intTypePromotion=1

Tiểu luận hết môn Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

Chia sẻ: Trần Minh Tấn | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:87

0
40
lượt xem
3
download

Tiểu luận hết môn Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

"Tiểu luận hết môn Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao" phân tích hiện trạng ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam; các cơ hội và thách thức trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở nước ta; đề xuất phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận hết môn Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

  1. MỤC LỤC  2.1.2.1.  Đặc điểm về kinh tế                                                                      ...................................................................         17  2.2.3.2. Thực trạng quản lý Nhà nước về phát triển nông nghiệp              .........      37 1
  2. PHẦN MỞ ĐẦU I. Tính cấp thiết của Đề án Thời gian qua, sản xuất nông nghiệp cả  nước nói chung và của huyện Hòa  Vang nói riêng chịu nhiều khó khăn, bất lợi do thời tiết, dịch bệnh, suy thoái kinh tế,   giá cả hàng nông sản bấp bênh trong khi giá vật tư đầu vào không ổn định và có xu  hướng tăng cao. Tuy nhiên, thông qua việc thực hiện các chương trình chuyển dịch  cơ cấu sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, lâm nghiệp, tập trung vào việc nâng   cao năng suất và chất lượng sản phẩm, nên đã đạt mức tăng trưởng khá, giá trị sản   xuất ngành nông nghiệp huyện Hòa Vang bình quân giai đoạn 2006 ­ 2010 tăng  5,371%/năm, tăng từ 253.500 triệu đồng năm 2006 lên 312.500 triệu đồng năm 2010.  Xét cơ  cấu kinh tế, tỷ trọng ngành nông nghiệp trong giá trị  sản xuất chung   của huyện Hòa Vang có xu hướng giảm dần (giảm từ 41,942% năm 2006 xuống còn   33,609% năm 2010). Mặt khác giá trị  sản xuất tính trên một lao động nông nghiệp   ngày một tăng lên, tăng từ  18,682 triệu đồng năm 2006 lên 30,793 triệu đồng năm  2010 (bình quân tăng 13,316%/năm). Bên cạnh những thành tựu đã đạt được đó, nông nghiệp huyện Hòa Vang còn  một số  tồn tại yếu kém như: Sản xuất nông nghiệp còn manh mún, thiếu quy  hoạch, cơ  cấu nông nghiệp chuyển dịch chậm, chưa hình thành các vùng sản suất   tập trung quy mô lớn; việc áp dụng các tiến bộ  khoa học công nghệ  vào sản xuất  còn hạn chế, chưa mạnh dạn áp dụng các tiến bộ  trong lựa chọn giống cây trồng   vật nuôi, ứng dụng công nghệ sinh học nên năng suất cây trồng, vật nuôi thấp, chất   lượng sản phẩm không cao, khả năng cạnh tranh của sản phẩm thấp.  Trong bối cảnh thành phố  Đà Nẵng đang đẩy nhanh tiến trình đô thị  hóa và   công nghiệp hóa, tổng diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn huyện đang có xu  hướng giảm nhanh thì việc  ứng dụng công nghệ  cao vào sản xuất nông nghiệp  ở  huyện Hòa Vang càng trở nên cấp bách và cần thiết. II. Mục tiêu của Đề án  1.  Mục tiêu chung Đề  án góp phần xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng  hiện đại, sản xuất hàng hoá, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh   2
  3. cao, đạt mức tăng trưởng trên 3,5%/năm theo Nghị  quyết Đại hội Đảng bộ  Huyện  lần thứ XV, khóa XIV. 2. Mục tiêu cụ thể 2.1. Giai đoạn 2012 ­ 2015 ­    Đến năm 2015, trên địa bàn huyện xây dựng được từ  1­ 2 vùng sản xuất   nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. ­   Từng bước sản xuất một số  sản phẩm nông nghiệp hàng hoá  ứng dụng   công nghệ cao, có năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cao; đưa tỷ trọng giá trị  sản xuất nông nghiệp  ứng dụng công nghệ  cao chiếm 10 ­ 15% tổng giá trị  sản  xuất nông nghiệp trên địa bàn Huyện.  2.2.   Giai đoạn 2016 – 2020 ­  Đẩy mạnh phát triển toàn diện nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, bao   gồm hệ thống các doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng cao, các vùng sản xuất nông   nghiệp  ứng dụng công nghệ  cao. Đến năm 2020, xây dựng   2 – 3 vùng sản xuất   nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. ­ Tiếp tục đẩy mạnh  ứng dụng trên diện rộng công nghệ  cao trong nông  nghiệp để  sản xuất các sản phẩm hàng hoá có năng suất, chất lượng và khả  năng   cạnh tranh cao; đưa tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ  cao  chiếm 30– 35% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp trên địa bàn Huyện. III. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề án ­  Các yếu tố  tự  nhiên, kinh tế ­ xã hội của huyện Hoà Vang ảnh hưởng đến   việc xây dựng và phát triển nền nông nghiệp  ứng dụng công nghệ  cao đến năm  2020. ­  Xu hướng phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên thế  giới và các mô hình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong và ngoài  nước. ­ Thực trạng phát triển nông nghiệp và  ứng dụng công nghệ  cao trên địa bàn  huyện Hòa Vang trong những năm qua. ­ Lựa chọn một số vùng sản xuất ứng dụng công nghệ cao và đề xuất một số  giải pháp phát triển các vùng. 3
