intTypePromotion=2
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 141
            [banner_name] => KM2 - Tặng đến 100%
            [banner_picture] => 986_1568345559.jpg
            [banner_picture2] => 823_1568345559.jpg
            [banner_picture3] => 278_1568345559.jpg
            [banner_picture4] => 449_1568779935.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 7
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:45
            [banner_startdate] => 2019-09-13 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-13 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Tiểu luận Triết học số 68 - Công nghiệp hoá-hiện đại hoá. Thực trạng và giải pháp ở nước ta hiện nay

Chia sẻ: Phuc Nguyen | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:31

0
10
lượt xem
3
download

Tiểu luận Triết học số 68 - Công nghiệp hoá-hiện đại hoá. Thực trạng và giải pháp ở nước ta hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận cung cấp cho người học các kiến thức: Tiểu luận Triết học, triết học Mac Lenin, công nghiệp hoá-hiện đại hoá, thực trạng và giải pháp ở nước ta hiện nay,... Hi vọng đây sẽ là một tài liệu hữu ích dành cho các bạn sinh viên đang theo học môn dùng làm tài liệu học tập và nghiên cứu. Mời các bạn cùng tham khảo chi tiết nội dung tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận Triết học số 68 - Công nghiệp hoá-hiện đại hoá. Thực trạng và giải pháp ở nước ta hiện nay

  1. Tiểu luận triết học MỤC LỤC     Lời giới thiệu ...............................................................................................2 A. Giới thiệu đề tài.....................................................................................3 I. Quan niệm về CNH­HĐH trên thế giới và ở Việt Nam.................3 II. Ý nghĩa của đề tài.............................................................................4 1.Ý nghĩa trực tiếp của đề tài.....................................................................4 2.Ý nghĩa của đề tài thông qua quá trình CNH­HĐH ở Việt Nam............5 B. Nội dung..................................................................................................6 I. Cơ sở của đề tài.......................................................................................6 1. Cơ sở lí luận triết học Mác­Lê nin.........................................................6 2.Cơ sở thực tiễn.........................................................................................9 II. Thực trạng CNH­HĐH ở Việt Nam....................................................14 1.Những thành tựu đạt đuợc trong quá trìnhCNH­HĐH những năm qua 14 2.Nguyên nhân để Vịêt Nam thu được những thành tựu to lớn trong quá  trình CNH­HĐH.........................................................................................16 3.Những mặt hạn chế và yếu kém trong quá trình CNH­HĐH ở nước ta ....................................................................................................................17 4.Nguyên nhân của những hạn ché yếu kém...........................................19 5.Những bài học rút ra từ quá trình CNH­HĐH ở nước ta......................20 III. Một số giải pháp vĩ mô thúc đẩy quá trình CNH­HĐH ở Việt Nam 21 1.Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và năng lực quản lí của nhà nước ....................................................................................................................21 2.Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế  nhiều thành phần tạo điều  kiện cho mọi thành phần kinh tế phát triển.............................................22 3.Đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.....................................23 4.Đẩy mạnh đổi mới và phát triển khoa học công nghệ.........................23 5.Đẩy mạnh công tác huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả.........24 6.Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại................................24 7.Giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật.................25 C. Kết luận................................................................................................26 Tài liệu tham khảo....................................................................................27 Trần Thị Chúc ­ Kiểm toán 48C 1
  2. Tiểu luận triết học LỜI GIỚI THIỆU Nước ta đi lên Chủ  Nghĩa Xã Hội từ  một nước nông nghiệp  lạc hậu, cơ sở vật chất kĩ thuật thấp kém, trình độ của lực lượng sản xuất  chưa cao, quan hệ sản xuất mới chưa hoàn thiện. Vì vậy, công nghiệp hoá  ­ hiện đại hoá  (CNH­HĐH) là một xu hướng khách quan, phù hợp với xu  thế của thời đại và hoàn cảnh đất nước góp phần tạo dựng cơ sở vật chất  kĩ thuật cho Chủ Nghĩa Xã Hội, hoàn thiện quan hệ sản xuất. Do CNH­HĐH có ý nghĩa vô cùng to lớn với nước ta nên đã có rất   nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà kinh tế... và cả  sinh viên nghiên  cứu về  đề  tài này nhằm đưa ra giải pháp thúc đẩy nhanh quá trình CNH­ HĐH. Trong số các công trình đó có không ít những công trình có tác dụng   lớn đối với quá trình CNH­HĐH ở nước ta.  Đối với tôi, được sinh ra và lớn lên đúng vào thời điểm đất nước bắt   đầu đẩy nhanh quá trình CNH­HĐH, tôi mong đóng góp phần nào đó công  sức của mình vào sự nghiệp chung của đất nước. Chính vì vậy, tôi chọn đề  tài “Công nghiệp hoá­hiện đại hoá.Thực trạng và giải pháp ở nước ta hiện   nay.”  Trong đề  tài có sử  dụng và tham khảo nhiều tài liệu và quan điểm  của các nhà nghiên cứu khác. Em xin chân thành cảm  ơn thầy giáo Lê Ngọc Thông đã giúp đỡ  em  hoàn thành đề tài này.                                                                                 Hà Nội. ngày15 tháng 05 năm 2007                                                      Sinh viên: Trần Thị Chúc Trần Thị Chúc ­ Kiểm toán 48C 2
