intTypePromotion=1

Tiểu luận Lý Thuyết Thống Kê "KHẢO SÁT NHU CẦU ĐI DU LỊCH, DÃ NGOẠI CỦA SINH VIÊN LÀNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH"

Chia sẻ: Lê Đức Ngọc | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:23

0
1.336
lượt xem
210
download

Tiểu luận Lý Thuyết Thống Kê "KHẢO SÁT NHU CẦU ĐI DU LỊCH, DÃ NGOẠI CỦA SINH VIÊN LÀNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hiện nay Việt Nam đang bước vào tiến trình hội nhập, quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa diễn ra ngày càng sâu rộng hơn, nền kinh tế dần đạt được nhiều thành tựu hơn. Trong điều kiện đó, đời sống người dân đang được cải thiện từng ngày, theo sau đó là nhu cầu giải trí, nghỉ ngơi cũng tăng lên.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận Lý Thuyết Thống Kê "KHẢO SÁT NHU CẦU ĐI DU LỊCH, DÃ NGOẠI CỦA SINH VIÊN LÀNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH"

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA KINH TẾ - LUẬT BỘ MÔN LÝ THUYẾT THỐNG KÊ ---o0o--- ĐỀ TÀI CUỐI KHÓA: KHẢO SÁT NHU CẦU ĐI DU LỊCH, DÃ NGOẠI CỦA SINH VIÊN LÀNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GVHD: ThS.NGUYỄN ĐÌNH UÔNG LỚP: K08405A NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 20 1. NGUYỄN XUÂN CƯỜNG K064020108 2. BÀNH HOÀI DANH K084050746 3. NGUYỄN THỊ HƯƠNG K084050770 4. TRẦN THỊ PHƯƠNG THÙY K084050858 5. THI THỊ PHƯƠNG Ý K084050879 ------Tháng 1/2010------
  2. MỤC LỤC: Lời mở đầu 1. Lí do chọn đề tài………………………………………………………….. 2. Mục đích nghiên cứu……………………………………………………... 3. Đối tượng, đơn vị, phạm vi nghiên cứu…………………………………... 4. Phạm vi nghiên cứu………………………………………………………. Chương I: Mô hình nghiên cứu 1.1 Nghiên cứu chung……………………………………………………….. 1.2 Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………… 1.3 Sơ đồ tác động của nhu cầu đi du lịch, dã ngoại………………………… 1.4 Bảng câu hỏi phỏng vấn…………………………………………………. Chương II: Phân tích- Đo lường- Đánh giá kết quả điều tra 2.1 Phân tích chung…………………………………………………………. 2.2 Ước lượng và kiểm định một số giả thiết……………………………….. Chương III: Kết luận- Kiến nghị 3.1 Kết luận…………………………………………………………………. 3.2 Thuận lợi- Khó khăn……………………………………………………. 3.3 Kiến nghị……………………………………………………………….. Lời kết.
  3. LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Hiện nay Việt Nam đang bước vào tiến trình hội nhập, quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa diễn ra ngày càng sâu rộng hơn, nền kinh tế dần đạt được nhiều thành tựu hơn. Trong điều kiện đó, đời sống người dân đang được cải thiện từng ngày, theo sau đó là nhu cầu giải trí, nghỉ ngơi cũng tăng lên. Ngay bản thân mỗi sinh viên tại các giảng đường đại học, cao đẳng, sau những giờ phút học tập tại lớp cũng muốn tìm cho mình những hoạt động vui chơi giải trí phù hợp để giải tỏa căng thẳng. Nắm bắt được nhu cầu này, hầu hết các tập thể lớp, đoàn hội, cũng như các câu lạc bộ…. thường cố gắng tổ chức những buổi dã ngoại hoặc những chuyến du lịch ngắn ngày, ngoài mục đích giải trí, những chuyến đi này còn giúp tăng c ường tinh thần đoàn kết cũng như bổ sung thêm kiến thức cho các thành viên tham gia. Những chuyến đi như thế này đang dần trở thành xu hướng giải trí phần lớn của sinh viên ngày nay. Về phía sinh viên, có thể thấy nhu cầu du lịch là rất cao, những cuộc đi ch ơi tập thể như thế là rất cần thiết và bổ ích. Tham gia các hoạt động này ta có thể làm quen với nhiều bạn mới hơn, giúp một tập thể gắn bó, đoàn kết hơn, có thể trau dồi được nhiều kiến thức cũng như kinh nghiệm sống hơn….Theo thông tin chúng tôi thu nhận được, hầu hết mỗi lớp trong một năm đều có tổ chức đi du l ịch, dã ngo ại tập thể ít nhất một lần, chưa kể các câu lạc bộ, đội, nhóm. Tuy nhiên, đ ể có thể tổ chức trọn vẹn được một hoạt động vui chơi tập thể thành công là một việc không đơn giản. Ngoài