
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ THÀNH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THẨM MỸ THEO TIẾP CẬN REGGIO EMILIA
CHO TRẺ MẪU GIÁO TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC MẦM NON
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 9140114.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
HÀ NỘI – 2025

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Dương Thị Hoàng Yến
2. TS. Nghiêm Thị Đương
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án thạc sĩ họp
tại Trường Đại học Giáo dục - ĐHQGHN
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
-Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế về giáo dục (GD) đang diễn ra ở quy mô
toàn cầu tạo cơ hội thuận lợi cho hệ thống GD mỗi quốc gia, trong đó giáo dục mầm non
(GDMN) đã sớm tiếp cận những xu thế mới, mô hình, phương pháp GD hiện đại, tiên tiến. Triết
lý “Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm” được nhiều quốc gia áp dụng, hướng tới phát triển năng lực,
khả năng thích ứng và giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tiễn [2,3]; nhà giáo dục chú trọng xây
dựng môi trường học tập đa dạng, hấp dẫn, khuyến khích trẻ giao tiếp, chia sẻ và hợp tác [6].
Trong bối cảnh chung về đổi mới của GD Việt Nam đã đặt ra yêu cầu đối với GDMN là đổi mới
mục tiêu, nội dung và phương pháp GDMN [41].
Giáo dục thẩm mỹ (GDTM) là một trong 5 lĩnh vực giáo dục được đánh giá là quan trọng đối
với sự phát triển toàn diện của trẻ mẫu giáo. Lĩnh vực GDTM bao gồm âm nhạc, tạo hình, đóng kịch
có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chương trình GDMN [32].
Giáo dục Reggio Emilia là hướng tiếp cận GD sáng tạo ở bậc học mầm non (MN) của đất
nước Ý, đã lan rộng tới nhiều quốc gia với mục tiêu là hướng đến phát triển các tiềm năng của trẻ
em, tăng cường các hoạt động trải nghiệm, tổ chức các hoạt động GD dựa trên thuyết kiến tạo nhằm
phát triển toàn diện các mặt cho trẻ. [23, 61, 136].
Tại Việt Nam, tiếp cận Reggio Emilia trong GDMN là một trong những hướng tiếp cận
GDMN quốc tế, có nhiều ưu điểm, giúp các cơ sở GDMN thực hiện đầy đủ các yêu cầu về
đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp GDMN. Tuy nhiên, để vận dụng hướng tiếp cận
Reggio Emilia trong GDMN có hiệu quả, CBQL của cơ sở GDMN cần phải có kiến thức nền
tảng về triết lý và các yếu tố cốt lõi của hướng tiếp cận này [43].
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về GDTM hoặc giáo dục theo tiếp cận Reggio Emilia trong
GDMN, song các công trình về quản lý hoạt động GDTM theo tiếp cận Reggio Emilia vẫn còn
hạn chế, đặc biệt tại Việt Nam. Việc vận dụng Reggio Emilia đòi hỏi người quản lý có tầm nhìn,
năng lực thiết kế chương trình, tổ chức môi trường và kết nối cộng đồng, trong khi cơ sở lý luận
và công cụ quản lý vẫn còn thiếu. Từ trải nghiệm cá nhân trong đào tạo và lĩnh vực nghệ thuật,
tôi nhận thấy nhu cầu đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý GDTM ở các cơ sở GDMN là rất cấp
thiết. Chính điều đó thôi thúc tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục thẩm
mỹ theo tiếp cận Reggio Emilia cho trẻ mẫu giáo tại các cơ sở giáo dục mầm non”, với mong
muốn góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và đề xuất các giải pháp phù hợp với bối cảnh đổi mới
GDMN hiện nay? Bởi đó là những vấn đề còn bỏ ngỏ, cần được nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Luận án hướng tới mục tiêu nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động GDTM theo tiếp cận Reggio
Emilia và cách thức quản lý hoạt động GDTM theo tiếp cận Reggio Emilia tại các cơ sở GDMN.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát đánh giá thực tiễn về quản lý hoạt động GDTM cho trẻ
mẫu giáo tại các cơ sở GDMN theo tiếp cận Reggio Emilia, đề xuất các giải pháp quản lý và thử
nghiệm tính khả thi của giải pháp, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động GDTM theo tiếp cận
Reggio Emilia và quản lý hoạt động GDTM theo tiếp cận Reggio Emilia cho trẻ mẫu giáo tại các
cơ sở GDMN trong bối cảnh đổi mới GDMN và hội nhập quốc tế tại Việt Nam.