  3. Tiểu luận triết học A. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI I.QUAN NIỆM VỀ CNH­HĐH TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM  Trên thế  giới, khi cách mạng công nghiệp được tiến hành  ở Tây âu  (ở các nước Anh, Pháp, Đức...),  ở Mỹ và ở Nhật .Khi đó,  CNH được hiểu   là quá trình thay thế  lao động thủ  công bằng lao động sử  dụng máy móc  .Nhưng do tất cả  mọi khái niệm kinh tế  nói chung và khái niệm CNH nói   riêng đều mang tính lịch sử nghĩa là luôn có sự  thay đổi và phát triển cùng  lịch sử  của nền sản xuất xã hội, của khoa học công nghệ  .Vì vậy,   hiện  nay quan niệm về  công nghiệp hoá đã có sự  thay  đổi so với trước rất  nhiều. Ở Việt Nam do có sự kế thưà,  chọn lọc những tri thức văn minh của   nhân loại và rút ra những bài học kinh nghiệm trong lịch sử tiến hành công   nghiệp hoá và thực tiễn cuộc cách mạng công nghiệp hoá Việt Nam trong   thời kỳ  đổi mới. Hội nghị  ban chấp hành trung  ương lần thứ  VII khoá VI  và đại hội đại biểu toàn quốc thứ VII Đảng cộng sản Việt Nam  xác định:   “Công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động  sản xuất và kinh doanh ,dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử  dụng một   cách phổ  biến sức lao động cùng với công nghệ  phương tiện và phương  pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự  phát triển của công nghiệp và tiến bộ  khoa học công nghệ tạo ra năng xuất lao động cao ” Khái niệm công nghiệp hoá như  vậy Đảng ta đã xác định rộng hơn   những quan điểm trước đó bao gồm tất cả hoạt động sản xuất kinh doanh,  cả  về  dịch vụ  và quản lý kinh tế  xã hội được sử  dụng bằng các phương   tiện tiên tiến hiện đại cùng với kĩ thuật và công nghệ  cao. Như  vậy tư  tưởng CNH không bó hẹp trong phạm vi các trình độ  lực lượng sản xuất  đơn thuần, kĩ thuật đơn thuần để chuyển lao động thủ công thành lao động  cơ khí như quan niệm trước đây.  Do những biến đổi của nền kinh tế thế giới và điều kiện cụ thể của   đất nước, CNH ở Việt Nam hiện nay có những đặc điểm chủ yếu sau đây: Thứ nhất: CNH phải  gắn liền với HĐH. Sở dĩ như vậy là vì trên thế  giới đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Một số  nước phát triển đã bắt đầu chuyển từ  kinh tế  công nghiệp sang kinh tế  tri   thức, nên phải tranh thủ ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ,   tiếp cận với kinh tế  tri thức để  hiện đại hoá những ngành, những khâu,  những lĩnh vực có khả năng nhảy vọt. Trần Thị Chúc ­ Kiểm toán 48C 3
  4. Tiểu luận triết học Thứ  hai: CNH phải nằm mục tiêu độc lập dân tộc và chủ  nghĩa xã  hội. CNH là tất yếu của các nước nhưng với mỗi nước mục tiêu và tính   chất của CNH lại khác.  Ở  nước ta, CNH nhằm xây dựng cơ  sở  vật chất   cho Chủ Nghĩa Xã Hội, tăng cường sức mạnh để  bảo vệ  nền độc lập dân   tộc. Thứ  ba: CNH trong điều kiện kinh tế  thị  trường có sự  điều tiết của  nhà nước. Điều này làm cho CNH trong giai đoạn hiện nay khác với CNH   trong giai đoạn đổi mới. Trong cơ  chế  quản lí kinh tế  kế  hoạch hoá tập   trung­hành chính, bao cấp, CNH được thực hiện theo kế hoạch, mệnh lệnh   của nhà nước. Trong cơ chế kinh tế hiện nay nhà nước vẫn giữ vai trò hết  sức quan trọng trong quá trình CNH. Nhưng CNH không xuất phát từ  chủ  quan nhà nước, nó đòi hỏi phải vận dụng các quy luật khách quan mà trước   hết là quy luật thị trường. Thứ  tư:  CNH­HĐH nền kinh tế  quốc dân trong bối cảnh toàn cầu  hoá nền kinh tế. Vì thế mở cửa nền kinh tế, phát triển các quan hệ kinh tế  quốc tế là tất yếu đối với nước ta hiện nay. CNH trong điều kiện “chiến lược” kinh tế  mở  có thể  đi nhanh nếu  chúng ta biết tận dụng, tranh thủ được thành tựu của thế giới và sự giúp đỡ  quốc tế. Công nghiệp hoá trong điều kiện”chiến lựơc” kinh tế  mở  cũng  gây ra không ít những trở ngại do những tác dụng tiêu cực của nền kinh tế  thế giới, do trật tự của nền kinh tế thế giới mà các nước tư bản phát triển  thiết lập không có lợi cho các nước nghèo, lạc hậu.Vì thế, CNH­HĐH phải   đảm bảo xây dựng nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế độc lập. II.Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI. 1.Ý NGHĨA TRỰC TIẾP CỦA ĐỀ TÀI Đối với quá trình CNH­HĐH ở Việt Nam, đề tài có rất nhiều ý nghĩa  và tác dụng to lớn .Trong đó, một số ý nghĩa nổi bật của đề tài là: Thứ nhất: đề tài đã phân tích đánh giá chính xác thực trạng xây dựng  CNH­HĐH  ở  Việt Nam hiện nay. Đó là những đánh giá, phân tích về  tiền  đề thực hiện CNH­HĐH ở nước ta, kết quả thành tựu cũng như những mặt  hạn chế yếu kém trong quá trình xây dựng CNH­HĐH đất nước .Thêm nữa  đề  tài đã làm rõ được nguyên nhân dẫn tới thực trạng của CNH­HĐH  ở  nước ta hiện nay .Mục đích của việc này là nhằm hiểu rõ hơn về  CNH­ HĐH ở Việt Nam để từ đó có thể đưa ra được các giải pháp làm thúc đẩy   quá trình CNH­HĐH ở nước ta nhanh hơn. Thứ  hai:Với việc đề  tài sử  dụng quan điểm toàn diện để  tìm ra các  quan hệ giữa CNH­HĐH với một số yếu tố như (lực lưọng sản xuất, khoa   học công nghệ, vốn lao động...). Từ  đây, chúng ta có thể  hiểu rõ hơn về  Trần Thị Chúc ­ Kiểm toán 48C 4
  5. Tiểu luận triết học CNH­HĐH để  có thể  đưa ra được các giải pháp có hiệu quả  nhất cho   CNH­HĐH nước ta. Thứ  ba:Đề  tài đã đưa ra được một số  giải pháp vĩ mô thúc đẩy quá  trình công nghiệp hoá  ở  nước ta bằng cách sử  dụng quan điểm phát triển   để  vạch ra con đường phát triển.Tất cả  các giải pháp trên đều được đặt  trong điều kiện cụ thể của đất nước ta và thế giới .Do khi đưa ra các giải   pháp đề tài  đã quán triệt sử dụng quan điểm lịch sử. Trên đây chỉ  là ba ý nghĩa và  tác dụng nổi bật của đề  tài. Ngoài ra,  đề tài còn một số ý nghĩa khác như: đã vận dụng được triết học Mác­Lênin  và tư  tưởng Hồ  Chí Minh vào trong thực tiễn quá trình CNH­HĐH  ở  Việt  Nam. 2. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ  TÀI THÔNG QUA Ý NGHĨA VIỆC XÂY DỰNG   CNH­HĐH Ở VIỆT NAM Từ  thập niên  60 của thế  kỉ  XX, dưới sự  lãnh đạo của Đảng, nhân   dân ta đã hiểu được tác dụng của CNH­HĐH đối với nước ta rất to lớn.   Trong đó nổi bật là: CNH trước hết là quá trình thực hiện mục tiêu xây dựng kinh tế  Xã  Hội Chủ Nghĩa. Đó là  quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã  hội nhằm cải biến một xã hội nông nghiệp thành một xã hội công nghiệp  gắn với việc hình thành từng bước quan hệ  sản xuất tiến bộ, ngày càng  thể hiện bản chất ưu việt của chế độ mới Xã Hội Chủ Nghĩa. Nước ta đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội với xuất phát điểm thấp, nền nông  nghiệp lạc hậu, bình quân ruộng đất thấp, 80% dân cư sống ở nông thôn có   mức thu nhập thấp, sức mua hạn chế. Vì vậy, quá trình CNH là quá trình   tạo điều kiện vật chất kĩ thuật cần thiết về  con người và về  khoa học   công nghệ  thúc đẩy chuyển dịch cơ  cấu kinh tế    nhằm huy động và sử  dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để không ngừng tăng năng suất lao động  làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, nâng cao đời sống văn hoá cho nhân  dân, thực   hiện tiến  bộ  và  công bằng  xã hội, bảo  vệ  và  cải  thiện môi  trường sinh thái. Quá trình CNH tạo ra cơ  sở  vật chất để  làm biến đổi về  chất lực   lượng sản xuất nhờ  đó nâng cao vai trò của người lao động­nhân tố  trung   tâm trong nền kinh tế Xã Hội Chủ Nghĩa. Tạo điều kiện vật chất cho việc  xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Nền kinh tế tăng trưởng và phát triển nhờ thành tựu công nghiệp hoá  mang lại là cơ sở để củng cố khối liên minh vững chắc giữa giai cấp công  nhân, nông dân và đội ngũ trí thưc trong sự nghiệp cách mạng Xã Hội Chủ  Nghĩa. Đặc biệt là góp phần tăng cường quyền lực sức mạnh và hiệu quả  của bộ máy quản lí kinh tế của nhà nước. Trần Thị Chúc ­ Kiểm toán 48C 5