  4. ­   Đề  xuất các giải pháp phát triển một số  vùng sản xuất nông nghiệp  ứng   dụng công nghệ cao trên địa bàn huyện Hòa Vang đến 2020. IV.  Kết cấu của đề án Kết cấu của đề án gồm 04 phần, trong đó: ­ Phần mở đầu: Đặt vấn đề, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và kết cấu của đề  án ­  Phần I: Một số vấn đề về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao làm cơ sở  lý luận cho những phân tích trong đề án.  ­  Phần II: Thực trạng phát triển nông nghiệp và ứng dụng công nghệ cao trong  sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Hòa Vang trong những năm qua từ đó xác   định những vấn đề cần đặt ra.  ­  Phần III: Quan điểm, định hướng, đưa ra tiêu chí lựa chọn, chủ trương chính   sách của Đảng và nhà nước về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và   xu hướng phát triển trong và ngoài nước về vấn đề này.  Đề  xuất một số  giải pháp nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp  ứng dụng  công nghệ cao tại huyện Hòa Vang đến năm 2020. ­   Kết luận và Kiến nghị  tóm tắt kết quả  nghiên cứu của Đề  án và đưa ra   một số  kiến nghị  đối với các Sở,ban ngành của thành phố  Đà Nẵng để  hỗ  trợ  huyện Hòa Vang phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao  đến năm 2020. 4
  5. PHẦN I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO 1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO 1.1.1. Các khái niệm Theo Luật Công nghệ  Cao (2008): “Công nghệ  cao là công nghệ  có hàm  lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, được tích hợp từ thành  tựu khoa học và công nghệ hiện đại, tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt   trội, giá trị  gia tăng, thân thiện với môi trường, có vai trò quan trọng đối với việc  hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hoá ngành sản xuất, dịch vụ  hiện có”. Theo Vụ  Khoa học Công nghệ  ­ Bộ  Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:  “Nông nghiệp  ứng dụng công nghệ  cao  là nền nông nghiệp được áp dụng những  công nghệ mới vào sản xuất, bao gồm: công nghiệp hóa nông nghiệp (cơ  giới hóa   các khâu của quá trình sản xuất), tự động hóa, công nghệ  thông tin, công nghệ  vật   liệu mới, công nghệ sinh học và các giống cây trồng, giống vật nuôi có năng suất và  chất lượng cao, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích và phát triển bền  vững trên cơ sở canh tác hữu cơ”. Như  vậy, mục tiêu cuối cùng của phát triển nông nghiệp  ứng dụng công  nghệ cao là giải quyết mâu thuẫn giữa năng suất nông nghiệp thấp, sản phẩm chất   lượng thấp, đầu tư  công lao động nhiều, hiệu quả  kinh tế thấp với việc áp dụng  những thành tư khoa học công nghệ để  đảm bảo nông nghiệp tăng trưởng ổn định  với năng suất và sản lượng cao, hiệu quả vả chất lượng cao.Thực hiện tốt nhất sự  phối hợp giữa con người và tài nguyên, làm cho  ưu thế  của nguồn tài nguyên đạt  hiệu quả  lớn nhất, hài hòa và thống nhất lợi ích xã hội, kinh t ế  và sinh thái môi  trường (TS. Dương Hoa Xô, TS. Phạm Hữu Nhượng, 2006). 1.1.2. Tiêu chí về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao  Hiện nay, các cơ quan chức năng trong lĩnh vực nông, lâm thuỷ sản vẫn chưa  đưa ra các tiêu chí về  nông nghiệp  ứng dụng công nghệ  cao hoặc tiêu chí để  xác  định công nghệ cao ứng dụng trong nông nghiệp.  Do đó, có nhiều ý kiến xung quanh tiêu chí nông nghiệp ứng dụng công nghệ  cao: Có ý kiến cho rằng trong nông nghiệp công nghệ  cao được hiểu đơn giản là   5
  6. cao hơn những cái ta đang làm, có áp dụng một số công nghệ  như  chế  phẩm sinh   học, phòng trừ  sâu bệnh, chăm bón…Với cách hiểu này, tùy vào sự  phát triển của   lực lượng lao động mỗi vùng miền mà công nghệ  áp dụng tại cùng thời điểm sẽ  được đánh giá khác nhau, điều này sẽ gây khó khăn khi đưa vào ứng dụng. Vì vậy,  một số tiêu chí về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đã được đưa ra như:  ­ Tiêu chí kỹ thuật là có trình độ công nghệ tiên tiến để tạo ra sản phẩm có  năng suất tăng ít nhất 30% và chất lượng vượt trội so với công nghệ đang sử dụng;  ­ Tiêu chí kinh tế là sản phẩm do ứng dụng công nghệ cao có hiệu quả kinh  tế  cao hơn ít nhất 30% so với công nghệ  đang sử dụng ngoài ra còn có các tiêu chí   xã hội, môi trường khác đi kèm.  ­ Nếu là doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phải tạo ra sản   phẩm tốt, năng suất hiệu quả tăng ít nhất gấp 2 lần.  ­ Vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (được hiểu là nơi sản xuất tập   trung một hoặc một số sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao vào toàn bộ  hoặc một số  khâu) có năng suất và hiệu quả  tăng ít nhất 30%. Như  vậy, che phủ  nylon cũng là công nghệ  cao do nylon giữ   ẩm, phòng trừ  cỏ  dại, có thể  cho năng   suất vượt trên 30% năng suất thông thường hay như công nghệ sử dụng ưu thế lai   trong chọn tạo giống, công nghệ  sinh học giúp năng suất trên 30% có thể  gọi là   công nghệ cao; trong thuỷ sản như phương pháp sản xuất cá đơn tính cũng là công   nghệ cao; về kỹ thuật như tưới nước tiết kiệm, nhà màng…cũng là công nghệ cao1.  Một số  ý kiến khác lại cho rằng công nghệ  cao là công nghệ  rất cao, vượt  trội hẳn lên như công nghệ của Israel về nhà lưới, tưới, chăm bón tự động… Do đó,   công nghệ  cao được hiểu không phải như  là một công nghệ  đơn lẻ, cụ  thể. Quy  trình công nghệ  cao phải đồng bộ  trong suốt chuỗi cung  ứng, là sự  kết hợp chặt  chẽ của từng công đoạn cụ thể như: giống, công nghệ nhà kính, kỹ thuật, phân bón  sinh học hữu cơ...  