
Thái Tổ Mạc Đăng Dung đã tránh cho đất nước khỏi họa xâm lăng của
nhà Minh năm 1540
Xung quanh sự kiện nhà Mạc thần phục nhà Minh năm 1540, một số nhà nghiên
cứu đã phê phán, nhận xét theo nếp cũ để kết tội nặng hoặc giảm tội cho Mạc
Đăng Dung. Bài viết này chứng minh rằng Mạc Đăng Dung không những không
có tội mà còn có công đối với đất nước.
Xung quanh sự kiện nhà Mạc thần phục nhà Minh năm 1540, một số nhà
nghiên cứu đã phê phán, nhận xét theo nếp cũ để kết tội nặng hoặc giảm tội cho
Mạc Đăng Dung. Bài viết này chứng minh rằng Mạc Đăng Dung không những
không có tội mà còn có công đối với đất nước.
1. Mưu đồ xâm lược nước ta của nhà Minh
* Quyết tâm xâm lược nước ta của nhà Minh đã được ghi lại trong nhiều tư liệu
lịch sử [9]:
- 16/11/1536: “Thiên tử phán: An Nam chiếu sứ không thông, lại từ lâu không
đến cống, phản nghịch đã rõ ràng, hãy sai sứ đến ngay hỏi tội. Việc chinh phạt sai
bộ binh bàn định gấp rồi tâu lên” (Minh Thực lục, Thế Tông, Q.193).
- 7/12/1536: Bộ Binh tâu: Cử một quan võ đại thần sung chức tổng binh. Cử
một quan văn đại thần cùng bàn bạc với tổng binh. Sắc cho các xứ Phủ, Án cùng
tướng lãnh để chỉnh đốn quân binh (Minh Thực lục, Thế Tông, Q.193).
- 12/1/1537: Tả thị lang bộ Hộ Đường Trụ nêu 7 điều can gián. Trong đó nhấn
mạnh đánh không được gì “quân đội chôn vùi, uy danh thương tổn”, tình hình
Trung Quốc hiện thiếu thốn nhiều mặt (Minh Thực lục, Thế Tông, Q.195).
- 13/3/1537: Trịnh Duy Liêu đến kinh đô tâu, xin “hưng binh hỏi tội để cứu
nguy nạn nước” (Minh Thực Lục, Thế Tông. Q.197).

- 20/5/1537: Theo lời tâu của Trịnh Duy Liêu, hai bộ Lễ và bộ Binh tuyên bố,
Mạc Đăng Dung có 10 tội, không thể khoan dung mà không đánh (Minh Thực lục,
Thế Tông, Q.199).
- 20/5/1537: “Thiên tử phán: An Nam từ lâu không đến cống tại sân đình, theo
phép đáng hỏi tội. Nay nước này tâu rằng nghịch thần Mạc Đăng Dung soán
đoạt... tiếm xưng danh hiệu, tội ác rõ ràng, mệnh tướng xuất sư chinh thảo” (Minh
Thực lục, Thế Tông, Q.199).
- 21/5/1537: Bộ Binh trình 11 điều, cụ thể hoá việc đi đánh (Minh Thực lục,
Thế Tông, Q.199).
- 21/5/1537: Tả thị lang bộ Binh Phan Trân dâng sớ khuyên can. Thiên tử giáng
chỉ trách là không rành sự thế, có những lời mê hoặc, bị lột chức và thôi việc
(Minh Thực lục, Thế Tông, Q.199).
- 16/6/1537: Mao Bá Ôn điều trần 6 điểm tổ chức việc đánh gồm: nay mệnh
tướng xuất sư đánh Mạc Đăng Dung, các vùng cần huy động lính, dùng người,
phương diện tài vật, thưởng phạt, đồng nhất mệnh lệnh (Minh Thực lục, Thế Tông,
Q.200).
- 4/7/1537: Từ Cửu Cao can ngăn, Thiên tử cho rằng nội dung có sự dối trá bất
kính, dùng lời nhục mạ, cắt lương bổng Từ Cửu Cao 2 tháng (Minh Thực lục, Thế
Tông, Q.200).