  6. Tiểu luận triết học Sự nghiệp CNH tạo điều kiện vật chất để xây dựng nền kinh tế độc  lập, tự chủ vững  mạnh trên cơ sở đó mà thực hiện tốt sự phân công và hợp  tác quốc tế. Sự  nghiệp   CNH đất nước thúc đẩy sự  phân công lao động xã hội   phát triển, thúc đẩy quá trình quy hoạch vùng lãnh thổ  hợp lý theo hướng  chuyên canh tập trung làm cho quan hệ kinh tế giữa các vùng, các miền trở  nên thống nhất cao hơn. CNH không những có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng phát  triển cao mà còn tạo tiền đề  vật chất để  xây dựng, phát triển và hiện đại   hoá nền quốc phòng và an ninh gắn liền với sự nghiệp phát triển văn hoá  kinh tế xã hội. Trần Thị Chúc ­ Kiểm toán 48C 6
  7. Tiểu luận triết học B. NỘI DUNG I.CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI 1.CƠ SỞ LÍ LUẬN TRIẾT HỌC MAC­LÊNIN ­ Nguyên lí mối quan hệ phổ biến Tất cả các sự  vật hiên tượng và quá trình khác nhau của thế giới có  mối liên hệ  qua lại, tác động lẫn nhau. Mối liên hệ  đó là mối liên hệ  phổ  biến. Mối liên hệ  là phạm trù triết học dùng để  chỉ  sự  quy định, sự  tác   động qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa   các mặt của một sự vật, một hiện tượng trong thế giới. Các tính chất của mối liên hệ: Mối liên hệ  phổ biến có tính khách quan vì chỉ  có duy nhất một thế  giới vật chất nên các mối liên hệ  cũng là vật chất. Vì vậy, nó cũng phải   tồn tại khách quan. Còn các mối liên hệ  tinh thần chỉ  là sự  phản ánh của   các mối liên hệ vật chất vào trong con người. Vì vậy, mối liên hệ phổ biến  là tồn tại khách quan. Mối liên hệ  còn mang tính phổ biến do: Thứ nhất: do bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật,  hiện tượng khác và không có bất cứ  một sự  vật, hiện tượng nào không  nằm trong mối liên hệ nào cả. Mọi sự vật, hiện tượng thể hiện sự tồn tại   của mình thông qua các mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác. Thứ  hai: mối liên hệ  biểu hiện dưới nhiều dạng riêng biệt, cụ  thể  tuỳ theo điều kiện nhất định. Song, dù biểu hiện dưới hình thức nào chúng  chỉ biểu hiện mối liên hệ phổ biến chung nhất. Ngoài hai tính chất trên mối liên hệ  này còn có tính đa dạng, nhiều  vẻ  của nó. Mối liên hệ  có thể  phân ra các mối liên hệ  khác nhau: có mối  liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, mối liên hệ chủ yếu và mối liên   hệ  thứ  yếu, mối liên hệ  về  bản chất, mối liên hệ  về  nội dung và hình   thức... Tính đa dạng của các mối liên hệ là do tính đa dạng của sự tồn tại,   phát triển và vận động của sự  vật và hiện tượng quy định. Mỗi sự  vật,   hiện tượng là một cấu trúc mở bao gồm các các mối liên hệ bên trong nó và   các mối liên hệ bên ngoài nó. Trong các mối liên hệ trên thì mối liên hệ bên  trong, mối  liên hệ  chủ  yếu, mối liên  hệ  về  bản chất, mối liên hệ  tất  nhiên... là các mối liên hệ  giữ  vai trò quyết định. Song, tuỳ  vào điều kiện  cụ thể, hoàn cảnh cụ thể các mối liên hệ  tương ứng với chúng có thể  giữ  vai trò quyết định. ­ Nguyên lí về sự phát triển: Trần Thị Chúc ­ Kiểm toán 48C 7
  8. Tiểu luận triết học Khác với các quan niệm trước đây, triết học theo quan điểm duy vật   biện  chứng đã đưa ra quan điểm đúng nhất về sự phát triển: “phát triển là   một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp tới   cao, từ đơn giản tới phức tạp, từ kém hoàn thiện tới hoàn thiện hơn”. Sự phát triển có những đặc trưng sau:  Thứ nhất: phát triển không chỉ là sự biến đổi về lượng mà trên cơ sở  những biến đổi về lượng để thực hiện những biến đổi về  chất ở  trình độ  cao hơn. Thứ  hai: phát triển còn là những biến đổi làm thay đổi cấu trúc, cơ  chế  hoạt động, phương thức tồn tại, chức năng vốn có của sự  vật, hiện  tượng theo chiều hướng ngày càng hoàn thiện hơn. Như vậy, sự phát triển là trong đó có sự vật mới ra đời thay thế cho  sự  vật cũ, là quá trình không ngừng trong tự  nhiên và trong xã hội, trong  bản thân con người, trong tư duy... Nếu xét từng trường hợp cụ thể thì có   cả vận động đi lên và vận động đi xuống, vận động tuần hoàn. Nhưng xét  cả quá trình vận động với thời gian dài và không gian rộng thì vận động đi  lên là xu hướng chung của mọi sự vật. Các tính chất của sự phát triển: Sự phát triển bao giờ cũng mang tính khách quan. Do nguồn gốc của   sự  phát triển nằm ngay trong bản thân sự  vật. Đó là quá trình  giải quyết   liên tục những mâu thuẫn phát sinh trong sự  tồn tại và vận động của sự  vật. Nhờ đó mà sự  vật phát triển. Vì vậy, sự  phát triển là tiến trình khách   quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ  quan của con ngươi dù con người  có muốn hay không. Sự phát triển bao giờ cũng mang tính phổ biến. Vì sự phát triển xảy   ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong tự nhiên, trong tư duy   ở bất cứ sự vật, hiện tượng khách quan nào của thế giới khách quan. Sự phát triển còn có tính đa dạng, phong phú. Với mỗi quá trình phát  triển trong các lĩnh vực khác nhau, với mỗi điều kiện hoàn cảnh khác nhau   lại diễn ra theo những mô thức khác nhau. Điều này nói lên tính đa dạng,  phong phú của phương thức phát triển. Phương thức của mọi sự phát triển  là từ  sự  biến đổi về  lượng dẫn đến sự  biến đổi về  chất và ngược lại.   Nguồn gốc của phát triển là thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập.  Hình thức biểu hiện là phủ định của phủ định. ­ Các quan điểm vận dụng từ hai nguyên lí trên cho quá trình CNH­ HĐH ở Việt Nam +Quan điểm toàn diện Do bất cứ  sự  vật, hiện tượng nào trong thế  giới đều tồn tại trong   mối liên hệ  với sự  vật, hiện tượng khác, các mối liên hệ  này thì đa dạng,   phong phú. Chính vì vậy, khi nhận thức về  sự  vật, hiện tượng chúng ta   phải sử dụng quan điểm toàn diện, tránh quan điểm phiến diện, chỉ xét sự  Trần Thị Chúc ­ Kiểm toán 48C 8