Cốt lõi của công nghệ cao là cho ra những sản phẩm chất lượng với quy mô  sản xuất lớn. Chất lượng  ở đây đòi hỏi phải đáp ứng được 3 khía cạnh: kỹ  thuật,   chức năng và dịch vụ. Bởi vì nông nghiệp  ứng dụng công nghệ  cao không chỉ  sản   xuất để đáp ứng yêu cầu cho nhu cầu hằng ngày của con người mà còn phải mang  lợi nhuận cao. Do đó, việc chọn lựa sản phẩm và hướng sản xuất phù hợp để  đáp  ứng nhu cầu của thị trường rất quan trọng (www.sonongnghiepcantho.gov.vn). 1  : Ông Nguyễn Tấn Hinh, Phó vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường – Bộ nông nghiệp và phát  triển nông thôn , đơn vị soạn thảo Đề án “Phát triển nông nghiệp công nghệ cao đến năm 2020”. 6
  7. 1.2. TÌNH HÌNH  ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ  CAO HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ  BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA CHO HUYỆN HÒA VANG 1.2.1. Tình hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong và ngoài   nước 1.2.1.1. Trên thế giới Từ  những năm giữa thế  kỷ  XX, các nước phát triển đã quan tâm đến việc  xây dựng các khu nông nghiệp  ứng dụng công nghệ  cao nhằm thúc đẩy sáng tạo   khoa học công nghệ giúp cho kinh tế phát triển. Đầu những năm 80, tại Hoa Kỳ đã  có hơn 100 khu khoa học công nghệ. Ở Anh quốc, đến năm 1988 đã có 38 khu vườn  khoa học công nghệ với sự tham gia của hơn 800 doanh nghiệp. Phần Lan đ ến năm  1996 đã có 9 khu khoa học nông nghiệp công nghệ cao. Phần lớn các khu này đều  phân bố tại nơi tập trung các trường đại học, viện nghiên cứu để nhanh chóng ứng  dụng những thành tựu khoa học công nghệ  mới và kết hợp với kinh nghiệm kinh  doanh của các doanh nghiệp để hình thành nên một khu khoa học với các chức năng  cả nghiên cứu ứng dụng, sản xuất, tiêu thụ và dịch vụ. Bên cạnh các nước tiên tiến, nhiều nước và khu vực lãnh thổ ở Châu á cũng  đã chuyển nền nông nghiệp theo hướng số lượng là chủ yếu sang nền nông nghiệp  chất lượng, ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ tự động hoá, cơ giới hoá, tin   học hoá… để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, an toàn, hiệu quả.  * Việc  ứng dụng công nghệ  cao (ƯDCNC) trong canh tác cây trồng trên   thế giới bao gồm: ­  Công nghệ lai tạo giống: Đây là công nghệ được ứng dụng phổ biến trong   việc nghiên cứu và chọn tạo các giống cây trồng, con vật nuôi có những tính chất  ưu việt cho hiệu quả, năng suất cao hoặc có khả năng chống chịu cao đối với điều   kiện ngoại cảnh tác động góp phần đẩy nhanh sự  phát triển v ề mặt năng suất và  chất lượng cây trồng, vật nuôi, có nhu cầu ứng dụng cao trong nông nghiệp. ­   Công nghệ  nuôi cấy mô thực vật In vitro : Công nghệ  nuôi cấy mô được  hơn 600 công ty lớn trên thế giới áp dụng để nhân nhanh hàng trăm triệu cây giống  sạch bệnh. Thị  trường cây giống nhân bằng kỹ  thuật cấy mô vào khoảng 15 tỷ  USD/năm và tốc độ tăng trưởng khoảng 15%/năm. ­  Công nghệ trồng cây trong nhà kính: nay được gọi là nhà màng do việc sử  dụng mái lớp bằng màng polyethylen thay thế cho kính (green house) hay nhà lưới  (net house). Trên thế giới, công nghệ  trồng cây trong nhà kính đã được hoàn thiện  7
  8. với trình độ  cao để  canh tác rau và hoa.  Ứng với mỗi vùng miền khác nhau những   mẫu nhà kính và hệ thống điều khiển các yếu tố trong nhà kính cũng có sự thay đổi  nhất định cho phù hợp với điều kiện khí hậu của từng vùng, trong đó hệ thống điều  khiển có thể  tự  động hoặc bán tự  động. Tuy nhiên đối với các vùng thường chịu  nhiều tác động của thiên tai như bão lũ, động đất thì lại cần cân nhắc kỹ  giữa lợi   ích và chi phí do rủi ro. ­  Công nghệ trồng cây trong dung dịch (thủy canh), khí canh và trên giá thể:  Trong đó các kỹ  thuật trồng cây thủy canh (hydroponics) dựa trên cơ  sở  cung cấp  dinh dưỡng qua nước (fertigation), kỹ  thuật khí canh (aeroponics) – dinh dưỡng   được cung cấp cho cây dưới dạng phun sương mù và kỹ thuật trồng cây trên giá thể  ­ dinh dưỡng chủ yếu được cung cấp  ở dạng lỏng qua giá thể  trơ. Kỹ  thuật trồng  cây trên giá thể (solid media culture) thực chất là biện pháp cải ti ến của công nghệ  trồng cây thủy canh vì giá thể này được làm từ những vật liệu trơ và cung cấp dung  dịch dinh dưỡng để nuôi cây.  ­    Công nghệ  tưới nhỏ  giọt: Công nghệ  này phát triển rất mạnh mẽ  ở  các   nước có nền nông nghiệp phát triển, đặc biệt ở các nước mà nguồn nước tưới đang  trở  nên là những vấn đề quan trọng chiến lược. Thông thường hệ thống tưới nhỏ  giọt được gắn với bộ điều khiển lưu lượng và cung cấp phân bón cho từng lọai cây  trồng, nhờ đó tiết kiệm được nước và phân bón. * Trong chăn nuôi và thuỷ sản: ­ Đưa các giống vật nuôi qua thụ  tinh nhân tạo và truyền cấy phôi vào sản   xuất: Với phương pháp này có thể giúp duy trì được nguồn giống tốt và tiện lợi cho  việc nhập khẩu giống nhờ  việc chỉ phải vận chuyển phôi đông lạnh thay vì động  vật sống, tuy nhiên giá thành tương đối cao và đòi hỏi kỹ thuật phức tạp. ­ Sử  dụng các giống cá qua biến đổi bộ  nhiễm sắc thể  và chuyển đổi giới   tính ở cá: giúp nâng cao năng suất nuôi trồng. Ví dụ chỉ có cá tầm cái đẻ trứng và cá   đực Tilapia lớn nhanh hơn cá cái. Ví dụ cá đực tilapia chuyển thành cá cái khi xử lý   với oestrogen. Loại cá đực này khi giao phối với cá cái bình thường sẽ đẻ ra toàn cá  đực do đó tăng năng suất nuôi trồng khá cao. ­  Hỗ trợ dinh dưỡng vật nuôi: Các công nghệ biến đổi gen ngày càng được  áp dụng rộng rãi nhằm cải thiện dinh dưỡng vật nuôi như thông qua việc biến đổi  thức ăn để vật nuôi dễ tiêu hoá hơn, hoặc là kích thích hệ thống tiêu hoá và hô hấp   của vật nuôi để chúng có thể sử dụng thức ăn hiệu quả hơn. 8
