nêu được mục tiêu và giải pháp cho bản thân mình ngắn gọn và cụ thể Bước 3: GV gọi ngẫu nhiên hoặc cho xung phong
Bước 4: HS trình bày. GV lưu ý là chỉ được trong 1 phút
Bước 5: BGK nhận xét và công bố điểm
Bước 6: GV kết luận và liên hệ với vở kịch đầu tiên
D. Vận dụng và mở rộng
- HS thiết kế mục tiêu 5 năm của mình trên giấy A4, trang trí, hoàn thiện
- HS nộp sản phẩm vào tiết sau
- Tiêu chí: Bố cục rõ ràng, cân đối; Mục tiêu cụ thể, khả thi; Có hình vẽ, biểu tượng khoa học, trực quan.
V. RÚT KINH NGHIỆM
GIÁO ÁN DẠY LỚP ĐỐI CHỨNG
Bài 17 - LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM
I. MỤC TIÊU
Sau khi học xong bài này, HS cần:
1 Kiến thức
- Hiểu và trình bày được một số đặc điểm của nguồn lao động và việc sử dụng lao động ở nước ta.
64
2. Kĩ năng .
- Phân tích được số liệu thống kê, biểu đồ về nguồn lao động, sử dụng lao động, việc làm.
3. Thái độ: Quyết tâm học tập để trở thành người lao động có chuyên môn nghiệp vụ.
4. Định hướng phát triển năng lực.
- phân tích bảng số liệu, lược đồ, thuyết trình, giao tiếp
II. PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
1. Phương pháp:
- Thảo luận nhóm
- Đàm thoại gợi mở
- Nêu vấn đề
- Giảng giải
2. Phương tiện dạy học:
- Át lát địa lí VN trang 11
- Số liệu thống kê trong SGK
III. HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC
1. Ổn định lớp
2. Bài mới
Trong một quốc gia vấn đề việc làm luôn được quan tâm hàng đầu vì nó liên quan đến việc đảm bảo an sinh xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Vậy ở nước ta vấn đề lao động và việc làm có gì nổi bật, chúng ta cùng tìm hiểu qua bài học ngày hôm nay.
Bài mới
Hoạt động của GV và HS Nội dung chính
Hoạt động l: cá nhân 1. Nguồn lao động
a. Mặt mạnh:
- GV: yêu cầu HS nhớ lại kiến thức lớp 10 nêu lại khái niệm: nguồn lao động là gì? - Số lượng: nguồn lao động đông, dồi dào.
- HS trả lời.
+ 2005 số dân hoạt động kinh tế của nước ta là: 42,53 triệu người (2005), chiếm 51,2% dân số.
- GV y/c HS dựa vào SGK, bảng 17. 1 và vốn hiểu biết bản thân nêu những mặt mạnh và hạn chế của nguồn lao động nước ta. + Mỗi năm tăng thêm trên 1 triệu lao động.
- HS trình bày, bổ sung - Chất lượng:
GV chuẩn kiến thức.
+ Người lao động cần cù, sáng tạo có kinh nghiệm sản xuất phong phú.
65
+ Chất lượng lao động ngày càng được nâng lên.
b. Hạn chế
- Lao động thiếu tác phong công nghiệp.
- Lực lượng lao động có trình độ cao còn ít và phân bố chưa hợp lý.
2. Cơ cấu lao động.
a. Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế
- Xu hướng: Hoạt động 2: nhóm đôi
- GV chia lớp ra 6 nhóm lớn:
+ Phần lớn lao động tập trung ở kv N-L- NN nhưng đang có xu hướng giảm tỉ trọng.
+ Nhóm 1 và 2 dựa vào bảng 17.2 rút ra nhận xét về cơ cấu và sự thay đổi cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế của nước ta. Nguyên nhân. + Tỉ trọng lao động ở khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ còn thấp nhưng đang có xu hướng tăng.
- Nguyên nhân: phù hợp với xu thế công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật. + Nhóm 3 và 4 dựa vào bảng 17.3 rút ra nhận xét về cơ cấu và sự thay đổi cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế của nước ta. Nguyên nhân.
b. Cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế
- Xu hướng:
+ Nhóm 5 và 6 dựa vào bảng 17.2 rút ra nhận xét về cơ cấu và sự thay đổi cơ cấu lao động theo thành thị và nông thôn của nước ta. Nguyên nhân.
- HS trả lời, bổ sung. + Lao động ở thành phần kinh tế trong nước chiếm tỉ trọng cao nhưng đang có xu hướng giảm. - GV chuẩn kiến thức.
+ Lao động ở thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỉ trọng còn thấp nhưng đang có xu hướng tăng.
- Nguyên nhân: phù hợp với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
c. Cơ cấu lao động theo thành thị và nông thôn
- Xu hướng:
+ Phần lớn lao động tập trung ở nông thôn (do trình độ thấp và yêu cầu xã hội) nhưng đang có xu hướng giảm.
+ Lao động ở khu vực thành thị còn thấp
66
nhưng đang có xu hướng tăng.
- Nguyên nhân: Phù hợp với quá trình CNH – ĐTH đất nước.
3. Vấn đề việc làm và hướng giải quyết việc làm - Nêu những hạn chế trong sử dụng lao động ở nước ta. a. Vấn đề việc làm Hoạt động 3: cả lớp
- Việc làm là vấn đề kinh tế - xã hội lớn ở nước ta vì: - Hỏi: Tại sao việc làm lại là vấn đề kinh tế – xã hội lớn ở nước ta? + Tỉ lệ thất nghiệp cao: 2,1%
+ Tỉ lệ thiếu việc làm cao: 8,1%
Do lực lượng lao động đông, kinh tế chậm phát triển, cơ cấu ngành nghề và đào tạo chưa hợp lí. - So sánh vấn đề việc làm ở nông thôn và thành thị. Tại sao có sự khác nhau đó? b. Hướng giải quyết việc làm
- Phân bố lại dân cư và nguồn lao động .
- Thực hiện tốt chính sách dân số, sức khoẻ sinh sản.
- Đa dạng hóa các hoạt động sản xuất. - Dựa vào nội dung SGK nêu các phương hướng giải quyết việc làm ở nước ta hiện nay.
- Tăng cường hợp tác thu hút vốn đầu tư nước ngoài, mở rộng sản xuất hàng XK.
- Đa dạng các loại hình đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn lao động.
- Đẩy mạnh xuất khẩu lao động. - Địa phương em đã đưa những chính sách gì để giải quyết việc làm?
HS trả lời, bổ sung
Gv chuẩn kiến thức.
IV. CỦNG CỐ
Trả lời các câu hỏi ở SGK
V. DẶN DÒ
- Vẽ biểu đồ thể hiện sự thay đổi cơ cấu lao động nước ta theo ngành, theo thành
phần và theo thành thị và nông thôn (dựa vào BSL ở SGK)
- Xem trước bài mới
V. RÚT KINH NGHIỆM
MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG CỦA TIẾT HỌC HẠNH PHÚC

