
TÌM HIỂU HÌNH TƯỢNG THẦN
CIVA TRONG NGHỆ THUẬT
ĐIÊU KHẮC ĐÁ CHAMPA
1. Mở đầu:
Ấn Độ giáo du nhập vào Champa từ lâu đời. Bia ký đầu tiên tìm thấy tại vùng đất
Panturankar (Quảng Nam-Đà Nẳng) là bia Bvadravacmani (thế kỷ IV) xác định sự
ảnh hưởng văn hoá và tôn giáo Ấn Độ vào vùng đất này. Tuy nhiên quá trình tiếp
thu văn hoá cũng chính là quá trình bản địa hoá (Champa hoá) các yếu tố văn hoá
ngoại lai để hình thành nên văn hoá Chăm đặc sắc, mang đậm dấu ấn bản địa. Đặc
biệt Ấn Độ giáo khi vào Champa đã bị biến thành một loại tôn giáo riêng theo quan
niệm của người Chăm. Các vị thần cũng được gọi bằng những tên Chăm: thần Civa
(thần Huỷ Diệt) được gọi là thần Pônintri, thần Vishnu (thần Bảo Tồn) – thần
Pôpachơn, thần Brahma (thần Sáng Tạo) – thần Pôdêpadrơn. Trong đó thần Civa
được người Chăm đề cao và được coi là vị thần linh tối cao. Vai trò của vị thần này
được phản ánh đậm nét trong nghệ thuật điêu khắc đá Champa.
Năm 1866, De la Grandière, toàn quyền Đông Dương cho thu thập những cổ vật của
các dân tộc trên bán đảo Đông Dương. Hội Nghiên cứu Đông Dương (Societe des
Etudes Indochinoises, thành lập năm 1885) tập trung nhiều nhà nghiên cứu người
Pháp quan tâm đến các vấn đề Đông Dương và Viễn Đông. Nhưng việc nghiên cứu
điêu khắc đá Champa chỉ được bắt đầu từ năm 1889, khi mà hai nhà nghiên cứu
người Pháp là A.Barth và Bergaine tiến hành khảo cứu và dịch các minh văn khắc

trên các bia đá Champa. Nhiều năm sau đó, các học giả Pháp bắt đầu tập trung
nghiên cứu Champa một cách toàn diện, không chỉ về văn hoá, nghệ thuật mà cả về
lịch sử. Trong những thập niên cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, người Pháp đã xây
dựng một đội ngũ nghiên cứu chuyên sâu khá đồng bộ, đứng đầu là L.Finot (giám
đốc Trường Viễn Đông Bác Cổ) và H.Parmentier (kiến trúc sư kiêm nhà khảo cổ
học) cùng với các nhà nghiên cứu khác như E.M.Durand; A.Barth, A.Bergaigne;
E.Aymonier; P.Pelliot; G.Maspéro v.v. với hàng loạt công trình đăng tải trên tạp
san của Trường Viễn Đông Bác Cổ (Bulletin de É cole Francaise d’Extrême Orient).
Có thể kể một số công trình: L.Finot với La religion des Chams d’après le
monuments (Tôn giáo của người Chàm sau những đền đài); Notes
de’pigraphie (Những nét về minh văn); Une trouvaille arche’ologique au temple de Po
Naga à Nha Trang (Một khám phá khảo cổ học tại đền Pô Naga ở Nha Trang).
H.Parmentier với: Scultures Căme de Tourane (Điêu khắc Chàm ở Đà Nẵng)
và Sculptures Căme conservee’ à Huế (Những điêu khắc Chàm được bảo quản ở
Huế). Cadière với: Monument et souvenirs Chams du Quang Tri et du Thua
Thien (Đền đài và những kỷ niệm Chàm ở Quảng Trị và Thừa Thiên), La statue et
les autres sculptures Chàm de Giam Bieu,(Những tượng và điêu khắc Chàm ở Giám
Biều), Sculptures Chames de Xuan HoaLa statuaire du Champa-recherches sur les
cultes et iconographie(Tượng Champa nghiên cứu về thờ cúng và tiếu tượng
học). (Điêu khắc Chàm ở Xuân Hoà). Đặc biệt phải kể đến công trình của Boisselier công
bố năm 1963,
Trước đây ở miền Nam Việt Nam cũng có một vài bài viết mang tính chất thông báo
như: Tân Việt Điểu với bài viết Ảnh hưởng và di tích Chiêm Thành trong văn hoá
Việt Nam; Đỗ Thuận: Sự tích vua Pô Klong Garai hay sự tích tháp Chàm; Nguyễn
Văn Luận: Vua Pô Rômê trong lịch sử và tín ngưỡng của người Chăm.
Sau năm 1975, văn hoá Chăm được nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm.
Trước tiên phải kể đến tác phẩm Khảo cổ học Champa- quá khứ và tương lai của
Nguyễn Duy Hinh, Văn hoá Chăm Pa của Ngô Văn Doanh,Người Chăm ở Thuận

Hải do Phan Xuân Biên chủ biên. Các công trình của Cao Xuân Phổ như Người
Chàm và điêu khắc Chàm, Điêu khắc Chàm, của giáo sư Lương Ninh như Vài nét về
văn hoá Chăm, Lịch sử Việt Nam tập 1,…
Để viết bài này, chúng tôi đã phân tích nhiều tác phẩm điêu khắc Champa tại Bảo
tàng LSVN, Bảo tàng Lịch sử TPHCM, Bảo tàng Điêu khắc Chăm (Đà Nẳng),…
2. Những đề tài tiêu biểu về thần Civa trong điêu khắc Champa
2.1. Civa được thể hiện dưới dạng nhân hình
Trong điêu khắc đá Champa, Civa được thể hiện dưới dạng hình mạnh mẽ của một
nam thần có con mắt thứ ba giữa trán, đầu đội mũ Jata-Mukuta đính nhiều đồ
trang sức hoặc kiểu mũ Kirita-Mukuta chạm trổ cầu kỳ (những đầu tượng Civa tại
Bảo tàng Lịch sử TP.HCM). Song cũng có trường hợp thể hiện thần có đeo một mặt
trăng hình luỡi liềm trên búi tóc. Ba con mắt của thần tượng trưng: mặt trời (ban
ngày), mặt trăng (ban đêm), con mắt thứ ba giữa trán tượng trưng cho thế gian.
Thần có thể thấu thị quá khứ, hiện tại và tương lai. Những biểu hiện khác về tiếu
tượng học (iconography), thần Civa cũng được thể hiện dưới nhiều hình dạng khác
nhau, có khi thần được thể hiện có rất nhiều tay và cưỡi trên lưng con bò thần
Nandin cầm vũ khí biểu trưng là cây đinh ba lửa hay tượng Civa tay cầm một chiếc
rìu, có khi khoác trên người một tấm da hổ, từ động tác chân đến mái tóc của thần
v.v. đều là những biểu trưng cho hành động và biểu hiện khác nhau của Civa. Có
khi thần Civa còn được thể hiện dưới dạng một nhà tu khổ hạnh với bộ râu dài, tay
cầm chuỗi tràng hạt, đang trong tư thế ngồi chân trái gác lên chân phải, lòng bàn
chân để ngửa (kiểu ngồi này thường được các nhà nhiên cứu gọi là kiểu ngồi Ấn Độ-
Yoga) như các tượng ở Mỹ Sơn, Khương Mỹ, Bình Định và nhiều nơi khác nhưng
dưới dạng hình người biểu hiện toàn vẹn nhất của Civa được gọi với tên là
Natraraja (vua Vũ đạo). Hình tượng này có thể thấy qua số bức phù điêu thể hiện
nét mềm mại, uyển chuyển dị thường của thần Civa trong vũ điệu Tanvada (vũ điệu

vận hành vũ trụ) như các phù điêu trên mi cửa đền Ponaga (Nha Trang), đền
Poklong-Giarai (Phan Rang). Đây là hình thức biểu trưng cho quyền năng tuyệt đối
của Civa và là biểu hiện hoàn hảo nhất về thần Civa. Những nét biểu hiện đặc trưng
về thần Civa cũng cần kể đến là mái tóc rối bời của thần là tượng trưng cho dòng
chảy của sông Hằng (thần thoại Ấn Độ cho rằng nguyên dòng sông Hằng vốn chảy ở
trên trời nhưng nhờ Civa điều tiết cho chảy xuống trần gian để rửa sạch tội lỗi cho
loài người); hình trăng lưỡi liềm trên búi tóc của Civa là biểu tượng của vật lấy từ
trong cuộc “Khuấy Biển Sữa” giữa các thần và loài quỉ để tìm thuốc trường sinh.
Chúng tôi cũng thấy một số pho tượng và phù điêu ở Bảo tàng Chàm – Đà Nẳng lại
thể hiện vòng hoa bằng sọ người đeo trên cổ Civa hay treo trên đầu gậy mà thần
Civa cầm. Con rắn được đeo choàng qua thân (sợi dây thiêng Bà La Môn); mặc áo
choàng của thần có khi bằng da hổ; tay cầm rìu hoặc chân dẫm lên lưng người lùn
(quỉ lùn)… Các hình tượng này có lẽ liên quan với những truyền thuyết về thần
Civa trong các trận chiến chống lại phe tà giáo.
Hình thức Civa múa trong vòng lửa với: tay cầm trống tượng trưng cho sự sáng tạo;
bàn tay giơ thẳng tượng trưng cho sự bảo tồn; lửa là tượng trưng cho sức mạnh huỷ
diệt để sáng tạo thế giới mới; cánh tay uốn vòng và chỉ vào cái chân đạp đất là chỗ
dựa của tâm hồn mà tâm hồn ấy đang bị hệ lụy về tiền kiếp; cái vòng lửa mà Civa
đang múa là chính trong đó Civa đã tập trung tất cả sức mạnh vật chất của tạo hoá,
sức mạnh đó là cả một cuộc tuần hoàn vô tận.
Civa đứng múa trong cái vòng lửa ấy, đầu, tay, chân chấm với vòng lửa hình cánh
cung tạo nên một sự chan hoà giữa vật chất và tinh thần.
Thần Civa (theo nghĩa tiếng Phạn là “tốt lành”) là một trong ba vị thần chính của
Ấn Độ giáo. Thần cũng là một trong ba ngôi tối linh (tam vị nhất linh). Từ quan
điểm đó phát sinh ra những trường phái khác nhau, có phái thờ thần Civa, phái thờ
thần Vishnu, phái thờ thần Brahma. Thần Civa được mệnh danh là thần Huỷ Diệt,
theo quan điểm “thần luận”, chính sự huỷ diệt của Civa là sự huỷ diệt cái cũ để sáng

tạo nên cái mới. Do vậy, người ta coi thần Civa như là thần Sáng Tạo, và có chức
năng coi đầu sinh và đầu tử.
Theo thần thoại nguyên thuỷ, hình thức khởi đầu của Civa là cột lửa hình Linga
(dương vật). Hình tượng Civa được tôn thờ với nhiều hình thức khác nhau: dưới
dạng nhân hoá (hình người) và dưới dạng biểu tượng Linga hoặc Mukhalinga (siêu
nhân).
Trong dòng thờ ba vị thần tối thượng của Ấn Độ giáo, có lẽ người Chăm cổ tôn sùng
thần Civa hơn cả. Các văn bia cổ khắc chữ Phạn (Sanskrit) trong thung lũng Mỹ
Sơn đã tôn Civa là “chúa tể của muôn loài”, “là cội rễ của nước Champa”. Thần
Civa thường được thờ dưới ngẫu tượng sinh thực khí nam giới. Trong 128 bia ký
quan trọng của Champa mà hiện nay được biết, thì có 92 thuộc Civa giáo, 5 nói về
Brahma, 7 nói về Phật, 3 nói về Vishnu, 21 không rõ. Cho đến nay đã có hai đầu
tượng Civa bằng vàng được tìm thấy tại Quảng Nam, nhưng vẫn chưa tìm thấy một
tượng nào của các vị thần khác làm bằng chất liệu quí như vậy. G.D. Hall, tác giả
quyển Lịch Sử Đông Nam Ácũng cho rằng thuỷ quân Java đã có lần đến cướp một
pho tượng thần chủ (Civa) bằng vàng to hơn người thật ở đền Panduranga (Phan
Rang).
Ngoài ra các tác phẩm điêu khắc trong các tháp Chăm cũng tập trung thể hiện
những đề tài liên quan đến thần Civa như: đỉnh tháp mô phỏng hình tượng Linga,
tượng trưng cho cái “trục Vũ trụ” hay đỉnh Kalaisa – nơi ngự trị vĩnh cửu của thần
Civa. Vị thần chủ được người Chăm thờ trong tháp là Civa, còn các đề tài khác liên
quan đến Civa đều được thể hiện chi tiết bên ngoài bờ tường, trên các tầng tháp.
Thần Brahma được thể hiện rất mờ nhạt trong điêu khắc và tôn giáo của người
Chăm. Còn Vishnu thì chỉ được xem như thần Bảo Vệ (Dvapala) cho các đền tháp.
Chính những yếu tố Civa khiến nhà nghiên cứu người Pháp là Maspéro đã gọi
những tháp Chăm là những “Vạn Thần Miếu của Civa giáo”. Các quốc vương
Champa thường tự đồng nhất mình với thần Civa. Thậm chí cả nữ thần Mẹ Pô
Nagar cũng được thờ như một Sakti (âm lực) của thần Civa. Như vậy rõ ràng là