  9. Tiểu luận triết học vật, hiện tượng  ở  một mối liên hệ  đã vội vàng kết luận về  tính quy luật   hay bản chất của chúng. Theo quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải nhận thức về sự vật,  hiện tượng trong mối liên hệ  qua lại giữa các bộ  phận, giữa các mặt của   chính sự  vật và trong sự  tác động qua lại giữa các sự  vật khác với nó; kể  cả những mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp. Chỉ trên cơ sở đó mới hiểu rõ  được sự vật. Vì vậy, để đưa ra giải pháp cho quá trình CNH­HĐH ở nước  ta thì trước hết phải hiểu rõ về CNH­HĐH. Muốn có được điều đó thì phải   phân tích tất cả các mối liên hệ của nó.  Đồng thời theo quan điểm này đòi hỏi chúng ta phải phân biệt các  mối liên hệ  với nhau. Phải biết chú trọng tới các mối liên hệ  bên trong,  mối liên hệ về bản chất, mối liên hệ  chủ yếu, mối liên hệ  tất nhiên... Để  từ  đó để  hiểu rõ được bản chất của sự  vật để  có các phương pháp tác  động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả  cao. Vì vậy, để  có thể  đưa ra các  giải pháp phù hợp với CNH­HĐH  ở  Việt Nam thì chúng ta phải phân biệt   được tất cả các mối liên hệ giữa các yếu tố với CNH­HĐH. Trong thực tế  theo quan điểm này khi tác động vào sự  vật, ta phải  chú ý tới những mối liên hệ  của nó với sự  vật khác. Phải biết sử  dụng  đồng bộ  các biên pháp, phương tiện khác nhau để  đem lại hiệu quả  cao  nhất. Vì vậy, khi thực hiện CNH­HĐH ta phải sử  dụng nhiều biện pháp,  giải pháp cùng một lúc để giải quyết một vấn đề. Để quá trình CNH­HĐH ở nước ta thu được nhiều kết quả thì chúng  ta phải sử dụng quan điểm toàn diện. +Quan điểm phát triển Mọi sự vật đều nằm trong quá trình vận động và phát triển nên trong  hoạt động thực tiễn và nhận thức ta phải có quan điểm phát triển để vạch   ra xu hướng biến đổi, chuyển hoá của chúng. Theo quan điểm phát triển đòi hỏi chúng ta không chỉ nắm bắt được   cái đang tồn tại ở sự vật mà còn thấy được khuynh hướng phát triển trong  tương lai của chúng, phải thấy rõ những biến đổi đi lên cũng như  những  biến đổi đi xuống. Song điều quan trọng là phải khái quát được những biến  đổi để vạch ra khuynh hướng biến đổi của sự vật. Vì vậy, ta phải thấy rõ  xu hướng vận động, phát triển, của quá trình  CNH­HĐH  ở  nước ta trong   tương lai và cả những cái đang tồn tại. Xem xét sự  vật theo quan điểm này đòi hỏi chúng ta phải phân chia  quá trình phát triển của sự vật thành những giai đoạn. Trên cơ sở đó tìm ra   phương pháp nhận thức và tác động phù hợp thúc đẩy sự  vật phát triển  nhanh hơn hoặc kìm hãm sự  phát triển của sự  vật. Tuỳ theo sự  phát triển  đó có lợi hay có hại. Vì vậy, khi xây dựng  CNH­HĐH ta phải chia thành   những giai đoạn và trong mỗi giai đoạn ta thực hiện các biện pháp, phương  pháp để giải quyết các vấn đề sao cho hiệu quả nhất. Trần Thị Chúc ­ Kiểm toán 48C 9
  10. Tiểu luận triết học Để thực hiện sự phát triển trên thì trên cơ  sở  tích luỹ  dần về  lượng   rồi tiến tới sự  biến đổi về  chất. Đối với sự  nghiệp CNH­HĐH ở  nước ta   cũng phải tích luỹ dần về lượng sau đó tiến hành những biến đổi về chất. Quan điểm này nhằm khắc phực tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến  trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của chúng ta. + Quan điểm lịch sử Quan điểm này đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác động  vào sự  vật phải chú ý tới điều kiện cụ  thể, môi trường cụ  thể  mà sự  vật   được sinh ra, tồn tại và phát triển. Vì vậy, để  có thể  đưa ra các giải pháp để  thúc đẩy quá trình CNH­ HĐH  ở  Việt Nam chúng ta phải phân tích tình hình cụ  thể  của đất nước,   cũng như  bối cảnh quốc tế  trong giai đoạn ngày nay. Ngoài ra, khi thực   hiện các giải pháp chúng ta cũng phải sửa đổi, điều chỉnh cho phù hợp với   hoàn cảnh cụ thể. ­ Đề tài chọn cơ sở triết học vì:  Đề  tài nhằm mục đích đưa ra được các giải pháp làm thúc đẩy quá   trình  CNH­HĐH phát triển nhanh hơn và thu được nhiều thành tựu hơn. Vì  vậy, đề  tài dùng quan điểm toàn diện để  hiểu rõ về  CNH­HĐH. Sau đó,  dùng quan điểm phát triển để  đưa ra các giải pháp thúc đẩy  CNH­HĐH.  Nhưng để  các giải pháp phát huy được tác dụng cao nhất thì đề  tài đã sử  dụng quan điểm lịch sử khi đưa ra các giải pháp. 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN ­CNH­HĐH ở Việt Nam có tính tất yếu khách quan + CNH­HĐH có tính phổ biến Mỗi phương thức sản xuất xã hội chỉ  có thể  vững chắc trên cơ  sở  vật chất kĩ thuật tương ứng. Cơ sở vật chất kĩ thuật của một xã hội là toàn  bộ các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội phù hợp với trình độ  kĩ thuật tương ứng mà lực lượng lao động sản xuất sử dụng để sản xuất ra  của cải vật chất thoả mãn nhu cầu của xã hội. Chủ Nghĩa Tư Bản đã tiến hành CNH để xây dựng cơ sở vật chất kĩ   thuật cho chính Chủ Nghĩa Tư Bản và đã thu được nhiều thành công. Đó là   lực lượng sản xuất phát triển cao, trình độ khoa học kĩ thuật tiên tiến, năng  suất lao động cao. Do Chủ  Nghĩa Xã Hội có phương thức sản xuất tiên tiến hiện đại  dựa trên trình độ  khoa học kĩ thuật của lực lượng sản xuất phát triển cao.   Vì nước ta đi lên Chủ  nghĩa xã hội từ  một nước nông nghiêp lạc hậu nên  nước ta phải xây dựng cơ  sở  vật chất kĩ thuật cho Chủ  Nghĩa Xã Hội.  Trong đó, nền nông nghiệp và công nghiệp hiện đại, khoa học công nghệ  Trần Thị Chúc ­ Kiểm toán 48C 10
  11. Tiểu luận triết học phát triển cao. Muốn thực hiện thành công nhiệm vụ  quan trọng đó chúng  ta phải tiến hành CNH tức là chuyển từ nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu   sang nền công nghiệp hiện đại. +CNH­HĐH là quá trình tạo cơ sở vật chất kĩ thuật cho nền kinh tế   quốc dân Xã hội chủ nghĩa Xã Hội Chủ Nghĩa muốn tồn tại và phát triển cũng cần phải có một  nền kinh tế  tăng trưởng, phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện  đại và chế  độ  công hữu về  tư  liệu sản xuất. Cơ  sở  vật chất kĩ thuật của  Chủ  nghĩa xã hội cần phải xây dựng trên cơ  sở  thành tựu mới nhất, tiên   tiến nhất của khoa học và công nghệ. Cơ  sở  kĩ thuật đó phải tạo ra năng  suất lao động xã hội cao. CNH­HĐH chính là quá trình tạo ra nền tảng cơ  sở cho nền kinh tế quốc dân. + CNH­HĐH là lựa chọn phù hợp với nước ta hiện nay Việt Nam đi lên Chủ  Nghĩa Xã Hội từ  một nước nông nghiệp lạc   hậu, cơ  sở  vật chất kĩ thuật thấp kém, trình độ  lực lượng sản xuất chưa   phát triển, quan hệ  sản xuất Xã Hội Chủ  Nghĩa mới được thiết lập chưa  được hoàn thiện. Vì vây, quá trình CNH­HĐH sẽ  xây dựng cơ  sở  vật chất   cho nền kinh tế quốc dân. Mỗi bước tiến của quá trình công nghiệp hoá là  một bước tăng cường cơ sở vật chất cho Chủ Nghĩa Xã Hội, làm phát triển   mạnh lực lượng sản xuất, góp phần hoàn thiện quan hệ  sản xuất Xã Hôi  Chủ Nghĩa.  + CNH­HĐH ở Việt Nam hiện nay phù hợp với xu hướng thời đại Trong thời đại ngày nay với hàng loạt nhiệm vụ đặt ra cho mỗi nước   như  là: xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân, giải quyết các   vấn đề  về  thiên tai... Vì vậy, mọi quốc gia phải tập trung mọi nguồn lưc   để  giải quyết các vấn đề  trên. Một lựa chọn cho các nước phát triển là  phải xây dựng thành công sự nghiệp CNH­HĐH. Xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế  đang phát triển  mạnh mẽ  trên cơ  sở  khoa học công nghệ  cũng phát triển   nhanh chóng.  Những điều kiện thuận lợi và khó khăn, khách quan và chủ  quan, tạo ra   nhiều cơ  hội mới nhưng không ít những khó khăn, thử  thách đối với nền   kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Vì vậy, chúng ta phải chủ  động nắm lấy thời cơ, phát huy thuận lợi để  đẩy nhanh quá trình CNH­ HĐH tạo ra thế và lực vượt qua khó khăn, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu đưa kinh  tế tăng trưởng và phát triển bền vững. ­ Tư  tưởng Hồ  Chí Minh về  phát triển kinh tế  và CNH­HĐH đất  nước: Chủ  tịch Hồ  Chí Minh vĩ đại sống mãi với sự  nghiệp của chúng ta.  Tư  tưởng của Hồ  Chí Minh soi sáng con đường đi lên Chủ  Nghĩa Xã Hội  của dân tộc ta. Tư tưởng về phát triển kinh tế và CNH­HĐH đất nước vẫn  còn nguyên giá trị với nước ta hiện nay. Trần Thị Chúc ­ Kiểm toán 48C 11
  12. Tiểu luận triết học Tư  tưởng bao trùm trong tư  tưởng phát triển kinh tế  của Hồ  Chí   Minh là: xây dựng nền kinh tế với mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ  Nghĩa  Xã Hội. Vì vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh lúc nào cũng mong xây dựng   nền kinh tế  nước ta vững mạnh và độc lập tự  chủ  . Về  phát triển kinh tế  thì Bác quan tâm đến các ngành kinh tế quốc dân, cơ  cấu vùng kinh tế, cơ  cấu kinh tế trong nước, ngoài nước. Đối   với   các   ngành,   Bác   quan   tâm   tới   ngành   công   nghiệp,   nông  nghiệp, thương nghiệp, tiểu thủ  công nghiệp...  Thứ  nhất, đối với nông  nghiệp, Bác quan tâm đặc biệt vì đây là  ngành rộng lớn nhất nước ta giải   quyết vấn đề lương thực hằng ngày và ảnh hưởng trực tiếp tới tất cả các   kĩnh vực khác trong xã hội. Trong nông nghiệp, Bác có quan điểm phát triển  toàn diện cây trồng, vật nuôi, cây ăn quả, cây công nghiệp ...  Thứ hai, đối  với công nghiệp nhẹ Bác từng nói:” Mọi chính sách của Đảng và nhà nước  ta đều nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội và cải thiện đời sống cho nhân dân.  Ngành công nghiệp nhẹ  quan hệ  khăng khít với đời sống hằng ngày của  nhândân. Vì vậy nhiệm vụ của ngành là rất quan trọng.” Từ quan điểm đó   Bác luôn quan tâm tới phát triển công nghiệp nhẹ.  Thứ  ba, đối với ngành  công nghiệp nặng Bác luôn đặt ra yêu cầu phải  xây dựng ngành sao cho   phù hợp với đất nước và phải thực hiện được yêu cầu đã đề  ra . Thứ  tư,  Bác rất quan tâm tới thương nghiệp và thủ  công nghiệp. Bác từng nói:”  mối quan hệ  giữa công – nông­ thương nghiệp sẽ  tạo nên cái chân bền  vững của nền kinh tế”. Trong cơ  chế  quản lí Bác luôn yêu cầu phải thường xuyên đổi mới  cơ chế quản lí cho phù hợp với nền kinh tế. Bác đặc biệt quan tâm tới hoạt  động của hệ thống ngân, tài chính, tiền tệ đối với nền kinh tế. Tư  tưởng của Bác là ánh sáng soi đường cho dân tộc ta đi từ  thắng   lợi này sang thắng lợi khác. ­ Tư tưởng của Đảng ta về tiến hành C NH­HĐH:   Đường lối, mục tiêu, tư tưởng phát triển kinh tế của Đảng: +Đường lối kinh tế của Đảng ta là đẩy mạnh CNH­HĐH, xây dựng  nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta thành một nước công nghiệp tiên  tiến, hiện đại,  ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất đồng thời xây dựng   quan hệ  sản xuất phù hợp theo định hướng Xã Hội Chủ  Nghĩa. Phát huy   cao độ nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài và chủ động hội   nhập với nền kinh tế khu vực và trên thế  giới. Tăng trưởng kinh tế  đi đôi   với công bằng xã hội, cải thiện đời sống cho người dân, cải thiện môi  trường, phát triển an ninh, quốc phòng. +Mục tiêu phát triển kinh tế  của nước ta từ  2001 dến 2010 là đưa  nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất   và tinh thần của người lao động tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ  bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con  Trần Thị Chúc ­ Kiểm toán 48C 12
  13. Tiểu luận triết học người, năng lực khoa học công nghệ, kết cấu hạ  tầng, tiềm lực kinh tế,   quốc phòng, an ninh được tăng cường, thể chế cơ chế thị trường được hình  thành về cơ bản, vị thế của nước ta trên  trường quốc tế được nâng cao. +Tư  tưởng phát triển kinh tế  nêu rõ phát triển nhanh , có hiệu quả,   bền vững, tăng trưởng kinh tế  đi đôi với thực hiện công bằng xã hội  và  bảo vệ  môi trường. CNH­HĐH phải đảm bảo kinh tế  độc lập, tự  chủ  về  đường lối chính sách đồng thời có tiềm lực kinh tế  đủ  mạnh. Mở  rộng và  nâng cao hiệu quả hoạt động của hoạt động kinh  tế đối ngoại kết hợp với  nội lực thành nguồn lực tổng hợp để phát triển kinh tế. Chiến lược đến năm 2010 GDP tăng gấp đôi năm 2000. Về  chuyển   dịch cơ  cấu kinh tế, cơ  cấu lao  động giảm tỉ  lệ  lao động nông nghiệp  xuông 50%. Chiến lược còn nêu rõ phát triển CNH­HĐH là nhiệm vụ trọng   tâm. Con đường CNH rút ngắn so với các nước đi trước, vừa có bước tuần  tự vừa có bước nhảy vọt. Phát huy những lợi thế  của đất nước, tận dụng   mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến đặc biệt là công nghệ tin  học, sinh học, tranh thủ  ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và   phổ  biến hơn những thành tựu khoa học công nghệ  từng bước phát triển  kinh tế tri thức. Tăng cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực để đẩy nhanh quá   trình CNH­HĐH nông nghiệp, nông thôn. Tiếp tục đưa nông nghiệp, ngư  nghiệp lên một trình độ  cao mới bằng  ứng dụng thành tựu khoa học công   nghệ. Đẩy mạnh cơ khí hoá, thuỷ lợi hoá, điện khí hoá, quy hoạch sử dụng   đất hợp lí, đổi mới cơ cấu cây trồng vật nuôi, tăng giá trị thu được trên một   đơn vị  diện tích, giải quyết tốt vấn đề  tiêu thụ  nông sản. Đầu tư  nhiều  hơn cho phát triển cơ  cấu hạ  tầng, phát triển ngành nghề, dịch vụ, chú  trọng công nghiệp chế biến, chuyển một phần lao động trong nông nghiệp  sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, tạo nhiều việc làm mới, cải thiện   đời sống nhân dân. Công nghiệp phát triển những ngành nghề  sử  dụng nhiều lao động,  vừa đi nhanh vào một số  ngành và lĩnh vực có công nghệ  hiện đại . Phát  triển mạnh công nghiệp chế biến nông sản, thuỷ sản, da giày, cơ khí, điện  tử  , phần mềm... Xây dựng có chọn lọc một số  cơ  sở  công nghiệp nặng  quan trọng để sản xuất tư liệu lao động. Khai thác có hiệu quả  các nguồn   tài nguyên dầu khí, khoáng sản, vật liệu xây dựng... Chú trọng phát triển  các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Xây dựng một số  tập đoàn doanh nghiệp đi  đầu trong cạnh tranh. Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng ngành dịch  vụ, thương mại, các loại hình vận tải, bưu chính viễn thông, du lịch, ngân  hàng, tài chính, kiểm toán... sớm phổ  cập sử  dụng tin học và mạng thông   tin quốc tế trong nền kinh tế và trong đời sống xã hội. Xây dựng đồng bộ và từng bước tiến hành hiện đại hoá hệ thống cơ  sở hạ tầng giao thông, điện lực, thông tin, cấp nước, thoát nước. Trần Thị Chúc ­ Kiểm toán 48C 13
  14. Tiểu luận triết học Phát triển mạng lưới đô thị phân phối hợp lí trên các vùng. HĐH dần  các thành phố  lớn. Thúc đẩy quá trình đô thị  hoá  ở  nông thôn, không tập   trung quá nhiều khu công nghiệp và dân cư ở các khu đô thị lớn. Khắc phục  tình trạng ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường, tăng cường công tác  quy hoạch và quản lí đô thị, nâng cao thẩm mĩ kiến trúc. Về chiến lược phát triển các vùng, phát huy vai trò của các vùng kinh   tế  trọng điểm có mức tăng trưởng cao, tích luỹ  lớn. Đồng thời tạo điều  kiện phát triển các vùng khác trên cơ sở phát huy sức mạnh của từng vùng,   liên kết với các vùng trọng điểm tạo mức tăng trưởng khá. Quan tâm phát  triển kinh tế  xã hội gắn liền với tăng cường quốc phòng an ninh  ở  vùng   núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới hải đảo. Có chính sách hỗ  trợ  các vùng khó khăn để  có thể  phát triển kết cấu hạ  tầng, nguồn nhân  lực, nâng cao dân trí, xoá đói giảm nghèo. Đưa các vùng kinh tế  này vượt   qua tình trạng kém phát triển. Phát huy và phát triển vai trò chiến lược của  kinh tế  biển, kết hợp với bảo vệ vùng biển. Mở  rộng nuôi trồng và đánh   bắt, chế  biến thuỷ  sản tiến ra xa biển khai thác chế  biến dầu khí, phát  triển công nghiệp đóng tàu và vận tải biển, du lịch dịch vụ. Phát triển các  vùng dân cư trên biển, giữ vững an ninh trên biển. Từng bước hiện đại hoá công tác nghiên cứu dự báo khí tượng thuỷ  văn và vật lý địa cầu. Có kế  hoạch chủ  động phòng chống thiên tai, tìm  kiếm cứu nạn. ­ Từ thực tiễn một số cuộc cách mạng trên thế giới và bài học để lại Trên thế giới đã có rất nhiều nước tiến hành cách mạng công nghiệp  thành công. Mỗi cuộc cách mạng đều để lại các bài học quý báu. Việt Nam  xây dựng CNH­HĐH cũng nên nghiên cứu kinh nghiệm của các nước đi  trước. +Sơ lược một số cuộc cách mạng trên thế giới: Cách mạng công nghiệp Anh diễn ra vào những năm 30 của thế  kỉ  XVIII đến những năm 1985. Đây là cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên  trên thế  giới. Nó là quá trình thay thế  kĩ thuật thủ  công bằng kĩ thuật cơ  khí. Cách mạng công nghiệp Anh gắn liền với cuộc cách mạng khoa học kĩ  thuật lần thứ  nhất. Nước Anh thực hiện CNH trong điều kiện thuận lợi   hơn các  nước khác rất nhiều về kinh tế xã hội .Đặc điểm nổi bật của cách   mạng công nghiệp Anh  bắt đầu từ  công nghiệp nhẹ  sau đó chuyển sang   ngành công nghiệp nặng . Bắt đầu từ  ngành công nghiệp dệt rồi chuyển  sang các ngành công nghiệp khác. Công nghiệp nặng có luyện kim và khai  thác đá .Vì vậy thúc đẩy ngành cơ  khí phát triển để  sản xuất ra máy móc.  Cách mạng Anh   kết thúc khi máy móc tạo ra máy móc. Sau cách mạng  công nghiệp thì Anh dữ vị trí số  một trong các nước tư  bản và độc quyền  về thương nghiệp, công nghiệp và tài chính thế giới . Trần Thị Chúc ­ Kiểm toán 48C 14
  15. Tiểu luận triết học Cách mạng công nghiệp Mỹ diễn ra vào cuối thế kỷ XVIII nửa đầu  thế kỷ XIX và chỉ được thực hiện ở các bang phía Bắc. Nó dựa trên tiền đề  về  việc phát triển công nghiệp về  phía Tây. Cách mạng công nghiệp Mỹ  cũng phát triển từ  thấp tới cao. Nhưng nứơc Mỹ  đã phát triển hệ  thống  giao thông để thống nhất đất nước và tạo điều kiện để khai thác các bang.  Ngoài ra, các nước Mỹ đã tận dụng được mọi lợi thế từ bên ngoài về  vốn   nên đã rút ngắn được thời gian tiến hành công nghiệp hoá. Sau cách mạng   công nghiệp nước mỹ  tồn tại hai mô hình kinh tế  đối lập giữa các bang   phía bắc kinh tế phát triển còn các bang phái nam kinh tế kém phát triển. Cách mạnh công nghiệp Nhật nổ ra trong khi nước Nhật chưa có hệ  thống công trường thủ công phát triển, số  lượng ít, tiềm lực kinh tế  chính  trị  yếu, các công trường thủ  công phân tán. Cách mạng công nghiệp Nhật  có đặc điểm nổi bật là dựa vào nguồn vốn trong nước và từ  thuế  nông  nghiệp, dựa vào phát hành tiền . Nó cũng bắt đầu từ  công nghiệp nhẹ  sau   đó chuyển sang công nghiệp nặng .Sau cách mạng công nghiệp kinh tế  Nhật có sự  mất cân đối   công nghiệp phát triển còn nông nghiệp thì lạc   hậu. Chính sách công nghiệp hoá  ở  Liên Xô từ  1926 đến 1940. Mục tiêu  của cuộc cách mạng này là nhằm  xây dựng cơ  sở  vật chất kỹ  thuật cho   CNXH. Cách mạng công nghiệp hoá ở Liên Xô với đặc điểm nổi bật là đã  tập trung phát triển công nghiệp nặng ngay từ đầu.Nó được thực hiện trên  kế  hoạch hoá toàn quốc về  điện khí hoá toàn nước Nga. Nguồn vốn để  tiến hành hoàn toàn dựa vào trong nước thông qua lợi nhuận của các cơ sở  quốc doanh, từ  tiết kiệm, phát hành công trái, từ  phong trào trong nước.   Công nghiệp hoá ở Liên Xô kết thúc vào khoảng năm 1940, lúc này kinh tế  của Liên Xô có sự  mất cân đối giữa công nghiệp nặng phát triển, công  nghiệp nhẹ  kém phát triển . Do đó, trong xã hội thiếu hàng tiêu dùng .Do   tích lỹ quá cao nên gây căng thẳng cho người dân. Một số cuộc cách mạng công nghiệp gần đây như ở Trung Quốc,Đài   Loan,Hồng Kông đều có su hướng chung là tận dụng tối đa các nguồn lực   bên ngoài  và dựa vào thành tựu khoa học trên thế giới  để có thể rút ngắn   thời gian công nghiệp hoá đất nước. +Một số bài học rút ra từ các cuộc cách mạng công nghiệp trên. Công nghiệp hoá phải gắn với khoa học kỹ thuật, thành tựu khoa học  kỹ  thuật. Phải tận dụng những thành tựu khoa học  đó một cách nhanh  chóng. Phải thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đào tạo đội ngũ những người  nghiên cứu. Xây dựng CNH phải tuân thủ  những nguyên tắc từ thấp đến cao, từ  công nghiệp nhẹ  đến công nghiệp nặng. Nhưng tuỳ  điều kiện có thể  rút  ngắn một số khâu hoặc nhảy vọt một số bước. Trần Thị Chúc ­ Kiểm toán 48C 15