việc tổ chức nội dung chương trình hấp dẫn, thú vị, thu hút mọi người tham gia còn công tác chuẩn bị các dịch vụ khác từ việc liên hệ thuê xe phục vụ việc đi lại, hay vấn đề về ăn uống,chỗ nghỉ ngơi…Điều quan trọng nhất ở đây vẫn là kinh phí mà các bạn phải bỏ ra một chuyến du lịch, dã ngoại. Xét tổng thể, với đối tượng là sinh viên, kinh phí sẵn sàng bỏ ra cũng ở một mức nhất định. Vì thế những người đứng ra tổ chức thay vì tìm đến các công ty cung cấp dịch vụ du lịch thường tự liên hệ nhà xe, các vật dụng cần thiết trong quá trình đi du lịch, dã ngoại, chỗ ăn nghỉ…Thêm vào đó là việc thiếu những thông tin cần thiết, so sánh gi ữa những địa điểm khác nhau để có thể chọn ra địa điểm phù hợp dễ dẫn đ ến việc bị ép giá xe, giá phòng trọ, nhà nghỉ và các dịch vụ khác. Xuất phát như nhu cầu cũng như thực trạng thực tế đi du lịch dã ngoại của sinh viên tại làng đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, nhóm chúng tôi nhận thấy một bất cập rất lớn về cung cầu ở đây. Trong khi nhu cầu của sinh viên là r ất cao như thế nhưng lại không có một trung tâm hay công ty cung cấp d ịch vu du l ịch trọn gói nào với giá cả phù hợp cho sinh viên. Hãy thử làm một phép tính nhỏ. Giả sử nếu có một công ty chuyên cung cấp dịch vụ du lịch được thành lập tại khu vực này. Giả sử mỗi năm một lớp tổ chức du lịch, dã ngoại một lần, cứ mỗi chuyến đi, sau khi cung cấp các dịch vụ cũng như thanh toán các khoản cẩn thiết,theo tính toán của chúng tôi công ty có thể thu được lợi nhuận thực tế ít nhất là 100.000 đồng. Theo số liệu ước tính trong các trường thuộc đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 7000 lớp, như vậy với một phép tính đơn giản nếu hoạt động trong vòng một năm công ty có thể thu được lợi nhuận ít nhất 700 triệu đồng, một con số không nhỏ, đó là chưa kể nhu cầu này không chỉ tại khu vực đại học Quốc gia mà còn ở các trường khác(đại học Nông Lâm, đại học Thể dục- Thể thao….) Bên cạnh đó, với số
  4. lượng sinh viên đông đảo nhất tại thành phố thì khu vực làng Đại học sẽ trở thành một thị trường rất tiềm năng trong lĩnh vực này. Chính vì những lý do thực tế đó, nhóm chúng tôi quyết định tiến hành khảo sát và nghiên cứu về vấn đề này thông qua đề tài “ nhu cầu đi du lịch, dã ngoại của sinh viên làng đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh” 2. Mục đích nghiên cứu : Mục tiêu đầu tiên của đề tài này trước hết là cung cấp một cái nhìn tổng quan cho sinh viên cùng những thành phần khác trong xã hội về “Nhu cầu đi du l ịch, dã ngoại của sinh viên làng đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh”. Thông qua đó mọi người có thể nhận thấy nhu cầu và xu hướng chọn địa điểm dã ngoại, phương thức du lịch của sinh viên làng Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cũng như sinh viên ngày nay nói chung. Thứ hai, việc thu thập và phân tích những số liệu thu được đề tài có thể cung cấp cho các công ty dịch vụ thông tin, dữ liệu về vấn đề này ( như mức tiền/một chuyến đi bao nhiêu là phù hợp,dịch vụ thuê xe và ăn uống cần phải như thế nào…) , từ đó các nhà cung cấp đưa ra những chiến lược mới thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của sinh viên. Đồng thời đề tài sẽ đưa ra những hướng đầu tư mới cho các nhà đ ầu t ư đang có kế hoạch thâm nhập vào lĩnh vực này. Thứ ba, đối tượng chính của đề tài là sinh viên nên các bạn sinh viên, đặc biệt là những bạn nằm trong ban cán sự lớp,ban chấp hành Đoàn, Hội cũng có thể tìm kiếm thêm những thông tin bổ ích từ đề tài này ( ví dụ như địa điểm nào được các bạn sinh viên hài lòng nhất khi đi dã ngoại, các bạn mong muốn những gì khi tham gia một chuyến du lịch, bạn nên tham gia vào hình thức dã ngoại nào để vừa phù hợp với khả năng tài chính vừa không lãng phí thời gian…) Thứ tư, có thể nhận thấy rõ ràng nhu cầu của sinh