- 8/9/1539: Hoàng Oản - Thượng thư bộ Lễ được
cử đi sứ Việt Nam để thông báo tin vua Minh tôn vinh danh hiệu Thượng
Hoàng Thiên Thượng Đế cho ông nội vua (không liên quan đến việc đánh nhà
Mạc) mà quá sợ Mạc Đăng Dung, coi như đi vào An Nam là vào chỗ chết nên
quanh co. Thiên tử giận phán rằng: “Oản nhận việc đi sứ An Nam, nhận được
mệnh không tiến hành gấp, lúc đến thì kiếm nhiều lý do để từ chối. Y sợ hãi quanh
co, lại bày ra những thỉnh cầu khác. Nay cách chức không dùng trở lại nữa”
(Minh Thực lục, Thế Tông, Q.224).

- 20/10/1540: Khi Cừu Loan đến Quảng Tây, đeo ấn tín, bèn ra lệnh cho Trấn
thủ Vân Nam, Đề đốc Liễu Tuần, quỳ trình diện trước hàng quân. Tuần làm đơn
khiếu nại. Thiên tử khiển trách Loan không thể tin cậy được, triệu về kinh, giao
cho Liễu Tuần thay Loan.
Về việc này, Cừu Loan - một trong những người cầm đầu đội quân chinh
phạt, lại là bậc đại thần hiểu rất rõ uy nghi, binh pháp, lại làm một điều quá
khinh suất như vậy là tại sao? Chính vì Cừu Loan quá sợ phải đi đánh với Mạc
Đăng Dung, bày đặt ra để được về kinh, trốn thoát việc đi An Nam, trút việc đi
đánh cho Liễu Tuần (Minh Thực lục, Thế Tông, Q.241).
Qua những tư liệu lịch sử trên, có thể rút ra mấy điểm sau:
1. Việc “chinh phạt An Nam” là quyết tâm sắt đá của triều Minh, mà Minh Thế
Tông là đại diện. Do đó, khi một số người đưa ra lẽ phải trái bàn bạc, có ý ngăn
cản đều bị vua Minh gạt đi và xử phạt.
2. Quyết tâm xâm lược được tăng cường thêm sau khi quần thần nhà Lê liên tục
xin cầu viện.
3. Trong khi cân nhắc, vua tôi nhà Minh sợ nhất là lực lượng quân sự trong
nước do Mạc Đăng Dung cầm đầu. Họ đã nghe danh tài năng quân sự của vua
Mạc và đội ngũ tướng lĩnh của ông. Giặc ở Châu Khâm và Châu Liêm đã nếm mùi
ngọn giáo của Tứ Dương hầu Phạm Tử Nghi. Các trường hợp Phan Trân, Từ Cửu
Cao, Hoàng Oản và đặc biệt Cừu Loan tìm mọi cách trốn tránh, là tiêu biểu cho
tinh thần lo sợ của tướng lĩnh Minh. Chắc số lượng những người như thế này trong
thực tế không ít. Biết rõ điều đó nên Mạc Đăng Dung luôn luôn quan tâm tăng
cường lực lượng chiến đấu đối phó với giặc và cũng tìm cách lộ ra điều này để cho
địch biết.
4. Qua diễn biến phức tạp của tình hình trên đây, chúng ta thấy rõ: một mặt
quyết tâm xâm lược của triều Minh rất cao, mặt khác họ cũng lo sợ sức chiến đấu

của chúng ta dưới sự chỉ huy của Mạc Đăng Dung. Vậy, khẳng định “nhà Minh rõ
ràng không dám xâm phạm đến nước ta” [11; 288-291] là vô căn cứ.