  16. Tiểu luận triết học CNH phải dựa trên những chiến lược lâu dài, trên toàn quốc gia, phải  đảm bảo cân đối giữa công nghiệp nhẹ  và công nghiệp nặng, giữa công  nghiệp và nông nghiệp, giữa thành thị và nông thôn. Phải xây dựng hệ thống giao thông trên toàn quốc gia, để có thể khai  thác tài nguyên  ở  tất cả  các vùng, để  tận dụng những thuận lợi  ở  từng   vùng, để phát triển cân đối ở tất cả các vùng để thúc đẩy trao đổi hàng hoá  trong nước và ra nước ngoài.  Cần có cách huy động vốn cho hiệu quả, phải huy động cả vốn trong  và ngoài nước. II.THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CNH­HĐH Ở VIỆT NAM 1.NHỮNG THÀNH TỰU ĐàĐẠT ĐƯỢC TRONG SỰ  NGHIỆP CNH­ HĐH Ở VIỆT NAM NHỮNG NĂM QUA Trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân ta đã tiến  hành CNH­HĐH nước nhà và thu được rất nhiều thắng lợi trong đó phải  kể đến là:  ­Đối với ngành nông lâm ngư  nghiệp đã có những bước phát triển   vượt bậc: Nước ta từ  chỗ  chưa tự  cung tự  cấp được lương thực phải nhập  khẩu nay không những đáp  ứng đủ  mà còn đứng thứ  hai trên thế  giới về  xuất khẩu. Bình quân lương thực là 360kg/người năm 1995 đến năm 2000  là   444kg/người.   Năm   2006   giá   trị   sản   xuất   nông,   lâm,   ngư   đạt   5.4%.  Chuyển dịch cơ  cấu nông thôn có nhiều tiến bộ  góp phần làm tổng sản  phẩm trong nước khu vực nông, lâm, ngư tăng 2.77%. Sản xuất cây công nghiệp tăng nhanh theo hướng xuất khẩu thay thế  nhập khẩu hình thành vùng sản xuất gắn với chể biến nông sản. Diện tích   cây cao su tăng 9.5%, sản lượng tăng 37.6%. Diện tích hồ  tiêu tăng 83.2%,  sản lượng tăng87.8%. Diện tích điều tăng 44.3%, sản lượng tăng 205.3%.  Diện tích chè tăng35.3%,sản lượng tăng 54.9%.Diện tích cây ăn quả  tăng  1,4 lần. Diên tích bông tăng 42.5%, sản lượng tăng 57.4%. Diện tích đậu   tương tăng 47.1%, sản lượng tăng 62.2%. Hơn 90% diện tích lúa, 80% diện tích ngô,60% diện tích mía, 100%  diện tích điều sử dụng giống mới, phương pháp canh tác mới. Giá trị  sản xuất công nghiệp khu vực nông nghiệp tăng bình quân 5  năm tăng16.75%/năm. Trong đó đồng bằng sông Hồng tăng 23.6%, duyên  hải miền trung tăng16.92%,Đông Nam Bộ  tăng 21.53%, đồng băngd sông   Cửu Long tăng 16.82%.  Nghề  nuôi trồng đánh bắt thuỷ  sản tăng khá. Sản lượng thuỷ  sản   năm 2000 đạt trên 2 triệu tấn , xuất khẩu đạt 1.475 triệu USD. Trần Thị Chúc ­ Kiểm toán 48C 16
  17. Tiểu luận triết học Công tác trồng rừng, bảo vệ rừng có nhiều tiến bộ. Trong 5 năm 1.1  triệu ha rừng được bảo vệ; 9.3 triệu ha rừng có khoáng nuôi tái sinh 700000  ha, độ che phủ tăng từ 28.2% năm 1995 lên 33% năm 2000. Chúng ta đã xây dựng xong căn bản hệ thống kênh mương để có thể  tưới tiêu cho nông nghiệp. Bước đầu đã đưa máy móc hiện đại vào trong  sản xuất nông nghiệp làm tăng năng suất. ­ Đối với ngành công nghiệp và xây dựng: Năm 2006 công nghiệp và xây dựng chiếm 41.52% GDP, tốc độ tăng  trưởng giá trị gia tăng của khu vực công nghiệp và dịch vụ là 10.37% trong   đó công nghiệp 10.18%. Giá trị sản xuất toàn ngành 2006 là 409.819 tỷ đồng tăng 17%. Cơ  cấu công nghiệp chuyển dịch theo hướng phù hợp hơn với nền  kinh tế  thị  trường  định hướng xã hội chủ  nghĩa kinh kinh tế  nhà nước  31.8% giảm 2.3% so với năm 2005; kinh tế  ngoài quốc doanh là 30% tăng  1.7% so với năm 2005; vốn đầu tư  nước ngoài là 38.2% tổng giá trị  sản   xuất. Nhiều sản phẩm công nghiệp chủ  yếu phục vụ  cho sản xuất,  tiêu  dùng và xuất khẩu năm 2006 đều tăng như  điện tăng 13.4%, apatit tăng  21.4%, than tăng 18%, thép tăng 25% 6/8 vùng kinh tế  và 42/64 địa phương đạt tốc độ  cao   lớn hơn tốc   tăng bình quân trong cả  nước :Vĩnh Phúc là 25.6%, Bình Dương là 25.3%,  Hà Tây là 23.3%, Hải Dương  23.2%, Cần Thơ là 22%, Đồng Nai là 22%;  kim ngạch xuất khẩu:39.6 tỷ  USD tăng 22.1%; kim ngạch công nghiệp là  30.12 tỷ tăng 22.4% bằng 76.1%; tỷ lệ công nghiệp chiếm 52%; kim ngạch  cả nước và 68.2% kim ngạch xuất khẩu công nghiệp. Cả nước ra đời 4 tập  đoàn kinh tế mạnh như: dầu khí ,điện lực ,than khóang sản, dệt may vượt   31.4% sản lượng doanh nghiệp với tổng số vốn điều lệ là 5973.5 tỷ  Năm 2006, các doanh nghiệp lên sàn chứng khoán đạt kỷ  lục chiếm  14% số lượng doanh nghiệp và 32.54% tổng giá trị niêm yết Nguồn vốn đầu tư  trực tiếp thu được (FDI)  là 79.7 tỷ  USD. Dự  án  cấp mới với số  vốn đầu tư  7.5 tỷ  USD, trong đó  công nghiệp chiếm 490  dự án bằng 61.5% tổng dự án 5.05 tỷ USD. Chúng ta đã tiếp nhận công nghệ  mới,trang bị  thêm nhiều thiết bị  hiện   đại   đáp   ứng   nhu   cầu   phát   triển   trong   lĩnh   vực   xây   dựng   và   công  nghiệp .Có thể  đảm đương việc thi công những công trình thi công lớn  hiện đại về  công nghệ  , năng lực đấu thầu các công trình xây dựng kể  cả  trong nước và ngoài nước được tăng cường. ­Đối với ngành dịch vụ   Từ  năm 2000 đến năm 2006, giá trị  dịch vụ  tăng 6.8%/ năm. Du lịch  phát triển đa dạng, phong phú. Chất lượng dịch vụ  được tăng lên, tổng  doanh thu dịch vụ tăng 9.7%/ năm Trần Thị Chúc ­ Kiểm toán 48C 17
  18. Tiểu luận triết học Dịch vụ  vận tải đáp  ứng nhu cầu giao lưu hàng hoá và đi lại của   nhân dân khối lượng hàng hoá luân chuyển tăng 12%/ năm và luân chuyển  hành khách tăng 5.5%/ năm. Các dịch vụ tài chính kiểm toán ngân hàng được mở rộng ­Văn hoá ­xã hội  có  những  tiến bộ  ,đời sống nhân dân  đựơc  cải   thiện.  Quy mô giáo dục và đào tạo có bước phát triển cả  về  quy mô lẫn  hình thức đào tạo và cơ sở vật chất .Quy mô giáo dục đào tạo tiếp tục tăng  ở tất cả các bậc học ,ngành học đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Nước ta đã chuẩn quốc gia về xoá mù chữ và phổ cập tiếu học . Một  số tỉnh thành phố  đã bắt đầu thực hiện phổ cập trung học cơ sở .Trình độ  dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên , phong trào học tập   văn hoá, khoa học kỹ  thuật nghiệp vụ  quản lý... vv... Phát triển số  sinh  viên trên một vạn dân vào năm 2000 là 117 sinh viên . Số  năm đi học của  dân  là 7,3/ năm . Cơ  sở  vật chất hạ  tầng cho giáo dục  được phát triển.  