viên về du lịch là r ất l ớn nhưng có nên lập nên một trung tâm chuyên biệt về vấn đề này dành riêng cho sinh viên làng Đại học quốc Gia hay không? Những điều kiện cần và đủ để lập nên dự án này là gì? Đề tài có thể đưa ra một phần câu trả lời cho câu hỏi lớn này . Thứ năm, qua việc thực hiện đề tài nhóm cũng mong muốn áp dụng nhiều hơn kiến thức mình được học ở bộ môn “ Nguyên lý thống kê” vào thực tiễn,sử dụng phấn mềm SPSS, hoàn thiện khả năng đánh giá và phân tích của mình. 3. Đối tượng, đơn vị, phạm vi nghiên cứu : - Đối tượng nghiên cứu : nhu cầu đi du lịch, dã ngoại của sinh viên làng đ ại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. - Đơn vị nghiên cứu : tất cả sinh viên thuộc các trường tại Làng Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. - Phạm vi nghiên cứu : trên địa bàn Làng Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh ( Linh Trung- Thủ Đức). - Thời gian nghiên cứu : đề tài nàu được thực hiện và hoàn thành vào tháng 12 năm 2009. 4. Phương pháp nghiên cứu : Với mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu như trên đề tài được thực hiện bằng phương pháp định tính và định lượng theo các giai đoạn sau :
  5. + Giai đoạn 1 : xác định lí do, mục đích, nội dung cũng như đ ối tượng và phạm vi nghiên cứu. + Giai đoạn 2 : xây dựng bảng câu hỏi khảo sát. Dựa trên ý kiến cũng như hiểu biết của mỗi thành viên, nhóm đã cố gắng đưa ra một bảng câu hỏi hoàn chỉnh ,thể hiện được những nội dung chủ yếu của đ ề tài và có khả năng phân loại đối tượng khảo sát sao cho phù hợp ( phan loại người đi hay không đi du lchj, dã ngoại với tập thể hay giữa những người tổ chức hay không tổ chức các cuộc đi chơi tập thể…) Sau khi xây dựng xong bảng câu hởi dự kiến, nhóm đã tiến hành điều tra thử trên một số các bạn sinh viên ( 20 người ) nhằm tìm ra những điểm chưa hợp lí của bảng câu hỏi và có điều chỉnh sao cho phù hợp + Giai đoạn 3 : điều tra thống kê ( phương pháp chọn mẫu) Bảng câu hỏi phỏng vấn được điều tra bằng cách lấy mẫu thuận tiện, nhóm đã tiếp cận những đối tượng của đề tài, đề nghi sự giúp đỡ của họ dưới dạng phỏng vấn trực tiếp.Nhóm đã điều tra được tất cả 167 bạn sinh viên đang ở kí túc xá Đại học Quốc gia và các day trọ trên cùng địa bàn. + Giai đoạn 4 : sau khi điều tra bảng câu hỏi xong, nhóm tiến hành tập hợp, sắp xếp lại toàn bộ số liệu thu thập được.Dữ liệu được mã hóa, nhập máy tính và phân tích với phần mêm SPSS 17.Trong đó đã định ra các cấp bậc đo lường cũng như các thang đo dữ liệu, tóm tắt bằng các đại lượng thống kê mô tả, ước lượng…. + Giai đoạn 5 : phân tích và giải thích kết quả.Từ đó dự đoán xu hướng phát triển. + Giai đoạn 6 : báo cáo và truyền đạt kết quả nghiên cứu.
  6. CHƯƠNG I: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Giới thiệu chung : Hoạt động du lịch, dã ngoại: là sự di chuyển đến một địa điểm cụ thể nào đó nhằm mục đích tham quan, tham gia các hoạt động văn hóa, ăn uống, giải trí hay sinh hoạt thường ngày …tại nơi đến. Một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu : -Thủ Đức là một vùng ngoại ô của thành phố Hồ Chí Minh – thành ph ố có nền kinh tế sôi động bậc nhất cùng với lượng dân cư đông nhất cả nước. Tại đây tập trung rất nhiều trường đại học trực thuộc đại học Quốc gia như đ ại học Khoa học- Xã hội nhân văn, đại học Khoa học Tự nhiên, đại học Bách Khoa, đại học Quốc tế, đại học công nghệ thông tin, khoa Kinh tế, ngoài ra còn có các tr ường đ ại học thể dục thể thao , đại học nông lâm, đại học Việt Đức…Cùng với số lượng sinh viên khổng lồ như thế nhu cầu vui chơi giải trí là rất lớn. -Bên cạnh đó, quận Thủ Đức có các tuyến đường nối liền với các khu vui chơi giải trí, các địa điểm du lịch nổi tiếng như : suối Tiên, Xoài, Long Thành , Bọ Cạp Vàng ( Đồng Nai), Vũng Tàu, Long Hải…hay những địa điểm dài ngày hơn như