* Để thực hiện mưu đồ xâm lược, Minh Thế Tông cử Thượng thư Mao Bá Ôn
đi chinh thảo. Trước khi Mao Bá Ôn đi đánh cướp nước ta, vua Minh tặng một bài
thơ đầy khí chất hách dịch, coi Mao Bá Ôn là kỳ lân, dân ta là kiến cỏ, đồng thời
khẳng định nhất định thắng, hẹn trở về vua đích thân cởi áo bào cho Mao:
Đại tướng Nam chinh khẳng khái sao
Lưng đeo sáng quắc Nhạn Linh đao
Gió lay trống trận, sơn hà chuyển
Chớp nhoáng cờ đồn, nhật nguyệt cao
Trời thẳm kỳ lân sinh giống sẵn
Hang sâu kiến cỏ trốn đàng nào?
Thái bình khi chiếu đòi về nước
Trẫm cởi giùm ông chiếc chiến bào
Phụ hoạ cho khẩu khí đó, Mao Bá Ôn làm bài thơ vịnh bèo, coi khinh lực lượng
của nước ta như cánh bèo:
“…Bèo đã không gốc rễ, không có lá, không có cả cành
Tuy rằng họp lại đấy nhưng tan rã cũng rất nhanh
Chỉ một trận gió là tan tác
Nếu lại gặp phải khi trời xấu, bão gió
Thì quét một trận là ra hồ, ra bể không ai còn thấy vết tích nữa”
(Mao Bá Ôn)
* Huy động quân đội và dân binh

“Tháng 7 năm Gia Tĩnh 19, Hàm Ninh hầu Cừu Loan và Thượng thư bộ Binh
Mao Bá Ôn đến Lưỡng Quảng và Vân Nam để kiểm tra việc chuẩn bị hậu cần,
cùng đội ngũ quân lính dự định cho cuộc chinh phạt phương Nam. Cừu Loan đã
chuẩn bị kế hoạch tác chiến như sau: “Chia chính binh ra làm ba đội tiễu binh, từ
Quảng Tây đi các xứ Bằng Tường, Long Châu và Tư Minh... Kể cả chính binh và
kỳ binh là 22 vạn người” (Cương mục, tập 2, tr.114).
2. Triều đình nhà Lê trước cuộc xâm lược của nhà Minh
Trong bối cảnh suy vi, phong kiến nhà Lê đã nhiều lần liên tục cho người sang
Trung Quốc cầu Minh. Với danh nghĩa là đánh Mạc, nhà Minh sẽ thừa cơ tàn sát,
tiêu diệt luôn cả nước Việt. Đây là một mục đích truyền đời của phong kiến
Trung Quốc. Nhà Lê thừa biết điều này nhưng vì quyền lợi ích kỷ của vương
triều nên vẫn cứ ra sức van nài nhà Minh. “Nhà Mạc muốn tránh nguy hiểm
trong cuộc đụng độ với nhà Minh. Tuy nhiên, nguy cơ chiến tranh ngày càng
thúc bách, một phần bởi những mưu đồ thù địch của một số bề tôi trung thành
với nhà Lê” [10; 73].
Rất nhiều lần phái đoàn vua Lê hoặc bề tôi cũ của nhà Lê đi sang Trung Quốc
để tố cáo nhà Mạc, kích động chiến tranh của nhà Minh. Riêng năm 1537, liên tiếp
có 3 lần (kể cả trường hợp Vũ Văn Uyên):
- “Năm 1529, Trịnh Ngung - bề tôi cũ của nhà Lê đã sang Trung Quốc để tố
cáo việc cướp ngôi của Mạc Đăng Dung” [10; 73].
- “Ngay sau khi trung hưng triều Lê, năm 1533, Trịnh Duy Liêu liền được cử đi
Trung Quốc để tiếp tục tố cáo việc cướp ngôi của Mạc Đăng Dung” [10; 74].
- “Ngày 3 tháng 2 năm Gia Tĩnh thứ 16 (13/3/1537), cháu dòng đích của vua
An Nam tên là Lê Ninh (Trang Tông) sai người trong nước là bọn Trịnh Duy Liêu
gồm 10 người đến kinh đô… xin hưng binh hỏi tội để cứu nguy nạn nước” [3].
- “Tháng 6 năm 1537, phái bộ của Trịnh Duy Liêu do triều đình Lê phái sang
Yên Kinh” [10; 76].