2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động GDTM theo tiếp cận Reggio Emilia cho trẻ mẫu giáo tại
cơ sở GDMN.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động GDTM theo tiếp cận Reggio Emilia cho trẻ mẫu
giáo tại các cơ sở GDMN.
4. Câu hỏi nghiên cứu
Hiện nay hoạt động GDTM và quản lý hoạt động GDTM theo tiếp cận Reggio Emilia cho
trẻ mẫu giáo tại các cơ sở GDMN được thực hiện như thế nào? Có những yếu tố nào ảnh hưởng
đến quản lý hoạt động GDTM cho trẻ mẫu giáo theo tiếp cận Reggio Emilia? Cần có những giải
pháp quản lý nào để nâng cao hiệu quả hoạt động GDTM theo tiếp cận Reggio Emilia cho trẻ
mẫu giáo ở Việt Nam, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ tại các cơ sở GDMN trong bối
cảnh đổi mới GDMN và hội nhập quốc tế tại Việt Nam hiện nay?
5. Giả thuyết khoa học
Hoạt động GDTM theo tiếp cận Reggio Emilia tại các cơ sở GDMN hiện nay vẫn còn hạn
chế về nội dung và phương thức quản lý, do năng lực tổ chức và phối hợp của đội ngũ chưa
đồng đều. Việc xây dựng và triển khai hệ thống giải pháp quản lý có cơ sở khoa học, phù hợp
thực tiễn sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động GDTM trong bối cảnh đổi mới và hội nhập
giáo dục hiện nay.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về tiếp cận Reggio Emilia; Hoạt động GDTM theo tiếp cận
Reggio Emilia và quản lý hoạt động GDTM theo tiếp cận Reggio Emilia cho trẻ mẫu giáo tại các
cơ sở GDMN. 6.2. Khảo sát và đánh giá thực trạng về hoạt động GDTM; quản lý hoạt động
GDTM và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDTM theo tiếp cận Reggio Emilia cho
trẻ mẫu giáo tại các cơ sở GDMN. 6.3. Đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động GDTM theo tiếp
cận Reggio Emilia cho trẻ mẫu giáo tại các cơ sở GDMN. 6.4. Khảo nghiệm và thử nghiệm các
giải pháp quản lý hoạt động GDTM theo tiếp cận Reggio Emilia cho trẻ mẫu giáo tại các cơ sở
GDMN.
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
7.1. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu tại các cơ sở GDMN theo tiếp cận
Reggio Emilia tại TP. Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, bao gồm 60 cơ sở GDMN.
7.2. Giới hạn về khách thể khảo sát, khảo nghiệm
Tiến hành khảo sát, lấy ý kiến, phỏng viên các chuyên gia; cán bộ cấp Sở; Phòng GD&ĐT
(trước khi thực hiện chính quyền 2 cấp 1/7/2025; CBQL; giáo viên; phụ huynh tại 60 cơ sở
GDMN thuộc Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh. Các cơ sở GDMN này trong hệ thống công
lập và ngoài công lập. Địa bàn khảo sát bao gồm vùng thành phố, nông thôn của cả 3 địa
phương.
8. Luận điểm bảo vệ
Quản lý hoạt động GDTM theo tiếp cận Reggio Emilia cho trẻ mẫu giáo là một lĩnh vực mới
trong GDMN Việt Nam. Luận án tập trung làm rõ thực trạng và giải pháp quản lý hoạt động này
trong bối cảnh đổi mới và hội nhập, thông qua các nội dung: mức độ hiểu biết của CBQL và
GVMN về triết lý và các yếu tố cốt lõi của hướng tiếp cận Reggio Emilia như: “Hàng trăm ngôn
ngữ của trẻ”; cách thức tổ chức, triển khai và phối hợp trong quản lý hoạt động GDTM; những

3
yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý; và hệ thống giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng
GDTM theo tiếp cận Reggio Emilia trong điều kiện thực tiễn hiện nay.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THẨM MỸ THEO TIẾP
CẬN REGGIO EMILIA CHO TRẺ MẪU GIÁO
TẠI CƠ SỞ GIÁO DỤC MẦM NON
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu về hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo
Trong hơn nửa thế kỷ qua, GDTM được xem là một lĩnh vực trọng yếu của GDMN, góp
phần nuôi dưỡng cảm xúc, hình thành nhân cách và khơi dậy năng lực sáng tạo của trẻ. Các nhà
tư tưởng như John Dewey, Howard Gardner và Loris Malaguzzi đều nhìn nhận nghệ thuật không
chỉ là hoạt động biểu đạt mà là một hình thức nhận thức thế giới. Cutche (2013) khẳng định:
“Thẩm mỹ và nghệ thuật được đặt ở trung tâm của chương trình giảng dạy và là vị trí then chốt
mà tất cả các chương trình khác đều tỏa sáng” [46, tr.6]. Quan điểm này cho thấy GDTM giữ vai
trò kết nối, không tách rời với các lĩnh vực giáo dục khác trong GDMN.
Nhiều công trình quốc tế và trong nước đã làm rõ vai trò của GDTM đối với sự phát triển
toàn diện của trẻ. Amanda Paige Smith (2007) khi áp dụng tinh thần Reggio Emilia vào chương
trình âm nhạc đã chứng minh trẻ phát triển khả năng sáng tạo, hợp tác và tư duy phản biện qua
trải nghiệm âm thanh, ánh sáng và hình ảnh [47]. Tại Việt Nam, Nguyễn Thị Nhung (2007) và
Phạm Thị Hòa (2009) đều khẳng định âm nhạc là phương tiện nuôi dưỡng xúc cảm và trí tưởng
tượng, giúp trẻ bộc lộ cảm xúc một cách tự nhiên [29; 21].
Theo Olga Denac (2014), qua nghiên cứu thực nghiệm với trẻ, cô nhận ra rằng trẻ “nói
nhiều hơn”, “suy nghĩ sâu hơn” khi được tham gia vào quá trình tạo hình hơn là hoàn thiện sản
phẩm [110]. Alexander & cs (2020) viết: “Vẽ là một trong những loại hình nghệ thuật của trẻ em
dễ tiếp cận nhất và hấp dẫn nhất. Ngay cả những đứa trẻ không có năng khiếu nghệ thuật cũng
sớm tỏ ra thích thú với việc vẽ, chúng sẵn sàng vẽ mỗi ngày” [45, tr.1743]. Nguyễn Quốc Toản &
cs (2007) cho rằng hoạt động tạo hình “ẩn chứa năng lượng sáng tạo sẵn có trong mỗi đứa trẻ, chỉ
cần môi trường phù hợp để được thể hiện” [34], còn Vũ Dương Công & cs (2020) nhấn mạnh
rằng nghệ thuật giúp trẻ “thể hiện cảm xúc tốt đẹp qua sản phẩm sáng tạo” [14].
Giáo dục thông qua đóng kịch (hay sân khấu hóa, đóng vai) trong GDTM
cho trẻ mầm non đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển ngôn ngữ,
cảm xúc, tư duy sáng tạo và kỹ năng xã hội của trẻ. Theo Vygotsky, khi trẻ chơi giả vờ
(pretend play), trẻ thực hiện những hành động vượt quá mức phát triển thực tế của mình,
vì thế, chơi trở thành nguồn gốc của sự phát triển, chứ không phải kết quả của phát triển
[132]. Susan Davis (2013), Hà Nguyễn Kim Giang (2002) và Vũ Thị Ánh Ngọc (2015) xem là
con đường phát triển ngôn ngữ, cảm xúc và kỹ năng xã hội cho trẻ thông qua hóa thân và nhập
vai [124; 18; 27].