Trong lớp được mở rộng về số lượng lẫn loại mô hình đào tạo. Mạng lưới   các trường đại học ,cao đẳng được mở rộng và sắp xếp lại . Khoa học công nghệ  có bước chuyển biến tích cực cụ  thể  là: khoa  học xã hội và nhân văn bắt đầu cung cấp được các luận cứ khoa học phục  vụ yêu cầu hoạch định chính sách, chiến lược quy hoạch và  phát triển kinh  tế  xã hội và đổi mới cơ  chế  chính sách . Công tác nghiên cứu khoa học   được   đẩy mạnh   nên đã có nhiều đề  tài có tác dụng lớn trong việc phát  triển kinh tế xã hội . Số lượng đội ngũ nhà khoa học gia tăng nhanh.  Các hoạt động văn hoá nghệ thuật báo chí xuất bản phát triển  Nhu cầu cần thiết của nhân dân  về  ăn mặc  ở  ,chăm sóc sức khoẻ,   nước sạch ,điện sinh hoạt, học tập ,giải trí được đáp ứng . Tạo   ra nhiều việc làm mới cho người lao động .Công tác xoá đói  giảm nghèo đã đạt được kết quả  nổi bật .Tỷ lệ hộ nghèo giảm .Các hoạt   động đền ơn đáp nghĩa,lá lành dùm lá rách ... được mở rộng  ­Quốc phòng và an ninh được tăng cường .Vì kinh tế  phát triển làm  cho ta có cơ  hội  ổn định xã hội .Quốc phòng được tăng cường về  trang  thiết bị vũ khí hiện đại . ­Quan hệ đối ngoại được mở rộng: Chúng ta đã chủ  động hội nhập kinh tế  quốc tế, ra nhập khối các  nước Đông Nam Á ASEAN, ra nhập khối diễn dàn hợp tác kinh tế  Thái  Bình Dương APEC, trở thành thành viên thứ  150 của tổ  chức thương mại  thế  giới WTO .Tăng cường quan hệ  với  các nước đang phát triển, các tổ  chức quốc tế  và khu vực .Có quan hệ  thương mại với hơn 140 quốc gia   trên thế  giới, có quan hệ  đầu tư  với 70 quốc gia và vùng lãnh thổ.Thu hút   được nhiều vốn nước ngoài đầu tư vào nước ta. ­Nông thôn có sự thay đổi rõ rệt về bộ mặt. Trần Thị Chúc ­ Kiểm toán 48C 18
  19. Tiểu luận triết học ­Thành thị ngày càng mở rộng  và rất hiện đại . 2. NGUYÊN NHÂN ĐỂ VIỆT NAM THU ĐƯỢC NHỮNG THÀNH TỰU  TO LỚN TRONG QUÁ TRÌNH CNH­HĐH Những   thành công đã đạt được trong quá trình CNH­HĐH đã từng   bước làm đổi thay bộ  mặt đất nước và đời sống nhân dân, củng cố  vững   chắc  độc lập dân tộc và chế  độ  Xã Hội Chủ  Nghĩa, nâng cao vị  thế  của   đất nước ta trên thị  trường quốc tế. Nguyên nhân chính để  chúng ta có  được điều trên là: ­Do Đảng ta không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo của đảng .Do  Đảng ta có bản lĩnh chính trị  vững vàng,đường lối hoạch định chính sách  phát triển kinh tế  xã hội đúng đắn.Từ  đó làm cho nhân dân tin tưởng vào   đương lối lãnh đạo của Đảng nên chúng ta mới có thể thu được những kết   quả to lớn trên. ­Do nhà nước đã không ngừng nâng cao năng lực điều hành quản lý.  Nó thể hiện nhà nước đã đẩy nhanh quá trình cải cách hành chính, làm cho   bộ máy trong sạch vững mạnh .Từ đó làm cho chính sách phát triển kinh tế  đi vào thực tế nhanh hơn. ­Do toàn dân, toàn quân đã phát huy được tinh thần yêu nước dũng  cảm đoàn kết nhất trí, cần cù năng động sáng tạo tiếp tục thực hiện đổi   mới ra sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. ­Do đất nước ta có một số cơsở hạ tầng như (hệ thống cầu đường,  bến cảng, hệ thống ngân hàng, bảo hiểm, hệ thống điện,...). Đây là một số  cơ sở hạ tầng thúc đẩy sản xuất phát triển. ­Do  chính sách mở cửa cho tất cả các thành phần kinh tế phát triển.Từ đó làm cho tất cả thành phần kinh tế phát huy được thế mạnh của  mình trong sản xuất .Và tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các thành phần   kinh tế  tạo ra động lực phát triển kinh tế. ­Do hệ thống trao đổi hàng hoá trong nứơc  và nứơc ngoài phát triển . ­Do chúng ta đã huy động được vốn và sử  dụng vốn có hiệu qủa  trong sản xuất .Thể  hiện chúng ta đã  huy động được vốn nước ngoài và   trong nước. ­Do chúng ta đã  ứng dụng được khoa học kỹ thuật vào đời sống ,đã  đẩy mạnh đổi mới công nghệ sản xuất .Gắn liền nghiên cứu khoa học với   sản xuất . ­Do chúng ta đã tận  dụng được lợi thế  về  điều kiện tự  nhiên , khí   hậu, các mỏ khoáng sản , sông ngòi,  đầm hồ để tận dụng vào sản xuất. Trần Thị Chúc ­ Kiểm toán 48C 19
  20. Tiểu luận triết học 3.NHỮNG MẶT HẠN CHẾ  VÀ YẾU KÉM TRONG QUÁ TRÌNH CNH­ HĐH Ở NƯỚC TA. Trong sự  nghiệp CNH­HĐH  ở  nước ta đã thu được rất nhiều thành   công to lớn .Nhưng cũng không thể  tránh khỏi những mặt hạn chế và yếu  kém.Sau đây là một số những mặt yếu kém và hạn chế lớn: ­Thứ  nhất: Đánh giá chung nền kinh tế  phát triển chưa vững chắc,   hiệu quả và sức cạnh tranh thấp. Năng suất lao động thấp, chất lượng sản   phẩm chưa tốt, giá thành cao. Nhiều sản phẩm nông nghiệp , công nghiệp   thiếu thị thường tiêu thụ cả trong nước lẫn ngoài nước. Đối với ngành nông­lâm­ngư nghiệp nhìn chung mặt yếu kém nhất là  chưa ứng dụng được nhiều thành tựu khoa học­kĩ thuật  vào  trong sản xuất , sản xuất vẫn mang tính thủ  công là chính, máy móc   vẫn chưa thay thế được cơ bản sức lao động, hiệu quả sức cạnh tranh còn  thấp .Rừng bị tàn phá nặng nề, đánh cá thì còn trên quy mô nhỏ, nuôi trồng   thuỷ hải sản vẫn mang tính tự phát ,vẫn chưa liên kết được thị trường­nhà   chế biến­nhà sản xuất và nhà nghiên cứu. Trong  công nghiệp  đầu tư  dàn trải nhà máy công nghiệp phân bố  chưa tập trung , chưa đổi mới được công nghệ , chưa có mối liên hệ vững  chắc giữa các nhà máy và xí nghiệp. Các công tuy nhà máy xí nghiệp có quy   mô nhỏ, sức cạnh tranh còn thấp . Hơn nữa các ngành công nghiệp phát  triển chưa bền vững chưa gắn kết được tiến bộ của khoa học kỹ thuật với   sản xuất. Các  ngành dịch vụ  phát triển chậm và thiếu lành mạnh , nạn buôn  lậu hàng giả, gian lận thương mại còn nhiếu làm tác động xấu đến nền   kinh tế, xã hội .Hệ thống phân phối sản phẩm chưa mạnh , trong nước chủ  yếu là hệ thống bán lẻ hộ gia đình ,ngoài nước vẫn chưa phát triển rõ ràng. Hệ thống ngân hàng tài chính còn yếu kém và thiếu lành mạnh . Cơ  cấu kinh tế  chuyển dịch chậm, cơ  cấu đầu tư  chưa hợp lý , cơ  cấu đầu tư  còn phân tán gây lãng phí và thất thoát nhiều. Nhịp độ  đầu tư  trực tiếp của nước ngoài giảm,  công tác quản lý điều hành lĩnh vực này  còn nhiều vướng mắc và thiếu sót. ­Thứ  hai: một số  vấn đề  văn hoá xã hội bức xúc và gay gắt chậm  giải quyết. Tỷ  lệ  thất nghiệp  ở  thành thị  và thiếu việc làm  ở  nông thôn còn  ở  mức cao  đang là một trong những vấn đề nổi cộm nhất của xã hội . Chất  lượng  giáo  dục  và  đào  tạo  thấp  so  với  yêu  cầu.  Nội  dung  ,  mục  tiêu,  Trần Thị Chúc ­ Kiểm toán 48C 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản