93
TÍCH HP GIÁO DỤC VĂN HÓA- NGH THUT DÂN TC TRONG GING
DY MÔN NG VĂN THPT 2018
ThS. Bùi Th Din
13
Tóm tắt:
Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ Văn 2018 chú trọng vào việc phát triển
những phẩm chất năng lực chung năng lực đặc thù cho người học. Hơn thế nữa, Ngữ
văn môn học dễ ng tích hợp giáo dục n hoá nghệ thuật dân tộc trong quá trình giảng
dạy. Chương trình Ngữ văn phân bố các bài học theo đặc trưng thể loại. Trong đó có các th
loại thể tích hợp với giáo dục văn hóa- nghệ thuật dân tộc như: thần thoại sử thi”,
“Kịch bn chèo, tuồng”… thông qua những bài học y học sinh không chỉ nắm được nội
dung bài học theo chuẩn kiến thức kĩ năng mà các em cũng dễ dàng tiếp cận hơn với các loại
hình văn hóa- nghệ thuật dân tộc. Góp phần đưa văn hóa- nghệ thuật dân tộc đến gần hơn với
học sinh THPT.
Từ khóa: Văn hóa - nghệ thuật dân tộc; Sân khấu hóa tác phẩm văn học; Chèo, tuồng;
Thần thoại, sử thi.
1. Mở đầu
Văn hóa nghệ thuật dân tộc kết tinh tinh hoa văn hóa truyền thống chảy suốt trong
cả quá trình dựng nước giữ nước của dân tộc Việt Nam. Trải qua hàng ngàn m lịch sử
với biết bao thăng trầm, biến chuyển, chúng ta vẫn tự hào đã gìn giữ, phát huy được một
nền văn hoá nghệ thuật đậm đà bản sắc dân tộc. Trong bối cảnh đất nước đang trên con
đường hội nhập phát triển, nhất công nghệ thông tin đang phủ khắp mọi nơi đang tác
động không nhỏ đến đời sống tinh thần của con người trong đó, có bộ phận giới trẻ, đặc biệt
là lứa tuổi học sinh phổ thông. Do vậy, công tác “giáo dục văn hóa – nghệ thuật dân tộc” cho
các em học sinh một nội dung quan trọng trong công tác giáo dục ở các trường phổ thông
hiện nay.
2. Thực trạng chung công tác giáo dục văn hóa nghệ thuật n tộc tại trường THPT
a. Thực trạng về tài liệu ging dạy giáo dục văn hóa- nghệ thuật dân tộc
Công tác giáo dục văn hóa- nghệ thuật dân tộc tại các trường THPT trong mấym
gần đây được chú trọng. Tuy nhiên tài liệu để phục vụ cho phổ biến công tác giáo dục văn
hóa- nghệ thuật vẫn chưa thực sự được quan tâm nhiều. Các tài liệu chủ yếu dạng tích
hợp, những tài liệu có tích hợp giáo dục văn hóa- nghệ thuật dân tộc tiêu biểu như “Tài liệu
giáo dục địa phương tỉnh Đắk Lắk” lớp 10 của Sở giáo dục đào tạo Đắk Lắk, trong đó
chủ đề 2 “Dân ca một số dân tộc tỉnh Đắk Lắk” trong chủ đề này các tác giả đưa vào
chương trình một số bài dân ca tiêu biểu của người Ê đê bao gồm: hát trong các nghi lễ
hát trong sinh hoạt đời thường như: Hát khấn thần, hát khóc, hát ei rei(arei), hát ru…Chủ
13
. Trường THPT Trần P - Thành phố Buôn Ma Thuột
94
đề cũng giới thiệu cho học sinh một số thể loại dân ca Mơ Nông như: Hát ru, hát đồng dao,
hát giao duyên. Có thể nói những tiết học giáo dục địa phương này đã giúp các em rất hứng
thú với văn hóa- nghệ thuật dân tộc nhất những em học sinh bản địa. Ngoài ra không kể
không kể đến bài học “sân khấu truyền thống (chèo/tuồng)” trong sách giáo khoa Ngữ Văn
10 của các bộ sách. đây, học sinh được tiếp cận với các tác phẩm chèo/ tuồng tiêu biểu
như chèo: “Quan Âm Thị Kính”, Chèo “Kim Nham”, các vở tuồng như “Nghêu, , Ốc,
Hến”…
b. Thực trạng việc tiếp nhận văn hóa- văn nghệ dân tộc của học sinh
Thực tế trong các trường THPT cho thấy, học sinh thường háo hức với các thể loại
văn hóa nghệ thuật hiện đại ngoại lai. Điều này dễ dàng nhận thấy nhất là trong âm nhạc.
Các thể loại âm nhạc ngoại nhập như nhạc Pop, Rock, nhạc Hàn, nhạc Trung, nhạc Anh ngữ
được giới trẻ đón nhận nhanh chóng không mấy mặn với văn hóa- nghệ thuật dân
tộc. Nhất là các thể loại nghệ thuật dân tộc truyền thống như chèo, tuồng.
Điều này cũng dễ hiểu bởi tâm lí lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông có xu ớng
tiếp cận cái mới mẻ, theo phong trào. Hơn thế nữa trên Intener quá nhiều chương trình
phim, ca nhạc, thời trang hấp dẫn, thu hút giới trẻ. Nhiều học sinh cũng cho biết các em không
hào hứng với nghệ thuật dân tộc ít được tiếp cận, việc phổ biến các loại hình nghệ thuật
dân tộc chưa sâu rộng nên các em không nhiều cơ hội để tìm hiểu. Ngoài ra có thể dễ dàng
nhận thấy các thể loại văn hóa- nghệ thuật dân tộc khó nắm bắt hơn so với các loại hình văn
hóa, văn nghệ đương đại. Học sinh trung học phổ thông cũng không hội để tiếp cận văn
hóa nghệ thuật truyền thống từ sớm để tìm thấy niềm đam mê.
Có nhiều học sinh có năng khiếu văn hóa- nghệ thuật cho rằng khi thi vào các trường
văn hóa nghệ thuật thì sẽ không chọn theo ngành văn hóa nghệ thuật dân tộc thu nhập
thấp lại ít cơ hội biểu diễn.
c. Văn hóa- văn nghệ dân tộc trong sách giáo khoa Ngữ Văn chương trình 2018
Chương trình Ngữ Văn 2018 không xếp theo giai đoạn văn học sử như chương trình 2006
tập trung vào đặc trưng thể loại kiểu văn bản. Việc dạy học theo đặc trưng thể loại giúp
học sinh biết cách đọc văn bản dựa vào đặc điểm của từng thể loại. Dạy học theo đặc trưng
thể loại hướng tới phát triển năng lực đọc (năng lực ngôn ngữ) và năng lực thưởng thức, cảm
thụ văn học (năng lực văn học). Thông qua nội dung các văn bản- tác phẩm được dạy mà giáo
dục tư tưởng, nhân cách cho học sinh.
Chương trình Ngữ văn THPT phân bố các bài học theo đặc trưng của các thể loại bao gồm
các thể loại như: Thần thoại sử thi; nghệ thuật truyền thống (Chèo/tuồng); Thơ Đường luật;
văn bản thông tin; Thơ tự do; truyện ngắn; y bút, tản văn; kịch…trong đó nghệ thuật truyền
thống mà cụ thể là chèo/ tuồng được cả 3 bộ sách (Cánh Diều, Chân trời sáng tạo, Kết nối tri
thức) đều trích dẫn những vở chèo/ tuồng tiêu biểu như : “Xúy Vân gidại” (Trích chèo “Kim
Nham”); “Thị Mầu lên chùa” (Trích chèo “Quan Âm Thị nh”); trích đoạn tuồng “Huyện
đường” “Huyện Trìa Xử án” “Mắc mưu Thị Hến” (trích tuồng “Nghêu, Sò, Ốc, Hến”)…Việc
đưa nghệ thuật truyền thống vào chương trình học Ngữ văn góp phần đưa các loại hình n
hóa- nghệ thuật dân tộc đến gần với học sinh THPT hơn.
95
3. Tích hợp giáo dục văn hóa nghệ thuật dân tộc cho học sinh phổ thông trong
hoạt động trải nghiệm văn học dân gian theo từng thể loại
a. Trong hoạt động nâng cao nhận thức
Với thực trạng như trên, làm thế nào để học sinh thể hiểu và yêu văn hóa nghệ thuật
dân tộc? Từ đó tự hào, gìn giữ và phát huy các thể loại văn hóa- văn nghệ dân tộc? bên cạnh
sự quan tâm của nhà nước, các quan quản văn hóa thì đội ngũ sản xuất các chương trình
văn hóa – nghệ thuật dân tộc cần phải kế hoạch cụ thể, bài bản hơn cho đội nhóm của mình,
tăng cường truyền thông, đưa các loại hình dân ca - kịch - chèo vào trường học để các em học
sinh tìm hiểu từ sớm... những nội dung đến với học sinh cần ngắn gọn súc tích, chạm được
lòng người cùng dàn diễn viên trẻ thực lực cũng để truyền được cảm hứng cho các bạn trẻ.
b. Trong hoạt động tri nghiệm sân khấu hóa
Để văn hóa nghệ thuật dân tộc đến gần n với học sinh THPT thì Sân khấu học đường
cầu nối để tạo thế hệ khán giả mới. nghĩa ngay tại lớp học, trường học sẽ nơi các
tác phẩm văn hóa nghệ thuật dân tộc được sống lại đạo diễn, diễn viên, hóa trang sẽ chính
các em học sinh dưới sự gợi dẫn của các giáo viên. Các hình thức “sân khấu hóa” các tác
phẩm văn học chuyển thể thành các loại hình văn hóa- nghệ thuật nhất các loại hình văn
hóa nghệ thuật dân tộc trở thành một trong những phương thức mang nghệ thuật truyền thống
đến gần hơn với lứa tuổi học sinh.
Để các em học sinh quan m đến văn hóa nghệ thuật dân tộc cần cho các em thấy
được cái hay cái đẹp của văn hóa- văn nghệ truyền thống. Để học sinh thấy cái hay, cái đẹp
của văn hóa nghệ thuật dân tộc thì giáo viên giảng dạy nhất giáo viên Ngữ văn phải am
hiểu, phải yêu thíchn hóa văn nghệ dân tộc thì mới có thể truyền cảm hứng đến các em
học sinh. Chính vậy, trước hết giáo viên cần tìm hiểu những hiểu biết nhất định về
thể loại văn hóa văn nghệ truyền thống thì sự tích hợp trong quá trình giảng dạy mới mang
lại hiệu quả.
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 chú trọng vào việc phát triển những phẩm chất
năng lực chung và năng lực đặc thù cho người học. Chương trình Ngữ văn cũng nhằm mục
đích ấy. Bên cạnh chú trọng phát triển những phẩm chất năng lực chung đặc thù. Chương
trình Ngữ văn môn học dễ dàng tích hợp giáo dục văn hoá nghệ thuật dân tộc trong quá
trình giảng dạy. Đặc trưng bộ môn đã giúp cho giáo viên và học sinh cảm nhận sâu sắc và có
điều kiện tiếp cận n hoá nghệ thuật hơn so với các môn học khác.
Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ Văn 2018 chú trọng vào việc phát triển
những phẩm chất năng lực chung năng lực đặc thù cho người học. Hơn thế nữa, Ngữ
văn môn học dễ dàng tích hợp giáo dục n hoá nghệ thuật dân tộc trong quá trình giảng
dạy.
Chương trình Ngữ văn phân bố các bài học theo đặc trưng thể loại. Trong đó các
thể loại có thể tích hợp với giáo dục văn hóa- nghệ thuật dân tộc như:thần thoại và sử thi”,
“Kịch bn chèo, tuồng”… thông qua những bài học y học sinh không chỉ nắm được nội
dung bài học theo chuẩn kiến thức kĩ năng mà các em cũng dễ dàng tiếp cận hơn với các loại
96
hình văn hóa- nghệ thuật dân tộc. Góp phần đưa văn hóa- nghệ thuật dân tộc đến gần hơn với
học sinh THPT.
Chương trình Ngữ văn 10 đều mang loại hình sân khấu dân gian vào sách giáo khoa.
Các thể loại mà sách giáo khoa triển khai bao gồm tuồng và chèo. Thông qua bài học này học
sinh không chnăm được đặc trưng của hai loại hình sân khấu nghệ thuật độc đáo của dân tộc
hơn hết học sinh còn được tiếp cận với sân khấu tuồng, chèo thông qua các video/ clip/
phim tư liệu được trình chiếu. Đặc biệt hơn, học sinhthể tự mình biên đạo, đóng vai, hóa
trang thành nhân vật. Qua các hoạt động này, học sinh không những hiểu về thể loại mà góp
phần tình yêu với bộ môn nghệ thuật truyền thống của dân tộc.
Với vở tuồng Nghêu, sò, ốc, hến” nằm trong sách giáo khoa 10. Khi dạy tác phẩm
tuồng này chúng tôi thấy đây vở tuồng hoàn chỉnh việc để các em học sinh biểu diễn vừa
giúp các em hào hứng với bài học kích thích sự sáng tạo ở các em quan trọng hơn việc để các
em biểu diễn lại vở tuồng giúp truyền tải những giá trị văn hóa dân gian đưa văn hóa nghệ
thuật dân tộc tuồng đến gần với học sinh hơn. Thông qua việc học đoạn trích tuồng chương
trình lớp 10 các em sthấy tuồng một loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống rất đặc
sắc độc đáo, việc tích hợp dạy tác phẩm biểu diễn sân khấu hóa giúp cả giáo viên và học
sinh có thể nghe thấy tận mắt hiểu thêm tinh hoa nghệ thuật cha ông để lại từ đó khơi gợi
niềm yêu thích với nền văn học nghệ thuật dân tộc góp phần giữ gìn phát huy văn hóa nghệ
thuật truyền thống.
Khi dạy tác phẩm này chúng tôi tích hợp những yêu cầu cần đạt của bài học với “sân
khấu hóa”. Để học sinh có cái nhìn trực quan hơn về loại hình nghệ thuật này chúng tôi đã tổ
chức các hoạt động như mở các video về các buổi giao lưu tọa đàm giữa nghệ tuồng và cho
học sinh đóng vai biểu diễn một số trích dẫn đặc sắc. ngoài ra chúng tôi còn giới thiệu thêm
các trích đoạn tuồng phù hợp với học sinh trung học phổ thông khác có nhân vật lịch sử như
tuồng Trưng ơng, Trần Quốc Toản, Trần ng Đạo…việc y không chỉ giúp các em hiểu
thêm về nghệ thuật tuồng mà còn khắc sâu về bài học lịch sử của dân tộc, khơi gợi lòng yêu
nước tự hào dân tộc trong thế hệ trẻ.
Chúng tôi thực hiện việc tích hợp bài học với văn hóa nghệ thuật dân tộc các hoạt động
khác nhau đặc biệt là hoạt động luyện tập.
Ví dụ
Hoạt động 3: Luyện tập
a. Mục tiêu: học sinh nhận biết được cách thức sân khấu hóa một kịch bản tuồng.
b. Nội dung: học sinh được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ sau
Nếu được tham gia dàn dựng lại cảnh huyện đường trên sân khấu, em sẽ u ý đến
những yếu tố nào? Vì sao?
c. Sản phẩm: kết quả học tập của học sinh
- Kịch bn: kịch bản tuồng được sáng tác dựa trên tích chuyện dân gian lưu truyền theo
phương thức truyền miệng nên không nhất thiết phải cố định. Do đó, người viết lại kịch bản
97
cảnh huyện đường thể đưa vào những sáng tạo, thay đổi cho phù hợp với điều kiện diễn
xuất, đối tượng người xem và bối cảnh thời đại.
- Bài tsân khấu: đoạn trích huyện đường mở đầu bằng những chỉ dẫn sân khấu miêu tả
tương đối tỉ mỉ cách bài trí sân khấu. Điều này cho thấy việc thiết kế phông nền, chuẩn bị đạo
cụ kỹ lưỡng là một khâu quan trọng trong quá trình đưa kịch bản tuồng lên sân khấu.
- Diễn xuất của diễn viên: diễn viên tuồng thường sử dụng cách trang điểm (phối hợp đường
nét, màu sắc trên khuôn mặt) như một phương thức ước lệ cho bản chất của nhân vật; cần xác
định được tính cách của từng nhân vật. nh châm biếm của vở tuồng có biểu cảm giọng điệu
ngôn ngữ hình thể phù hợp.
Đối với tác phẩm chèo. Trong chương trình Ngữ Văn 10 chương trình giáo dục 2018
cũng cũng trích một đoạn trong tác phẩm chèo nổi tiếng “Kim Nham” đó đoạn “ Thúy Vân
giả dại”. Bên cạnh trang bị cho học sinh những năng lực như: hiểu được một số đặc điểm của
nghệ thuật chèo truyền thống thể hiện qua các đoạn trích trong sách hiểu được một số đặc
điểm của nghệ thuật chèo truyền thống thể hiện qua các đoạn trích “Xúy Vân giả dại” trên
các phương diện: đề tài, tích truyện, nhân vật, lời thoại…từ đó khái quát được cách đọc kịch
bản chèo theo đặc trưng thể loại. Nhận xét được tác động của văn bản chèo đối với quan niệm
sống tình cảm của người đọc, tới cách ứng xử của người đọc với những vấn đề thực tiễn
trong đời sống ngày nay.
Thông qua việc đọc văn bản chèo học sinh tự hào ý thức bảo tồn, phát huy những
giá trị truyền thống của văn hóa dân tộc; đồng cảm, xót thương cho bi kịch của người phụ nữ.
Hoạt động “sân khấu hóa tác phẩm văn học” – một hoạt động tích hợp của học sinh
Để tích hợp được phần đọc hiểu văn bản “Xúy Vân giả dại” trong sách giáo khoa với
nghệ thuật chèo, chúng tôi trình chiếu hình ảnh minh họa vai Xúy Vân trong vở chèo Kim