
LUẬN VĂN:
Sự tác động của con người Việt Nam
vào nền kinh tế tri thức

Lời nói đầu
Lịch sử phát triển của loài người là lịch sử phát triển của nền văn minh, văn
hoá gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển con người . vấn đề con người
trước hết là vấn đề thực tiễn, giữ vị trí trung tâm của mọi toạ độ, của sự tồn tại
khách quan trên hành tinh của chúng ta. Vấn đề con người cũng là vấn đề lý luận
cốt lõi của các vấn đề lý luận xã hội nhân văn, kinh tế, quản lý. Và trong một
chừng mực nhất định cả với kỹ thuật và công nghệ
Con người là giá trị sản sinh ra mọi giá trị. Con người là thước đo của mọi
bậc thang giá trị. Những biến đổi trong bậc thang giá trị đang làm cho con người
nói chung tích cực hơn , trên cơ sở đó phát huy các tiềm năng của mình và từ đó sẽ
sáng tạo hơn. đó là những tiền đề quan trọng để bồi dưỡng và phát huy tốt nguồn
lực con người. Yêu cầu của thời đại công nghiệp hoá , hiện đại hoá trong đó có
kinh tế tri thức đang đòi hỏi phải có thước đo giá trị thích hợp với thời cuộc mới,
phát huy hơn nữa các mặt tích cực của con người và hạn chế tối đa các ảnh hưởng
tiêu cực của cơ chế thị trường không để sự phát triển đi vào xu hướng không lành
mạnh .
Thời kỳ đổi mới đất nước một lần nữa đặt ra bao nhiêu vấn đề mới trong
việc nghiên cứu con người để động viên mạnh mẽ hơn hiệu quả hơn các tiềm năng
con người vào tiến trình đưa Việt Nam trở thành một nước phát triển cũng như mở
ra những khả năng mới để con người được hưởng tự do , hạnh phúc trong một xã
hội văn minh.
Để góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ngày càng giàu
đẹp chúng ta không ngừng nâng cao hiểu biết , tìm tòi và sáng tạo. chính vì vậy
em đã chọn đề tài "sự tác động của con người Việt Nam vào nền kinh tế tri thức"
làm đề tài nghiên cứu của minh. Nội dung gồm có bốn phần:
Phần i: Con người Việt Nam và nguồn lực trí tuệ.
Phần II: Tri thức và nền kinh tế tri thức.
Phần III: Mối quan hệ giữa con người Việt Nam và nền kinh tế tri thức.
Phần IV: Giải pháp thúc đẩy mối quan hệ giữa con người Việt Nam và nền
kinh tế tri thức.

Phần I: Con người Việt Nam và nguồn lực trí tuệ
I)Con người Việt Nam và nguồn lực trí tuệ.
1. Con người Việt Nam.
a. Sự khác biệt của con người Việt Nam và con người nói chung.
Xuất phát từ luận điểm của Mác: "Bản chất con người không phải là một
cái gì cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con
người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội".
Qua quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển, những mặt , những yếu tố
cấu thành nên bản chất xã hội của con người trong xã hội mới dần được hình thành
và dần được hoàn thiện. Con người Việt Nam mang những đặc trưng cơ bản sau:
Con người Việt Nam có ý thức và trình độ, năng lực làm chủ, đồng thời có
đầy đủ điều kiện để thực hiện năng lực làm chủ của mình. Điều này có được vì:
Con người Việt Nam mang bản chất của con người xã hội chủ nghĩa- con người đã
được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột và bất công, các quan hệ công bằng xã hội
ngày càng được bảo đảm. Đồng thời chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ được thiết
lập trên cơ sở bảo đảm sự thống nhất hài hoà lợi ích cá nhân - tập thể - xã hội.
Con người Việt Nam là con người lao động mới, có tri thức sâu sắc về công
việc của mình, có sức khoẻ và lao động giỏi, biết cống hiến cho xã hội bằng khả
năng cao nhất của mình và biết tự đánh giá chất lượng lao động của mình. Do đó,
biết hưởng thụ thành quả lao động của mình tuỳ theo năng suất, chất lượng, hiệu
quả lao động do mình tiến hành.
Con người Việt Nam là con người sống có văn hoá và tình nghĩa. Đời sống
cá nhân của họ phong phú, có điều kiện và khả năng phất triển tự do, toàn diện cả
về thể chất và tinh thần. Có tri thức ngày càng đầy đủ về địa vị, cá nhân của mình
trong xã hội, về tự do, kỷ luật và trách nhiệm công dân.
Con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, yêu sự nghiệp cách mạng do
chính mình tham gia, có tình thương yêu giai cấp và đồng loại , có tình thần quốc
tế chân chính.
Khái quát những tư tưởng cơ bản nói trên, Đảng cộng sản Việt Nam cho
rằng con người xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là con người biết: gắn bó lý tưởng,
độc lập dân tôc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường

xây dựng và bảo vệ tổ quốc; CNH-HDH đất nươc; giữ gìn và phát huy các giá trị
văn hoá truyền thống của dân tộc, có năng lực tiếp thu các tinh hoa văn hoá của
nhân loại; cách phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức
cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và
công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong
công nghiệp , có tính tổ chức và kỷ luật; có sức khoẻ,là những người thừa kế xây
dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên" như lời căn dặn của Bác Hồ".
b. Vai trò của con người Việt Nam trong phát triển kinh tế .
Từ xưa đến nay, khi đề cập tới vị trí của con người trong lịch sử phát triển
kinh tế xã hội không một ai có thể phủ nhận đó là yếu tố quan trọng nhất, quyết
định nhất. Thực tế đã chứng minh trong quá khứ cũng như trong hiện tại nhiều
quốc gia trên thế đã cất cánh từ một nước nghèo nàn, chỉ sau một thời gian dài đã
trở thành một cường quốc văn minh mặc dù họ bị hạn chế rất nhiều về nguồn tiềm
năng thiên nhiên, vốn, công nghệ hơn nữa lại nằm trong vị trí địa kinh tế lý bất lợi
và khí hậu khắc nghiệt của trái đất, có phải chăng do không còn cách nào khác! Và
vì sự tồn tại của chính mình mà họ đã phải chiến đâú với ngoại xâm, với thiên
nhiên mà vươn tới đỉnh cao để rồi có đủ sức mạnh chế ngự thiên nhiên bắt thiên
nhiên phải phục vụ cho cuộc sống của chính con người. Bài học đã thấy rõ, ai cũng
có thể nhận thấy là quốc gia nào quan tâm và đặt đúng vị trí con người, có một
chiến lực quản lý nguồn nhân lực đúng đắn trong chiến lược phát triển kinh tế xã
hội thì nước đó sẽ thành công. Một trong những nước đi tiên phong trong công
việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là Nhật Bản. Người Nhật đã thấy được
tầm quan trọng của con người và không ngừng phát huy nhân tố con người phục
vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội.
Với nước ta, vai trò của con người còn quan trọng hơn rất nhiều. Từ
một nước thuộc địa, nghèo nàn và lạc hậu bằng bàn tay trí óc của con người, con
người Việt Nam đã đưa đất nước mình ra khỏi nghèo đói, đưa đất nước vươn lên
trở thành một cường quốc độc lập về kinh tế, chính trị xã hội.
Ngày nay trên con đường tiến tới chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải có nền kinh
tế vững mạnh với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại. Đại hội VIII của
Đảng đã xác định:"Phải đẩy mạnh CNH-HDH đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020". Có thực hiện được mục

tiêu đó hay không là do con người. Việc xây dựng thành công CNH-HDH làm tiền
đề cho kinh tế tri thức ra đời và phát triển, là thước đo cho quá trình tiến lên chủ
nghĩa xã hội mà nền kinh tế tri thức đòi hỏi chất xám, trí tuệ con người.
Như vậy, con người là giá trị sản sinh ra mọi giá trị, là thước đo của mọi
bậc thang giá trị . Nếu không có con người xã hội sẽ không tồn tại. Nếu con người
không nâng cao học vấn, không ngừng phát huy tính sáng tạo thì đất nước đó sẽ
trì trệ, thụt lùi, nhanh chóng xa rời với sự phát triển của toàn nhân loại. Nhận thấy
được tầm quan trọng của nguồn lực con người Đảng ta đã nhận định: Trong số các
nguồn lực ổn định và phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn cách mạng hiện nay
lấy việc "phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh
và bền vững".
c. Nhận thức, thái độ của con người Việt Nam trong đổi mới và mở cửa.
*Những mặt tích cực trong nhận thức, thái độ.
- Người Việt Nam có phản ứng tích cực, nhận thức nhanh nhạy đối với thời
kỳ mở cửa.
Những năm 1986-1990 khi công cuộc đổi mới, mở cửa bắt đầu gây xáo
động tâm lý xã hội mạnh mẽ, sâu sắc. Nhưng tình hình đã nhanh chóng ổn định và
ngày càng tiến triển theo chiều hướng tích cực. Họ thấy rằng mở cửa là xu thế tất
yếu của thời đại; vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với dân tộc cũng như đối với
mỗi cá nhân, có mở cửa , cọ xát với nền văn hoá thế giới tinh thần văn hoá Việt
Nam mới được thử thách, tự khẳng định và phát triển. Điều này cho thấy sự nhất
trí cao đối với chủ trương, chính sách đổi mới mở cửa của Đảng và nhà nước.
- Người Việt Nam có nhận thức tỉnh táo, đúng đắn về mặt trái của mở cửa
và có ý thức đề phòng cảnh giác.
Họ nhận thấy rằng: mở cửa sẽ dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo gìữa các khu
vực, giữa các nhóm xã hội, mở cửa sẽ dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội, dễ mắc vào âm
mưu "diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch";mở cửa sẽ du nhập văn hoá, lối
sống phương Tây làm hại truyền thống dân tộc, dễ bị hoà mất độc lập, tự chủ.Đây
là nhận thức nhạy bén, tỉnh táo và đúng mức.
- Con người Việt Nam có ý chí vượt qua xáo động tâm lý, vượt qua những
trở ngại tích cực chủ động thích nghi với đổi mới, mở cửa để vươn lên trong cuộc
sống.