  9. ­ Công nghệ trong chuẩn đoán bệnh và dịch tễ: Các loại kít thử dựa trên nền  tảng công nghệ sinh học cao cho phép xác định các nhân tố gây bệnh và giám sát tác   động của các chương trình kiểm soát bệnh  ở  mức độ  chính xác cao mà trước đây   chưa hề có. Dịch tễ phân tử đặc trưng bởi các mầm bệnh (vi rút, vi khuẩn, ký sinh  và nấm) có thể xác định được nguồn lây nhiễm của chúng thông quan phương pháp   nhân gen. 1.2.1.2. Ở Việt Nam Trong những năm gần đây thực hiện Quyết định 176/QĐ­TTg của Thủ tướng  Chính phủ  Về  việc phê duyệt Đề  án phát triển nông nghiệp  ứng dụng công nghệ  cao đến năm 2020, các  tỉnh, thành phố trong cả nước đang triển khai xây dựng các  khu nông nghiệp công nghệ  cao; các vùng sản xuất nông nghiệp  ứng dụng công  nghệ cao và mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. 1.2.1.2.1. Các khu công nghệ cao ­ Trong các địa phương có khu Nông nghiệp Công nghệ cao (gọi tắt là Khu)  TP. Hồ  Chí Minh được đánh giá là đảm bảo được tính đồng bộ  liên hoàn từ  khâu   nghiên cứu đến sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Trong khu bao gồm khu thí  nghiệm và trưng bày sản phẩm, khu nhà kính, khu học tập và chuyển giao công  nghệ, khu bảo quản và chế  biến, khu sản xuất kêu gọi đầu tư. Nhà nước đầu tư  vốn để  xây dựng cơ  sở  hạ  tầng tại tất cả  các khu. Các doanh nghiệp thu hút vào   khu chủ  yếu đầu tư  vào sản xuất giống cây trồng như  các loại rau, hoa …, đồng   thời, có thể  cung cấp vật tư nông nghiệp để  cung cấp cho nông dân sản xuất. Các  loại nông sản sẽ được doanh nghiệp mua lại với giá theo đúng hợp đồng đã ký kết   với nông dân.   Các doanh nghiệp tham gia sản xuất trong Khu có sản lượng hàng hóa tập  trung, kiểm soát được tiêu chuẩn, chất lượng nông sản, giảm được chi phí đầu tư  về cơ sở hạ tầng trên một đơn vị diện tích. Được hưởng một số chính sách ưu đãi  của Nhà nước về thuê đất, thuế các loại….   ­ Các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ  cao thông thường do một   doanh nghiệp đầu tư, quy mô tùy theo khả  năng đầu tư  vốn và sản phẩm của mô   hình là sản phẩm chủ yếu của doanh nghiệp.  Chẳng hạn như ở TP. Hồ Chí Minh, Công ty Liên doanh hạt giống Đông Tây   đã đầu tư  trại sản xuất hạt giống rau với việc nhân dòng bố  mẹ  và sản xuất hạt   giống lai F1 cùng với đầu tư phòng thí nghiệm về công nghệ sinh học, xưởng chế  9
  10. biến hạt giống phục vụ cho công tác nghiên cứu, lai tạo và chế  biến hạt giống đạt  tiêu chuẩn cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Công ty Dalat Hasfarm   và Công ty Cổ  phần Rừng Hoa sản xuất các lọai hoa ôn đới cao cấp. Sản phẩm  chính là hoa cắt cành, bao gồm hoa hồng, lily, cúc đơn, cúc chùm, cẩm chướng đơn,   cẩm chướng chùm, đồng tiền, baby, sao tím, salem và các loại lá trang trí, hoa trồng  chậu. Ngoài việc cung cấp cho thị  trường trong nước thông qua mạng lưới phân  phối   vững   chắc   và   rộng   khắp,   Dalat   Hasfarm   còn   xuất   khẩu   sang   Nhật   Bản,   Singapore, Thái Lan, Đài Loan, Cambodia, v.v..  * Ưu điểm: ­  Loại hình này có quy mô đầu tư phù hợp với khả năng sản xuất và tiêu thụ  sản phẩm của doanh nghiệp. Sự họat động mang tính độc lập và tự  chủ  giúp cho  doanh  nghiệp  điều chỉnh  định hướng  sản phẩm  linh  họat theo  yêu cầu của  thị  trường và khả năng đầu tư vốn của doanh nghiệp.  * Nhược điểm: ­  Tuy nhiên, các mô hình vẫn tập trung chủ yếu vào khâu sản xuất, khả năng  lan tỏa và chuyển giao công nghệ khó, một phần do yêu cầu bí mật công nghệ của  doanh nghiệp.    ­  Mặc khác, xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ  cao đòi hỏi vốn đầu  tư  cơ  sở  hạ  tầng lớn nên khả  năng thu hồi vốn chậm, các doanh nghiệp có nguồn  vốn thấp khó có thể tham gia đầu tư.  1.2.1.2.2. Xây dựng vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao  Đây là lọai hình phổ biến và mang tính đại trà, có ý nghĩa trong thực tiễn sản   xuất nông nghiệp của nước ta trong điều kiện hiện nay. Việc phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp  ứng dụng công nghệ  cao có  khả  năng  ứng dụng cao trên một vùng chuyên canh tạo nên khối lượng hàng hóa  lớn; tận dụng được các lợi thế về điều kiện tự nhiên và lao động tại vùng. Chỉ sử  dụng một số công nghệ cao phù hợp với một số khâu canh tác nên chi phí đầu vào   giảm, phù hợp với khả năng đầu tư của nông dân. Tuy nhiên, do áp dụng công nghệ  cao không đồng bộ nên chất lượng sản phẩm vẫn chưa đồng đ ều và cao. Khâu tiêu  thụ sản phẩm phụ thuộc vào các hợp đồng với các doanh nghiệp nên chưa ổn định. Dẫu vậy, vẫn có những địa phương đã cố  gắng khắc phục những hạn chế  trên để  xây dựng các vùng sản xuất nông nghiệp  ứng dụng công nghệ  cao thành   công, mang lại cho ta nhiều bài học kinh nghiêm quý giá. 10
  11. Kinh nghiệm phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ   cao của Lâm Đồng:  Lâm Đồng là nơi tập trung nhiều vùng sản xuất có ứng dụng các công nghệ  cao như vùng trồng rau hoa Đà Lạt, vùng trồng trà olong Bảo Lộc…. Trong đó, việc   rà soát quỹ đất phục vụ  việc lập quy hoạch các vùng nhằm đảm bảo tính ổn định   về đất đai và có cơ sở để thu hút đầu tư được coi trọng. Các công nghệ trong từng  lĩnh vực cũng được xem xét một cách kỹ  lưỡng. Riêng đối với các vùng sản xuất  rau, hoa việc ứng dụng trồng rau, hoa trong nhà lưới, nhà màng, sử dụng màng phủ,  tưới phun sương, tưới nhỏ giọt đã triển khai khá phổ biến trong những năm qua. Cụ  thể  là, có tới 95,9% số hộ trồng hoa sử dụng nhà màng, nhà lưới để  canh tác hoa.   Hoa trồng trong nhà có mái che chủ y ếu là các loại hoa cúc, salem, hồng, đồng ti ền,  cẩm chướng, phong lan, địa lan.  Để  tiêu thụ  sản phẩm sản xuất từ  các vùng nông nghiệp  ứng dụng công  nghệ cao, hiện nay có mô hình liên kết các hộ dân trong sản xuất rau tại TP. Đà Lạt  dưới hình thức Hợp tác xã. Điển hình của mô hình liên kết trong HTX là  Hợp tác xã  sản xuất hoa và rau Xuân Hương. HTX được thành lập trên cơ  sở  tự  nguyện và   không tích tụ ruộng đất. Các hộ xã viên sản xuất riêng lẻ trên đất của gia đình mình   nhưng sản xuất theo kế hoạch sản xuất loại cây trồng theo hợp đồng tiêu thụ  sản  phẩm mà HTX đã ký kết với đơn vị  thu mua. Ban chủ  nhiệm chịu trách nhiệm ký   hợp đồng với các siêu thị, nhà hàng về số lượng rau tiêu thụ và thông báo kế hoạch   cho các hộ xã viên. Theo số lượng đăng ký, đến kỳ thu hoạch các đơn vị đã ký hợp  đồng với HTX tiến hành thu mua tận hộ. Hàng năm, HTX tổ chức các lớp tập huấn   nâng cao trình độ  kỹ  thuật cho các hộ  xã viên do các cơ  quan chức năng về  nông  nghiệp của Tỉnh tài trợ.   Kinh nghiệm phát triển tập trung vào sản phẩm chủ  lực của các vùng sản   xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Bắc Ninh:  Tỉnh Bắc Ninh đã quy hoạch các vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao  gắn với các sản phẩm chủ  lực và phấn đấu đến năm 2015 sẽ  hình thành một số  vùng sản xuất như sau:  ­  Đối với cây cà rốt, tỉnh đã qui hoạch 450 ha tại các huyện Lương Tài, Gia   Bình và cho đến nay đã hình thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung. ­ Vùng trồng rau an toàn đã được quy hoạch và xây dựng vùng nông nghiệp  ứng dụng công nghệ cao, với diện tích 50 ha tại huyện Thuận Thành. Đến nay, 10   ha dưa chuột được trồng và đã xuất khẩu.  11
  12. ­   Đối với thuỷ  sản, tỉnh đã quy hoạch vùng nông nghiệp  ứng dụng công  nghệ cao đối với sản phẩm cá rô phi đơn tính, tổng diện tích 50 ha.  Hiện nay, tỉnh đang đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong vùng và hướng dẫn   nâng cao tay nghề cũng như  trình độ  kỹ  thuật cao cho người nuôi trồng thuỷ  sản.   Dự kiến sản phẩm của vùng sẽ được tiêu thụ trong tỉnh và cung cấp cho thủ đô Hà   Nội và các tỉnh lân cận. 1.2.2. Một số bài học kinh nghiệm rút ra Từ những mô hình phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao  trong nước và thế giới, ta có thể rút ra một số bài học trong phát triển các vùng sản  xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn huyện Hoà Vang như sau:  1.2.2.1. Về công tác qui hoạch sử dụng đất đai Hiện nay, diện tích đất nông nghiệp ở huyện Hoà Vang đang ngày càng giảm  do việc chuyển đổi đất nông nghiệp phục vụ  quá trình đô thị  hoá và công nghiệp  hoá nhằm phát triển kinh tế­xã hội của thành phố. Do đó, mô hình phát triển nông  nghiệp công nghệ  cao cho Hoà Vang phù hợp là xây dựng một số  vùng sản xuất  ứng dụng công nghệ cao.   Để   ổn định tâm lý và đảm bảo khả  năng thu hồi vốn cho doanh nghiệp,   người dân yên tâm sản xuất thì nhất thiết cần có giải pháp về  quy hoạch một số  vùng sản xuất nông nghiệp tập trung trên địa bàn huyện, ít nhất là phải giữ ổn định  đến năm 2020 đối với các vùng hình thành trong giai đoạn 2012­2015, và đến năm  2025 với các vùng hình thành trong giai đoạn 2016­2020, tránh gây xáo trộn, tâm lý e  ngại cho người dân và doanh nghiệp nông nghiệp sản xuất, kinh doanh trong vùng. 1.2.2.2. Về  xây dựng mô hình  ứng dụng công nghệ  cao trong sản xuất   nông nghiệp  Việc đầu tư xây dựng mô hình nông nghiệp ƯDCNC ngoài đòi hỏi vốn đầu   tư  ban đầu lớn còn phải phù hợp với khí hậu, thời tiết và điều kiện tự  nhiên của  từng vùng. Đồng thời, việc xác định loại cây trồng, vật nuôi có lợi thế so sánh của   huyện cũng cần đặc biệt lưu ý. Do đó, trong từng mô hình ứng dụng công nghệ cao   trên địa bàn huyện, chúng ta không nên áp dụng nguyên xi các công nghệ  cao như  các địa phương khác mà phải có sự  điều chỉnh để  mang lại hiệu quả  cao nhất.  Trong đó cần tập trung  ứng dụng công nghệ  cao trong các khâu chọn tạo giống và  bảo quản, chế biến sản phẩm sau thu hoạch. 12
  13. 1.2.2.3. Về  lao động  Việc  ứng dụng các công nghệ cao trong nông nghiệp đòi hỏi lao động phải   có trình độ  kỹ  thuật và khả  năng tiếp thu những kiến thức mới cũng như  tham gia  lao động nông nghiệp thường xuyên. Do đó, khi xây dựng các vùng nông nghiệp  ƯDCNC trên địa bàn huyện, cần chú ý đến việc tập huấn, chuyển giao kỹ  thuật   cho người dân nhằm giúp người dân cập nhật kỹ thuật mới trong sản xuất. Ít nhất   trong mỗi tổ chức hợp tác (Hợp tác xã, câu lạc bộ, tổ hợp tác) phải có từ 1­3 cán bộ  chuyên trách về kỹ thuật tùy theo quy mô tổ chức hoặc trên 50% số lao động đã qua   đào tạo, tập huấn kỹ thuật. Đồng thời cần có những giải pháp cụ thể để thu hút lực lượng lao động trẻ  tham gia vào hoạt động sản xuất này, vì đó mới là lực lượng lao động có khả  năng   tiếp thu và phát huy tốt nhất trong việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông  nghiệp. 1.2.2.4. Mối liên kết giữa nông dân­ hợp tác xã­ doanh nghiệp trong sản   xuất và tiêu thụ sản phẩm  Qua mô hình liên kết giữa hộ nông dân và doanh nghiệp với hình thức doanh  nghiệp cung cấp giống cây trồng, vật nuôi cũng như vật tư nông nghiệp cho người  dân sản xuất, có thể thấy chỉ có thông qua liên kết với doanh nghiệp việc sản xuất   của người nông dân mới được tiến hành quy củ  hơn và hiệu quả  mang lại cũng   đảm bảo hơn.  Với quy mô sản xuất nhỏ lẻ như hiện nay, mối liên kết giữa các hộ nông dân  thông qua việc thành lập Hợp tác xã trên nguyên tắc tự nguyện sẽ tạo thuận lợi hơn   về mặt pháp lý trong việc giao dịch, ký kết hợp đồng với các đơn vị tiêu thụ và quá  trình đăng ký thương hiệu nông sản.  ­   Hợp tác xã sẽ  đảm nhiệm vai trò đầu mối cho các xã viên tìm kiếm thị  trường tiêu thụ  sản phẩm, ký kết hợp đồng liên kết với doanh nghiệp trong cung   cấp yếu tố  đầu vào, đầu ra cho nông dân, trên cơ  sở  tham khảo ý kiến và cân đối  với khả năng sản xuất ổn định của các xã viên.  ­  Người nông dân khi đó chỉ  tập trung vào công việc duy nhất là sản xuất   nông sản với chất lượng và số lượng theo kế hoạch phát triển sản xuất của hợp tác   xã.  13
  14. ­   Về  phía doanh nghiệp liên kết cần đảm bảo sự   ổn định trong các điều   khoản cam kết và hỗ trợ đã ký kết với hợp tác xã. Tránh tình trạng chậm trễ trong   thanh toán, và hành động có ý tiêu cực với nông dân.  1.2.2.5. Vai trò quản lý của nhà nước  Vai trò của nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển nông nghiệp  ứng dụng công nghệ cao. Trước hết, là trong công tác qui hoạch đất đai để tạo quỹ  đất sản xuất ổn định, tâm lý an tâm cho người nông dân, doanh nghiệp đầu tư.  Thứ  đến, là công tác đầu tư  xây dựng cơ  sở  hạ  tầng tại các vùng sản xuất   nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Đồng thời, việc phát triển các công nghệ cao  chủ yếu là các công nghệ mới và vốn đầu tư tương đối lớn nên nhà nước cần phải  kết hợp nguồn lực từ ngân sách với khơi dậy nguồn lực từ trong dân với các hình  thức khác nhau để triển khai thực hiện đầu tư  các mô hình thí điểm một cách hiệu   quả. Từ đó tạo ra hiệu ứng “lan toả” tiến tới nhân rộng toàn vùng.  Hơn nữa, việc tập huấn, chuyển giao công nghệ  cũng phải được nhà nước  quan tâm nhằm giúp người dân tiếp cận với công nghệ mới và có thể ứng dụng vào  sản xuất một cách hiệu quả.   1.2.2.6. Đẩy mạnh công tác khuyến nông­ lâm­ ngư  Công tác khuyến nông­lâm­ngư  (gọi tắt là khuyến nông) có ý nghĩa vô cùng   quan trọng trong việc nâng cao trình độ  kiến thức cho bà con nông dân, góp phần  đưa đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước vào thực tiễn hoạt động sản xuất,   trên hết là tạo mối liên hệ  khăng khít giữa người nông dân – nhà quản lý và nhà   khoa học. Cần thiết phải đẩy mạnh công tác khuyến nông, xây dựng hệ thống đến  tận cơ  sở. Tích cực thông tin tuyên truyền các chính sách, chủ  trương hỗ  trợ  phát  triển của Nhà nước và đào tạo, tập huấn, triển khai mô hình trình diễn cho nông   dân, kịp thời phản hồi tâm tư nguyện vọng của người dân đến các Sở, ban ngành có   liên quan để có phương án giải quyết thỏa đáng. 14
  15. PHẦN II: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG SẢN  XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÒA VANG 2.1. KHÁI   QUÁT   ĐẶC   ĐIỂM   TỰ   NHIÊN,   KINH   TẾ   ­   XÃ   HỘI   HUYỆN  HÒA   VANG   ẢNH   HƯỞNG   ĐẾN   SẢN   XUẤT   NÔNG   NGHIỆP   ỨNG  DỤNG CÔNG NGHỆ CAO 2.1.1. Các đặc điểm về điều kiện tự nhiên 2.2.1.1. Vị trí địa lý  Hòa Vang là huyện ngoại thành của thành phố Đà Nẵng, bao bọc quanh phía  Tây khu vực nội thành thành phố Đà Nẵng; huyện có tọa độ từ 15055’ đến 16013’ vĩ  độ Bắc và 107049’ đến 108013’ kinh độ Đông. ­ Phía Bắc giáp các huyện Nam Đông và Phú Lộc của tỉnh Thừa Thiên Huế. ­ Phía Nam giáp các huyện Điện Bàn và Đại Lộc tỉnh Quảng Nam. ­ Phía Tây giáp huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam. ­ Phía Đông giáp hai quận Cẩm Lệ và Liên Chiểu.                                  Với vị  trí địa lý chiến lược và hệ  thống giao thông thuận lợi là điều kiện   quan trọng trong việc phát triển kinh tế ­ xã hội của huyện cũng như có những đóng  góp đối với sự phát triển kinh tế ­ xã hội chung của thành phố  Đà Nẵng, là địa bàn  để thành phố Đà Nẵng giao lưu, hợp tác giao thương, trao đổi hàng hóa với các tỉnh  trong khu vực miền Trung ­ Tây Nguyên, nhất là các địa phương trên tuyến hành   lang kinh tế Đông­ Tây. 2.2.1.2. Địa hình, đất đai  Theo số  liệu thống kê  năm 2010, tổng diện tích đất huyện Hòa  Vang là   73.691 ha (trong đó đất nông nghiệp 66.062,6 ha, chiếm 89,65%, diện tích tự nhiên   còn lại là diện tích đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng).  Hai nhóm đất có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp là nhóm  đất phù sa ở khu vực đồng bằng, thích hợp với thâm canh lúa, trồng rau, hoa quả và   nhóm đất đỏ vàng  ở vùng đồi núi thích hợp với cây công nghiệp dài ngày, cây đặc   sản, dược liệu, chăn nuôi đại gia súc, phân bố trải rộng trên cả 3 vùng.  ­ Vùng đồng bằng: gồm 3 xã Hoà Châu, Hoà Tiến, Hoà Phước với tổng diện  tích 3.087 ha chiếm 4,19% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện. Vùng này hẹp nhưng   15
  16. đất đai tương đối bằng phẳng, độ  cao thấp 2 ­ 10m, Đất đai vùng này được phù sa  bồi tụ hằng năm nên khá màu mỡ, với đất phù sa ven sông và đất cát là hai loại đất  đặc trưng rất thích hợp với các loại cây hằng năm (rau, lúa, màu...).  Tuy nhiên, do  địa hình thấp, nên vùng này thường bị ngập lụt trong những ngày mưa lũ lớn. ­ Vùng trung du: là vùng tiếp giáp giữa vùng đồi núi và đồng bằng gồm các   xã: Hoà Phong, Hoà Khương, Hoà Nhơn, Hoà Sơn ở độ cao trung bình từ 50 ­ 100m   với tổng diện tích 11.170 ha chiếm 15,16% diện tích tự nhiên toàn huyện. Vùng này  chủ yếu là đồi núi thấp, xen kẽ là những cánh đồng hẹp tuy nhiên có một phần đất  nằm dọc  ở lưu vực Sông Yên và Tuý Loan cũng được phù sa bồi tụ hằng năm phù  hợp cho việc sản xuất lúa và rau màu ngắn ngày khác. ­ Vùng đồi núi: phân bố   ở  phía Tây gồm các xã: Hoà Phú, Hoà Ninh, Hoà  Liên, Hoà Bắc, vùng này đa số là đồi núi có độ cao 400 ­ 500m, cao nhất là đỉnh Bà   Nà: 1.487 m. Tổng diện tích tự nhiên là 56.476,7 ha chiếm 76,64% diện tích tự nhiên  toàn huyện. Địa hình đất đai của vùng này thích hợp cho việc phát triển lâm nghiệp .  Tuy nhiên, cũng có những thung lũng rộng người dân khai thác để  sản xuất lúa và  các loại rau màu khác.  2.2.1.3. Khí hậu, thủy văn  Về thời tiết, khí hậu Hòa Vang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao  và ít biến động; mỗi năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng  12 và  mùa  khô từ  tháng 01 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét   mùa  Đ     ông      nhưng không đậm và không kéo dài.  ­  Nhiệt độ trung bình hàng năm là 25,80C, cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, với  nhiệt độ trung bình 28 ­ 30°C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình 18 ­ 23°C.   Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500 m, nhiệt độ trung bình khoảng 20°C.  ­  Độ   ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, cao nhất vào các tháng 10,  11 với mức trung bình khoảng 85 ­ 87%; thấp nhất vào các tháng 6, và tháng 7, trung  bình khoảng 76 ­ 77%. ­  Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.800 mm, mưa lớn thường tập  trung vào: tháng 10 và 11 gây lũ lụt, ngập úng cho vùng đất thấp.  ­  Số giờ nắng bình quân hàng năm là 2.076,9 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5,  6, trung bình từ  233 đến 262 giờ/tháng; thấp nhất là vào tháng 12 và tháng 1 trung   bình từ 58 đến 122 giờ/tháng. 16
  17.  ­   Các hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Nam và Tây Nam vào tháng 5  đến tháng 7 và gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau gây tác động xấu   đến sản xuất nông nghiệp trong vụ Đông Xuân rất lớn, nhất là đối với cây lúa..  ­ Các yếu tố  bão, mưa lớn dồn dập luôn xảy ra trong mùa mưa gây nhiều  thiệt hại trong sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân, trung bình hàng năm  chịu ảnh hưởng trực tiếp từ 1 ­ 2 cơn bão. Về thủy văn  Huyện Hòa Vang có hệ thống sông ngòi phong phú bao gồm các sông: sông   Yên, sông Túy Loan, sông Cu Đê, sông Cẩm Lệ... với trữ lượng nước ngọt rất lớn,   là nguồn cung cấp nước chính cho các nhà máy nước của thành phố  Đà Nẵng và   một phần cho huyện Hòa Vang. Trong đó:  ­ Sông Cu Đê: Bắt nguồn từ đầu dãy Bạch Mã, sông chính có chiều dài 38  km. Ở thượng nguồn có 2 nhánh là sông Bắc và sông Nam, tổng diện tích lưu vực là   426 km2. Tổng lượng nước bình quân hằng năm vào khoảng 0,6 tỷ m3. ­ Sông Cẩm Lệ là hợp lưu của 2 sông Túy Loan và Sông Yên, có chiều dài 12  km. Sông Túy Loan có lưu vực nằm trên địa bàn thành phố  Đà Nẵng, Sông Yên là  hạ lưu sông Ái Nghĩa và sông Vu Gia. Nhìn chung, các điều kiện khí hậu và thuỷ văn của huyện Hoà Vang có nhiều   thuận lợi, song cũng có nhiều khó khăn như  hạn hán, lũ lụt gây  ảnh hưởng không  nhỏ đối với sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp.   2.1.2.  Các đặc điểm về kinh tế xã hội 2.1.2.1.  Đặc điểm về kinh tế  Hình 2.1. Tăng trưởng kinh tế của huyện Hòa Vang giai đoạn 2006 ­ 2010                                                                           ĐVT: Triệu đồng 17
  18. 450 20% 18.60% 18% 400 13.30% 14.20% 14.00% 16% 350 13.60% 12% 14% 300 10.50% 11.00% 12% 250 10% 200 11.80% 9% 8% 150 6% 100 4% 50 2% 0 0% 2006 2007 2008 2009 2010 Th ương m ại ­ Dịch vụ Nông ­ Lâm ­ Th ủy s ản Công nghi ệp ­ Xây dựng Tốc độ tăng giá trị  s ản xu ất Tốc độ tăng thu nh ập bình quân đầu ng ười (Nguồn: Niên giám thống kê huyện Hòa Vang 2010)             Trong những năm qua giá trị sản xuất của huyện tăng khá nhanh, giá trị  sản  xuất (giá cố định 1994) tăng từ 604.400 triệu đồng năm 2006 lên 933.900 triệu đồng  năm 2010. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân của huyện giai đoạn 2006  ­  2010  đạt   11,49%/năm,   trong   đó   ngành   nông­  lâm­  thủy   sản   tăng   bình   quân  5,3%/năm, công nghiệp ­ xây dựng tăng 15,6%/năm và dịch vụ tăng 15%/năm.   Đi cùng mức tăng chung của huyện, mức thu nhập bình quân đầu người tăng  nhanh và liên tục qua các năm. Năm 2010, mức thu nhập bình quân là 12,67 triệu   đồng/người, tăng hơn 2 lần so với năm 2005 chỉ   ở  mức 5,235 triệu đồng/người.  Tạo sự tích lũy vốn cho người dân mở rộng sản xuất, kinh doanh.  Cơ cấu kinh tế của Huyện cũng có sự chuyển dịch theo hướng tích cực tăng  dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp mặc dù   tốc độ chuyển dịch vẫn còn chậm và chưa sắt nét.  Trong nội bộ  ngành nông nghiệp có sự  chuyển dịch theo hướng sản xuất   hàng hoá gắn với thị  trường, trên cơ  sở  chuyển đổi nhanh cơ  cấu giống, cơ  cấu   mùa vụ, chủ động đưa các giống cây mới có ưu thế  hơn về năng suất, chất lượng   phù hợp với nhu cầu tiêu dùng. Bên cạnh đó các ngành công nghiệp ­ xây dựng cũng như thương mại ­ dịch   vụ  trên địa bàn Huyện cũng có chuyển biến tích cực, với sự  phát triển mạnh của   khu vực kinh tế  ngoài quốc doanh và các thành phần kinh tế  khác, thị  trường giao  lưu hàng hoá và các loại hình dịch vụ  được mở  rộng, là điều kiện thuận lợi cho  18
  19. ngành công nghiệp chế biến cũng như  hệ  thống cung  ứng hàng hoá nông sản phát  triển. 2.1.2.2. Dân cư và nguồn lao động Đến năm 2010, dân số toàn huyện Hòa Vang là 120.698 người (trong đó tỷ lệ  nam là 49,47 %, nữ  50,53%) với mật độ  dân số  trung bình là 164 người/km2. Tuy  nhiên mật độ dân số phân bố không đều giữa các địa phương, tập trung đông ở các  xã trung du đồng bằng (mật độ dân số xã Hòa Phước là 1.615 người/km2, Hòa Châu  là 1.263 người/km2, Hòa Tiến là 1.109 người/km2) và phân bố  thưa thớt  ở  các xã  miền núi (mật độ dân số xã Hòa Bắc chỉ có 11 người/km 2, Hòa Ninh 46 người/km2  và Hòa Phú 49 người/km2). Trong tổng 120.698 người thì dân số  trong độ  tuổi lao động chiếm 62,16%,   tương đương 75.023 người. Lao động có việc làm năm 2010 là 61.132 người, chiếm  81,48% dân số trong độ tuổi lao động. Về  cơ  cấu lao động theo trình độ  có sự  chuyển biến tích cực. Lao động đã  qua đào tạo có tốc độ  tăng khá tốt. Lao động có trình độ  cao đẳng, đại học trở  lên   trong giai đoạn 2006­2010 có tốc độ  tăng bình quân đạt 14,8%/năm, lao động có  trình độ trung học chuyên nghiệp có tốc độ tăng bình quân hàng năm là 17,42%,. Và   công nhân kỹ  thuật tăng bình quân 9,93%. Tuy nhiên tỷ  lệ  lao động chưa qua đào  tạo trên địa bàn huyện vẫn còn khá cao (trên 65%), vì vậy việc giảm tỷ  trọng lao  động chưa qua đào tạo vẫn là nhiệm vụ quan trọng nhằm đáp ứng các yêu cầu phát  triển kinh tế ­ xã hội của huyện trong thời gian đến. Bảng 2.1: Cơ cấu lao động của huyện bình quân giai đoạn 2006 ­ 2010                     Năm Tốc độ  2006 2010 tăng 2006­     Chỉ tiêu 2010 SL (người) SL  % % (người) % Phân theo ngành nghề 53.328 100 61.132 100 3,47 45, 32.352 60,7 27.876 ­ Nông, lâm, thủy sản 6 ­ 3,65 ­ Công nghiệp, xây  24, 9.402 17,6 14.916 dựng 4 12,23 ­ Dịch vụ 11.574 21,7 18.340 30, 12,20 19
  20. 0 Phân theo trình độ 53.328 100 61.132 100 3,47 65, 39.823 74,7 39.736 ­ Chưa qua đào tạo 0 ­0,05 21, 8.876 16,6 12.960 ­ Công nhân kỹ thuật 2 9,93 ­ TH chuyên nghiệp 2.412 4,5 4.585 7,5 17,42  ­ CĐ, ĐH trở lên 2.217 4,2 3.851 6,3 14,80 (Nguồn: Niên giám thống kê huyện Hòa Vang năm 2010) Trong cơ cấu lao động phân theo ngành nghề, dưới tác động quá trình đô thị  hóa và sự  chuyển dịch cơ  cấu kinh tế  của Huyện đã làm mức lao động làm việc   trong khu vực nông nghiệp giảm dần. Năm 2006 lao động trong nông nghiệp là  32.352 người chiếm 60,7%, đến năm 2010 giảm xuống còn 27.876 người, chiếm   45,6% tổng số  lao động, bình quân giai đoạn 2006 ­ 2010 giảm 3,65%/năm. Nếu   không có hướng phát triển bền vững trong thời gian đến thì cơ  cấu lao động trong  nông nghiệp sẽ còn tiếp tục giảm xuống gây mất cân đối lao động của huyện Hòa   Vang. 2.1.2.3. Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất Giao thông  Hệ thống giao thông ngang dọc đã được phủ kín song chất lượng chưa cao,   nhiều tuyến đã và đang xuống cấp; riêng giao thông nội đồng của nhiều vùng chưa  được đầu tư xây dựng. ­ Về  đường tỉnh lộ: các tuyến đường quan trọng ĐT 601; ĐT 602; ĐT 604;   ĐT 605 đã được nhựa hoá và có khả  năng quy hoạch nâng cấp, mở  rộng. Riêng  đoạn còn lại từ Tà Lang (Hoà Bắc) lên Bạch Mã vẫn là đường đất đá. ­ Về  đường huyện, xã: Đã khớp nối toàn bộ  những tuyến quan trọng với   nhau, phần lớn đã được nhựa hoá hay bê tông hoá còn lại một ít đang được tiếp tục  đầu tư xây dựng. Tuy nhiên về chất lượng chưa được đảm bảo, nhiều đoạn đường  cần nâng cấp, tu bổ. ­ Giao thông nội đồng: Đây là hệ thống thiết yếu phục vụ trực tiếp cho sản  xuất để đưa cơ giới hoá vào đồng ruộng, song do nguồn đầu tư còn hạn chế nên chỉ  20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2