
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
DIỆP THẮNG
NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI ĐỘ LỌC CẦU
THẬN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở NGƯỜI HIẾN THẬN
Chuyên ngành: Khoa học Y sinh (Sinh lý học)
Mã số: 9720101
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Cần Thơ, năm 2026

Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. THÁI MINH SÂM
2. PGS.TS. TRẦN THÁI THANH TÂM
Phản biện 1: …………………………………………
Phản biện 2: …………………………………………
Phản biện 3: …………………………………………
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường
họp tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
vào hồi giờ ngày tháng năm 2026
Có thể tìm hiểu Luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

1
GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1. Lý do và tính cần thiết của nghiên cứu
Ghép thận từ người hiến sống là nguồn tạng quan trọng
trong cộng đồng; trong bối cảnh thiếu hụt nguồn thận ghép, đây
được xem là một giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu ghép thận ngày
càng tăng. Người hiến thận sống thường là những người khỏe
mạnh, tự nguyện chấp nhận rủi ro để cứu giúp bệnh nhân hoặc
người thân, mà không mong đợi lợi ích gì từ việc hiến tặng. Hiến
thận an toàn, ít rủi ro ngắn hạn, nguy cơ tử vong sau phẫu thuật
(0,03%) tương đối thấp. Tuy nhiên, nguy cơ dài hạn đối với người
hiến thận chưa được làm rõ hoàn toàn. Nhằm kiểm soát nguy cơ
cho người hiến thận, khuyến cáo của KDIGO năm 2017 (The
Kidney Disease Improving Global Outcomes) đề nghị sử dụng
độ lọc cầu thận (Glomerular Filtration Rate: GFR) để đánh giá
chức năng thận trước khi hiến và theo dõi sau khi hiến thận.
Tại Việt Nam, ghép thận được thực hiện đầu tiên vào năm
1992. Đến năm 2022, cả nước có 23 trung tâm ghép, trong đó
ghép thận được thực hiện nhiều nhất (92,7%) và ghép từ người
hiến thận sống chiếm 96,2%. Mặc dù số lượng ghép thận từ người
hiến sống ngày càng tăng, các báo cáo trong nước về diễn tiến độ
lọc cầu thận trong nhiều năm sau hiến và các yếu tố liên quan còn
hạn chế. Việc xác định mức độ biến đổi độ lọc cầu thận và yếu
tố liên quan có ý nghĩa quan trọng trong tư vấn trước hiến, theo
dõi sau hiến và chăm sóc lâu dài cho người hiến thận sống. Vì
vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu biến đổi độ lọc cầu
thận và một số yếu tố liên quan ở người sau hiến thận”.

2
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Xác định độ lọc cầu thận theo các công thức ước đoán
(eGFR) và độ lọc cầu thận đo được (mGFR) bằng phương pháp
chụp xạ hình thận 99mTc-DTPA ở người hiến thận sống trước
khi hiến.
2.2. Đánh giá sự biến đổi độ lọc cầu thận ước đoán (eGFR) khi
hiến thận sống.
2.3. Khảo sát một số yếu tố liên quan đến sự biến đổi độ lọc cầu
thận ước đoán (eGFR) khi hiến thận sống.
3. Những đóng góp của nghiên cứu
Đây là nghiên cứu đầu tiên trong nước khảo sát sự biến đổi
độ lọc cầu thận ở người sống sau hiến thận cũng như một số yếu
tố liên quan. Nghiên cứu góp phần cung cấp thông tin về chức
năng thận trước khi hiến và sau khi hiến thận 1 tháng, 6 tháng, 1
năm, 3 năm, 5 năm và 7 năm. Ngoài ra, qua việc khảo sát mối
tương quan và độ chính xác của các công thức ước đoán eGFR
với mGFR đo bằng xạ hình thận, nghiên cứu cho thấy giá trị các
công thức ước đoán trong đánh giá độ lọc cầu thận trước khi hiến
thận. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sự biến đổi độ lọc cầu
thận theo giới tính, tuổi, BMI, tình trạng huyết áp, mGFR trước
hiến và eGFR 6 tháng sau hiến. Ngoài ra, nghiên cứu xác định
được một số yếu tố liên quan sự thay đổi độ lọc cầu thận, đồng
thời xây dựng các phương trình định lượng ∆eGFR tại các mốc
thời gian 1 năm, 3 năm, 5 năm và 7 năm sau hiến thận, có ý nghĩa
thực tiễn trong theo dõi và tư vấn cho người tình nguyện hiến
thận sống.

3
4. Bố cục của luận án
Luận án dài 119 trang, gồm: mở đầu 2 trang, tổng quan tài
liệu 29 trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 23 trang, kết
quả nghiên cứu 31 trang, bàn luận 31 trang, kết luận và kiến nghị
3 trang. Luận án có 37 bảng, 4 hình ảnh và 9 biểu đồ. Tài liệu
tham khảo gồm 121 tài liệu, trong đó có 16 tài liệu tiếng Việt,
105 tài liệu tiếng Anh và 45 tài liệu được công bố từ năm 2020.
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về hiến thận sống trong ghép thận
1.1.1. Tình hình hiến thận từ người hiến sống trên thế giới và
tại Việt Nam
Ghép thận ở Việt Nam được thực hiện lần đầu vào năm 1992
tại Bệnh viện Quân Y 103, sáu tháng sau, Bệnh viện Chợ Rẫy
cũng ghép thận thành công. Từ đó, Bệnh viện Chợ Rẫy không
ngừng nỗ lực phát triển và giữ vai trò tiên phong trong lĩnh vực
này. Đến tháng 9 năm 2022, bệnh viện đã thực hiện 1.104 trường
hợp ghép thận, trong đó có 1.040 trường hợp từ người hiến sống
(94,2%). Tuổi trung bình người hiến là 50 tuổi, nữ chiếm 53,9%.
Trên thế giới, theo dữ liệu của Tổ chức quan sát toàn cầu về
ghép và hiến tạng (The Global Observatory on Donation and
Transplantation), mỗi năm có khoảng 90.000 trường hợp ghép
thận, trong đó khoảng 40% từ người hiến sống.
1.1.2. Đánh giá người hiến thận sống trước khi hiến
Theo KDIGO 2017, người hiến thận sống cần được kiểm tra
và đánh giá toàn diện trước khi hiến để đảm bảo thành công của
ca ghép và giảm nguy cơ bệnh thận hay biến chứng lâu dài.