Đà Lạt, mũi Né… 1.2 Đối tượng nghiên cứu : Nghiên cứu được thực hiện bằng cách điều tra chọn mẫu bao gồm 167 sinh viên tại Làng đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.Các đối tượng điều tra không tập trung ở bất kỳ một trường đại học nào mà phân bố ở hầu hết các trường trên địa bàn với tỷ lệ nam –nữ tương ứng là 46% - 54%.Số lượng sinh viên năm 2, năm 3, năm 4 chiếm trên 85%.Thời gian phỏng vấn từ ngày 20- 22 tháng 12 năm 2009. Nhằm đảm bảo tính khách quan cho đề tài, nhóm điều tra theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện nhưng không phỏng vấn những người cung một nhóm bạn chơi chung hay những người ở chung một phòng hay quá nhiều người học cùng một lớp. 1.3 Sơ đồ tác động của nhu cầu đi du lịch, dã ngoại: 1.4 Bảng câu hỏi phỏng vấn: Bảng câu hỏi bao gồm 15câu hỏi dưới hình thức trắc nghiệm, bao gồm các loại thang đo : định danh, thứ bậc và tỉ lệ. Thứ tự Nội dung câu hỏi Thang đo Trong năm, lớp bạn thường tổ chức mấy lần Tỷ lệ Câu 1 đi du lịch, dã ngoại Số người tham gia các cuộc du lịch, dã ngoại Tỷ lệ Câu 2 của lớp bạn Thu nhập bình quân 1 tháng của bạn Thứ bậc Câu 3
  7. Bạn có thường xuyên tham gia hoạt động du Thứ bậc Câu 4 lịch ,dã ngoại không Vì sao bạn không tham gia du lịch, dã ngoại Định danh Câu 5 Nếu không tham gia du lịch,dã ngoại bạn có Định danh Câu 6 nhu cầu giải trí nào Mức độ hài lòng của bạn về các dịch vụ du Tỷ lệ Câu 7 lịch, dã ngoại Các địa điểm du lịch, dã ngoại mà bạn Định danh Câu 8 thường đến Cảm nhận của bạn sau mỗi chuyến du lich, Thứ bậc Câu 9 dã ngoại Số tiền bạn thường chi ra cho một chuyến du Thứ bậc Câu 10 lịch,dã ngoại Bạn đã từng tham gia tổ chức một chuyến du Định danh Câu 11 lịch,dã ngoại chưa Khó khăn khi tổ chức du lịch, dã ngoại Tỷ lệ Câu 12 Kênh thông tin bạn thường lựa chọn khi tổ Định danh Câu 13 chức hoạt động du lịch, dã ngoại Thời điểm được lựa chọn để đi du lịch, dã Định danh Câu 14 ngoại Suy nghĩ của bạn khi có một trung tâm( công Tỷ lệ Câu 15 ty) cung cấp dịch vụ du lịch trọn gói Câu hỏi 1, 4, 9 mang tính chất phân loại đối tượng.Câu 1 nhằm mục đích kiểm chứng lại cơ sở hình thành lí do tiến hành đề tài này có sát thực hay không.Câu 4 nhằm phân loại mức độ có thường xuyên tham gia các hoạt động du lịch, dã ngoại do lớp/nhóm/câu lạc bộ tổ chức.Câu 9 phân loại người đã từng tham gia tổ chức hoạt động du lịch, dã ngoại nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu sâu về quá trình tổ chức một hoạt động vui chơi tập thể. Nhìn chung, bảng câu hỏi phỏng vấn bao gồm 4 phần như sau : Từ câu 1 đến câu 4 và câu 15 chung cho tất cả đối tượng điều tra. Câu 5, câu 6 giành cho những người không tham gia hoạt đ ộng du l ịch, dã ngoại do lớp/nhóm/ câu lạc bộ tổ chức. Từ câu 7 đến câu 11, là câu hỏi giành cho những người có tham gia các hoạt động du lịch, dã ngoại nhưng không tham gia tổ chức. Từ câu 12 đến câu 14 phần giành cho những người đã từng tham gia tổ chức những hoạt động du lịch, dã ngoại cho lớp/ nhóm/ câu lạc bộ.
  8. CHƯƠNG II : PHÂN TÍCH – ĐO LƯỜNG – ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRA 2.1 Phân tích chung : Câu hỏi đầu tiên với mục đích kiểm tra tiềm năng du lịch, dã ngoại ở mỗi đơn vị lớp/ nhóm/ câu lạc bộ cho kết quả như sau : So lan to chuc cua lop Tần số Tần suất Tần suất Tần suất tích hợp lệ lũy Không tổ chức 8 4.8 4.8 4.8 1 lần 57 34.1 34.1 38.9 2 lần 56 33.5 33.5 72.5 hơn 2 lần 46 27.5 27.5 100.0 Tổng 167 100.0 100.0 Chỉ có 4,8% đối tượng điều tra (8/167) khẳng định đơn vị tập thể mình hoạt động chưa từng tổ chức đi du lịch, dã ngoại. Còn lại trong một năm, hầu hết đều có tổ chức từ 1 – 2 lần, thậm chí nhiều hơn thế. Và số lượng người tham gia (quy mô) trong một chuyến du lịch, dã ngoại bình quân tương đối nhỏ. Tập trung chủ yếu ở khoảng từ 20 – 50 người ( 41,3%) và < 20 người ( 31,1%).
  9. Cũng theo số liệu khảo sát về thu nhập bình quân của các bạn sinh viên trong tháng, có tới 61,7% có thu nhập từ 1 – 2 triệu/ tháng, 4,2% có thu nhập >3 triệu/ tháng Ta có được bảng thống kê về sự liên quan giữa thu nhập hnàg tháng và mức độ đi du lịch, dã ngoại cùng với lớp của các bạn sinh viên < 1 triệu Từ 1- 2 Từ 2-3 >3 triệu Tổng Tiêu chí triệu triệu Không tham gia 11 13 2 0 26 Thinh thoảng 23 76 8 1 108
  10. Thường xuyên 1 14 10 8 33 Tổng 35 103 20 9 167 Dựa vào bảng trên ta thấy không một sinh viên nào có thu nhập cao (> 3 triệu) lại không bao giờ tham dự các hoạt động du lịch, dã ngoại do tập thể tổ chức.Hầu hết các bạn có thu nhập trung bình ( từ 1- 2 triệu ) chỉ thỉnh thoảng mới tham gia các hoạt động này( 76/103).Những bạn có thu nhập thấp gần như không tham gia thường xuyên các cuộc đi chơi ( 1/35).Có thể nói thu nhập góp phần rất lớn trong việc quyết định đi chơi với tập thể của các bạn sinh viên.Tựu chung lại hầu hết mọi người đều thỉnh thoảng mới đi du lịch, dã ngoại. Trong số 26 bạn được điều tra trả lời là chưa từng tham gia( 15,6%),khi hỏi lí do các bạn cho biết : 38,5% cảm thấy không hứng thú do không thích địa điểm đó, không có những người bạn thân cùng đi hay đã từng đi những nơi đó rồi; 26,9% cho biết họ không đủ tiền để tham gia; một số khác do không sắp xếp được thời gian hợp lí để đi cùng với lớp ( 19,2%); số còn lại là do vấn đề sức khỏe.Khi những
  11. người này không đi du lịch, dã ngoại, họ chọn lựa những nhu cầu giải trí khác phù hợp với mình hơn như đi shopping( 8,1%), đi dự tiệc cùng bạn bè ( 8,1%) ,uống café (18,9%) , đi xem phim ( 24,3%) và nhiều hoạt động khác nữa….. Quay lại với những người tham gia hoạt động du lịch, dã ngoại, khi phỏng vấn về các dịch vụ ở địa điểm du lịch, mức độ hài long của họ như sau( đơn vị %) Tạm được Bình thường Được Rất hài Tiêu chí Không hài lòng lòng Địa điểm 5 14,3 45,7 24,3 1 0,7 Phương tỉện đi 11,4 20 37,1 25,7 5 lại ,7 Ăn uống 6.4 31,4 36,4 20 5 ,7 Chỗ nghỉ ngơi 10 27,1 35,7 20 7 ,1 Rất nhiều đánh giá cho rằng những dịch vụ, về ăn uống, phương tiện đi lại hay chỗ ngủ nghỉ chỉ ở mức trung bình. Nói cách khác những dịch vụ này chưa đáp ứng được những nhu cầu của mọi người khi đi du lịch, dã ngoại. Ở câu hỏi số 9, rất ít trong số những bạn sinh viên đã t ừng tham gia đi du lịch, dã ngoại với lớp/nhóm/câu lạc bộ cho rằng những cuộc đi chơi ấy là nhàm chán (1,8%), thậm chí có nhiều người cho rằng những cuộc đi chơi như thế là rất tuy ệt, họ sẵn sàng tham gia lần sau (24,6%), và 58,1 % đánh giá chất lượng các hoạt động du lịch, dã ngoại ở mức bình thường.
  12. Những địa điểm thường được sinh viên lựa chọn để đi du lịch, dã ngoại được thống kê như sau : ( đơn vị %) Địa điểm Tần số tích lũy Vùng biển 34,8 Khu vui chơi giải trí, khu du lịch sinh thái 32,3 Nơi có khí hậu mát mẻ 17,1 Vùng sông nước 6,7 Những nơi khác 9,1 Có thể thấy xu hướng chung của các bạn là tới các khu vui chơi giải trí hay du lịch sinh thái.Những nơi này thuận tiện cho việc giao lưu tập thể, có thể kết hợp vui chơi , thăm quan , có thể tổ chức trong ngày và đỡ tốn kém chi phí.Ngoài ra vùng biển như Vũng Tàu, Long Hải, mức kinh phí cho những chuyến đi này cung không là quá cao, có thể đi cắm trại qua đêm, kéo dài trong khoảng hai ngày…
  13. Dưới đây là biểu đồ thể hiện số tiền mọi người sẵn sàng chi ra cho một chuyến du lịch dã ngoại : Có khoảng 44% đối tượng sinh viên sẵn sàng chi ra từ 100 – 200 ngàn cho một lần đi du lịch, dã ngoại. Trong tất cả những người từng tham gia du lịch, dã ngoại có 43,6% đã từng tham gia tổ chức các hoạt động đó. Điều này phần nào đảm bảo tính khách quan cho dữ liệu ở những câu sau sẽ phù hợp với thực tế hơn. Khi phân tích sâu vào quá trình tổ chức, chúng ta có những kết quả sau : Khi có ý tưởng thực hiện một cuộc du lịch, dã ngoại thường các bạn phải tìm kiếm những thông tin cần thiết. Có rất nhiều kênh thông để bạn có thể tham khảo và lựa chọn.Rất nhiều bạn chọn cách đơn giản, đỡ tốn kém là tìm hiểu thông qua bạn bè, người quen, nhất là các anh chị năm trước có nhiều kinh nghiệm tổ chức (43,3%). Ngoài ra còn một công cụ hữu ích khác là thông qua phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, tivi, hay internet… chiếm tỷ lệ khá lớn 31,7%. Một phuơng án khác đó là tới trực tiếp nơi có ý định tổ chức tham khảo trước đ ịa hình cũng như chỗ ăn nghỉ…nhưng cách làm này xem ra khá tốn kém về mặt kinh phí, thời gian cũng như tiền bạc, nó chỉ có thể áp dụng cho những địa điểm ở gần đây. Có một điểm cần lưu ý ở đây, chỉ khoảng 3,3% tìm hiểu những thông tin cần thiết ở các công ty, trung tâm môi giới chuyên cung cấp các dịch vụ về du lịch, một con số rất nhỏ. Khi tổ chức các hoạt động này, thường sẽ vướng phải những khó khăn nhất định như liên hệ nhà xe, nhà nghỉ hay chỗ ăn uống dễ bị ép giá do không th ể nắm bắt đầy đủ thông tin thực tế ở nơi đi du lịch, thậm chí đôi khi phải t ự túc v ề
  14. vấn đề ăn uống hay các công cụ dụng cụ cần thiết cho quá trình vui chơi.Tuy nhiên, khi làm khảo sát điều tra thu được kết quả sau : Giá trị trung bình Tiêu chí Thông tin về địa điểm và các dịch vụ liên quan 2,65 Kinh phí 3,18 An ninh 3,12 Khác 3,43 Có nghĩa hầu hết mọi người đều cho rằng những khó khăn nêu trên chỉ ở mức bình thường, có thể khác phục được. Điều này một phần có thể lí giải do các bạn sinh viên chịu trách nhiệm tổ chức thường tìm hiểu thông tin qua những người đi trước hay bạn bè đã từng đi những nơi đó nên họ cảm thấy không khó khăn mấy. Làm như thế thường xuyên,bạn sẽ không thể có cái nhìn đầy đủ về cuộc du lịch của bạn. Ví dụ như không thể so sánh giữa nhiều địa điểm khác nhau để có thể tìm được địa điểm phù hợp với mục đích của chuyến đi. Thời điểm mọi người lựa chọn để đi du lịch, dã ngoại thường là nhưng dịp được nghỉ lễ hay sau các kì thi căng thẳng, khi đó nhu cầu vui chơi là rất l ớn. Vào những dịp này mọi người có xu hướng đi du lịch dài ngày từ 2 -4 ngày tại những nơi xa như Đà Lạt, Phan Thiết…., tỷ lệ này chiếm tới 75%. Ngoài ra vào những ngày cuối tuần các bạn cũng có thể đi dã ngoại trong vòng một ngày tại những đ ịa đi ểm gần địa bàn thành phố(20 %). Các cuộc đi chơi ngẫu hứng rất ít khi xảy ra (5%) do không thể tập hợp được đông người, chỉ hạn hẹp trong một nhóm bạn nhỏ. Với tất cả những đã phân tích ở trên ,câu hỏi số 15 thể hiện rõ nhất mục đích của đề tài.Nếu như trong tương lai có một công ty chuyên cung cấp những thông tin, dịch vụ cần thiết khi đi du lịch, dã ngoại, phản ứng của mọi người như sau :
  15. Tỷ lệ người hưởng ứng và hài lòng về việc đó là rất cao 88,6%, chỉ có 3% cho rằng điều đó không cần thiết. Đây có thể coi là một tín hiệu tốt cho mục đích kinh doanh trong lĩnh vực đầy tiềm năng này. 2.2 Ước lượng và kiểm định một số giả thiết: 2.2.1 Ước lựợng : Phân tích ANOVA về sự ảnh hưởng của thu nhập hàng thámh tới việc a. có thường xuyên đi du lịch, dã ngoại. Giả định Ho : mức thu nhập bình quân ở các mức khác nhau ảnh hưởng như nhau tới quyết định tham gia thường xuyên các hoạt động du lịch,dã ngoại H1 : có ít nhất 2 mức thu nhập tác đọng khác nhau Xử lí SPSS có số liệu sau : ANOVA Thu nhap binh quan 1 thang Sum of df Mean F Sig. Squares Square Between Groups 20.705 2 10.352 26.408 .000 Within Groups 64.289 164 .392 Total 84.994 166
  16. Với mức ý nghĩa 5%, ta có F(0,05;2;164)=3
  17. + F(0,05;3;136)=2,6 > 2,551  chấp nhận Ho.Tức mức độ thỏa mãn về phương tiện đi lại không ảnh hưởng tới việc có tham gia thường xuyên hay không + F(0,05;3;136)=2,6 < 8,17 bác bỏ Ho .Tức mức độ hài lòng về ăn uống có ảnh hưởng khác nhau tới việc có tham gia thường xuyên hay không +F(0,05;3;136)=2,6 0,35 H1 : p < 0,35 Giá trị kiểm định : Z= 1,35 < 1,645 Bác bỏ Ho chưa thể khẳng định trên 35% số người rất hưởng hứng  việc thành lập công ty nói trên. Kiểm định tỷ lệ người có thu nhập trung bình từ 1- 2 triệu/ tháng chỉ b. thỉnh thoảng mới tham gia các hoạt động du lịch,dã ngoại do tập thể tổ chức mức ý nghĩa là 5% ; f= 0,74 Ta có n=103; Giả định Ho: p > 0.7 H1 : p
  18. Một trong những nguyên nhân để nhóm quyết định thực hiện đề tài này là từ nhận thức chủ quan riêng - nhóm nhận thấy nhu cầu về du lịch, dã ngoại của sinh viên là rất cao nhưng chưa được đáp ứng. Qua số liệu thu thập và phân tích đã chứng minh điều này: dưới 5% những người được phỏng vấn chưa từng tham gia hoạt động du lịch, dã ngoại với tập thể lớp. Từ thực tế điều này cũng hoàn toàn phù hợp: sinh viên năm nhất có xu hướng chọn những chuyến du lịch, dã ngoại đ ể tập thể mới làm quen và thân thiện với nhau hơn, sinh viên năm hai chọn những chuyến du lịch, dã ngoại để tăng cường tinh thần đoàn kết đồng thời mở rộng kiến thức sau khi đã trải qua giai đoạn “ bỡ ngỡ”, sinh viên năm ba muốn có thêm những kỉ ni ệm qua những chuyến du lịch, dã ngoại trước khi bước vào giai đoạn tốt nghiệp. Và các nhóm chơi thân cũng có nhu cầu đi chơi và giải trí với nhau… Tuy nhiên quy mô của những chuyến du lịch, dã ngoại chỉ ở mức nhỏ và tương đối ( dưới 20 người hoặc từ 20-50 người). Rõ ràng việc tổ chức một chuyến du lịch, dã ngoại cho hơn 100 sinh viên sẽ gặp rất nhiều khó khăn và huy động được sự đồng tình, ủng hộ của cả một tập thể lớp lớn không hề dễ dàng. Những chuyến du lịch, dã ngoại mà có tới 40%-50% thành viên trong lớp tham dự đã là một thành công lớn của Ban tổ chức. Điều này còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác như mức tiền cần cho chuyến du lịch, dã ngoại đó, thời khóa biểu của từng cá nhân… Trong đó thu nhập là một yếu tố quan trọng, nếu như thu nhập chỉ vừa đủ cho cuộc sống hàng ngày của bạn thì nhưng chuyến du lịch, dã ngoại quả là một điều “ xa xỉ” ( kết quả ước lượng cũng chỉ ra rằng các mức thu nhập khác nhau sẽ tác động khác nhau tới sự thường xuyên tham gia hay không ). Đây cũng là một điều cần l ưu ý khi tổ chức một buổi du lịch, dã ngoại: “làm sao để tổ chức một chuyến du lịch hợp với túi tiền của tất cả mọi người vừa có sức thu hút ?” Mức giá có thể chập nhận được có thể vào khoảng 100-200 ngàn/một chuyến đi. Ngoài ra sự giới hạn về thời gian cũng là một khó khăn, gần 20% trong tổng số những người không tham gia là vì không sắp xếp được thời gian. Thời điểm hợp lý để tốt chức chuyến du l ịch, dã ngoại có thể là sau một kỳ thi căng thẳng nhưng không quá cận dịp nghỉ lễ vì thường tâm lý muốn quay về nhà sẽ chiếm tỉ trọng lớn hơn, tránh tổ chức vào các dịp cuối tháng. Trước khi đưa ra thời gian cho chuyến đi những thành viên trong ban tổ chức có thể thực hiện một cuộc khảo sát nhỏ xem có khoảng bao nhiêu bạn có thể tham gia vào chuyến đi để điều chỉnh mức thời gian hợp lý hơn. Địa điểm mà chuyến du lịch, dã ngoại hướng tới là rất quan trọng ( trên 30% trong số những người không tham gia vì không hài lòng về đia điểm tổ chức hoặc đã từng đi qua ). Tuy nhiên chương trình của chuyến du lịch, dã ngoại là yếu tố chính để thu hút sự chú ý và nhiệt tình của mọi người. Những chuyến du l ịch, dã ngo ại cần tổ chức kết hợp nhiều hoạt động với nhau. Khoảng thời gian không tham gia chuyến du lịch, dã ngoại cung tập thể phần đa mọi người dùng để mua sắm, tụ tập ăn uống, chơi thể thao… Vậy tại sao không lồng ghép những hoạt động này với nhau để đem lại một kết quả cao hơn. Ví dụ như qua chuyến cắm trại ở biển Vũng Tàu có thể kết hợp tham quan và mua sắm tại khu bò sữa Long Thành. Phân tích dữ liệu chỉ ra rằng đa phần mọi người không hài lòng (chỉ ở mức trung bình) đối với các dịch vụ, phương tiện đi lại và chỗ ngủ nghỉ. Nếu như các nhà đầu tư thực sự muốn phát triển dịch vụ du lịch, dã ngoại cho sinh viên thì c ần phải khắc phục nhược điểm này. Có thể đưa ra một sự liên kết giữa những Trung tâm cung cấp thông tin va các nhà cung cấp dịch vụ, mức đầu tư ban đầu cao hơn nhưng
  19. lợi nhuận trong dài hạn sẽ lớn hơn. Một điều đáng lưu ý khác là chỉ 3,3% những bạn trong ban tổ chức các cuộc du lịch, dã ngoại tìm hiểu thông tin ở các trung tâm hoặc công ty chuyên tổ chức du lịch, dã ngoại. Đây là do thói quen làm việc theo kinh nghiệm của thế hệ đi trước của sinh viên hay các trung tâm chưa thực sự cung cấp đầy đủ thông tin, chưa đem lại niềm tin cho người tiêu dùng ? Hơn nữa d ưới s ức mạnh của công nghệ thông tin việc tìm hiểu thông tin cũng trở nên dễ dàng hơn tuy mức độ chính xác là không tuyệt đối. Nếu thực sự có một trung tâm hoặc công ty chuyên cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác thì việc tổ chức một chuyến du l ịch, dã ngoại sẽ trở nên dễ dàng hơn. Đồng thời với việc hỗ trợ hoặc có những tour du lịch trọn gói với mức giá sinh viên sẽ khắc phục được những khó khăn về phương tiện đi lại, sự ép giá về các dịch vụ nhà nghỉ và ăn uống, địa điểm cũng không trùng lặp tránh tạo nên sự nhàm chán…sự thỏa mãn dành cho các chuyến du lịch, dã ngoại cũng tăng lên - tạo nên uy tín cho trung tâm. Đây là sự có lợi từ hai phía qua s ự tác động qua lại. Qua quá trình thực hiện đề tài nhóm chúng tôi đã đưa ra được một số kết luận cơ bản về cung và cầu du lịch, dã ngoại của sinh viên Làng Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Với kết quả kiểm định không thể khẳng định có 35% mọi người đồng ý thành lập một trung tâm chuyên về cung cấp nhu cầu du lịch, dã ngoại cho sinh viên không phải là một con số thuyết phục các nhà đ ầu tư. Tuy nhiên s ố li ệu này vẫn chưa thật chính xác vì những ảnh hưởng của nhân tố chủ quan và sai sót trong quá trình thực hiên đề tài nên các nhà đầu tư có thể căn cứ một phần kết quả của đề tài để đưa ra một quyết định cuối cùng chính xác nhất. 3.2 Thuận lợi – khó khăn : Trong quá trình tiến hành thực hiện đề tài, nhóm đã có những thuận lợi - khó khăn và những hạn chế nhất định sau 3.2.1 Thuận lợi : - Các thành viên trong nhóm tích cực, có trách nhiệm với phần việc phân công, đồng thời có sự giúp đỡ lẫn nhau trong thời gian hoạt động nhóm - Do đề tài hướng tới nhu cầu thực tế trong sinh viên nên việc tiến hành nghiên cứu được sự giúp đỡ rất nhiều của các bạn sinh viên, các anh chị sinh viên năm trước, nhất là trong quá trình điều tra thử nhằm hoàn thiện bảng câu hỏi phỏng vấn. - Việc điều tra chọn mẫu phi xác suất theo hình thức lấy mẫu thuận tiện rút ngắn được thời gian điều tra, đỡ tốn kém công sức, tiền bạc. - Được trang bị trước đó những kiến thức cần thiết phục vụ cho việc làm đề tài như thực hành SPSS, tiến hành làm đề tài thử,thời gian chuẩn bị lâu dài ( t ừ đ ầu học kì), được sự góp ý nhiệt nhiệt tình của giảng viên trong việc chọn đề tài. 3.2.2 Khó khăn và hạn chế : - Do chưa làm một đề tài nghiên cứu mang tính chất thực tế bao giờ nên nhóm chưa có nhiều kinh ghiệm, dẫn đến còn vướng mắc trong quá trình tiến hành. - Con số 167 người được điều tra chưa phải là nhiều và đủ để đại diện cho tổng thể là sinh viên làng đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh. - Do việc lấy mẫu thuận tiện nên khó tránh khỏi hiện tượng tính khách quan và mức độ chính xác không cao. - Có thể bảng câu hỏi phỏng vấn chưa thực sự hoàn thiện để có thể nghiên cứu sâu về mọi mặt của vấn đề được đề cập.
  20. - Không có những kiến thức chuyên môn về lĩnh vực du lịch nên chưa thể phân tích sâu rộng về đề tài này. 3.3 Kiến nghị: Thông qua đề tài nhóm mong muốn đóng góp một số kiến nghị sau: • Nên tạo ra một sự kiên kết rõ ràng hơn giữa sinh viên và các công ty, trung tâm môi giới về dịch vụ du lịch,dã ngoại. Đặc biệt là gi ữa công ty môi giới và những bạn sinh viên trực tiếp đứng ra tổ chức cho lớp/nhóm/câu l ạc bộ.Làm như vậy, các bạn sinh viên có thể yên tâm về chất lượng các dịch cụ khi đi du lịch, dã ngoại, từ đó nhu cầu sẽ tăng và được đáp ứng tốt hơn. Đồng thời về phía các công ty cũng sẽ mở rộng được thị trường kinh doanh. • Nếu có thể, nên thành lập một công ty như đã nói ở trên ở ngay tại làng đại học Quốc gia thành phố HCM. Một khi có công ty ở ngay gần đây sẽ dễ cho việc liên hệ, cũng như thuê các công cụ dụng cụ mang theo khi đi du lịch, dã ngoại. Một phân lí do khiến nhiều người không tìm đến các công ty môi giới như vậy vì các côg ty ở qua xa và quan trọng hơn hết chưa có công ty nào thiên về phục vụ sinh viên. LỜI KẾT Đề tài trên dù nhóm đã cố gắng hoàn thiện ở mức tốt nhất có thể nhưng chắc chắn vẫn còn những khiếm khuyết nhất định. Những số liệu nhóm thu thập được vì nhiều lí do có thể vẫn chưa chính xác ở nhiều chỗ. Mong rằng nhóm sẽ nhận đ ược sự đóng góp, giúp đỡ của giảng viên bộ môn cũng như các bạn. Mong rằng đ ề tài của chúng tôi sẽ mở ra một hướng kinh doanh mới để có thể đáp ứng ngày một nhiêu hơn nhu cầu của sinh viên nói chung cũng như sinh vien làng đại học quốc gia nói riêng.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản