Triều đại Trn Nhân Tông (1258 - 1308)
Trần Nhân Tông là vvua thứ 3 triều Trần.
Tên thật là Trần Khâm sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ 1258. Quê hương
Tức Mạc, Phủ Thiên Trường nay là xã Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh
Nam Định. Ông là con trưởng vua Trần Thánh Tông, được cha truyền ngôi năm
1279 lúc 21 tuổi.
Công lao lớn nhất của Trần Nhân Tông là đã lãnh đạo quân dân Đại Việt hai lần
đánh thắng hai cuộc xâm lược tàn bạo của đế quốc Mông Cổ vào năm 1258
năm 1288.
Tháng 12 - 1281 vua Nguyên sai Thái tử Thoát Hoan đem 50 vạn quân sang xâm
lược nước ta, cùng 10 vạn quân của Toa Đô từ Chiêm Thành đánh ra. Thái
Thượng Hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông cùng Trần Hưng Đạo đã
lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh tan quân xâm lược Mông Cổ, với những chiến
thắng lẫy lừngChương Dương, Hàm Tử, Tây Kết, Vạn Kiếp... Chỉ trong vòng
nửa năm cuộc xâm lược lần II của quân Nguyên đã bị thất bại hoàn toàn.
Sau hai lần thua nhục nhã, vua Nguyên đình chỉ cuộc xâm lăng Nhật Bản, dốc toàn
bộ sức lực sangm lược Đại Việt lần thứ III. Năm 1287 vua Nguyên sai Thoát
Hoan dẫn 50 vạn quân cùng rất nhiều tướng lĩnh giỏi sang xâm lược nước ta. Dưới
sự lãnh đạo của vua Trần Nhân Tông với thiên tài chhuy của Trần Hưng Đạo Đại
Vương, chúng ta đã đánh bại cuộc xâm lược này, tiêu biểu là trận quyết chiến
chiến chiến lược trên sông Bạch Đằng. Giữ vững nền độc lập của tổ quốc. Dập tắt
mộng xâm lăng của một đế quốc hùng mạnh nhất thế giới ở thế kỷ 13.
Ngoài chiến thắng quân Mông Cổ, Trần Nhân Tông còn trực tiếp cầm quân dẹp
giặc Ai Lao ở biên giới phía Nam.
Dưới triều đại Nhân Tông, quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, tôn giáo... ở nước
ta đều thịnh trị. Vua Trần Nhân Tông biết chăm lo nghiệp lớn an dân, cải tiến chế
độ thi cử, trọng dụng hiền tài, khuyến khích thơ văn chữ Nôm.
Năm 1293 Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Trần Thuyên để làm Thái
Thượng Hoàng. Năm 1298 ông lên chùa núi Yên Tử để tu hành, chuyên tâm
nghiên cứu đạo Phật. Ông là vị khai tổ của phái Trúc Lâm Thiền Tông của nước
ta.
Trần Nhân Tông là vvua mẫu mực trí, dũng, nhân vẹn toàn. Một nhà văn hoá,
nhà thơ lớn. Các sử gia đánh giá ông " nhân từ, hoà nhã, tài trí, đảm lược, uy vọng
quyết đoán, hết lòng vì dân vì nước, sự nghiệp chống giặc Nguyên còn sống mãi
muôn đời, làm vẻ vang cho dân tộc".
Nhng tác phẩm chính : Đại hương hải ấn thi tập - Tăng già toái sự - Thạch thất
mỵ ngữ - Thiền lâm thiết chuỷ ngữ lục - Trần Nhân Tông thi tập - Trung hưng
thực lục...
Năm 1308 Trần Nhân Tông qua đời tại am Ngọc Vân trên núi Yên Tử. Ở ngôi 14
năm, thọ 50 tuổi. Ngày nay ở thành ph Nam Định có một đường phố lớn dọc
Sông Đào mang tên Trần Nhân Tông.
Niên hiệu: Thiệu Bảo (1279 - 1284) Trùng Hưng (1285 - 1293)
1. VIỆC CHÍNH TRỊ. Thái tử Trần Khâm lên làm vua, tức là vua Nhân Tông.
Lúc bấy giờ sứ nhà Nguyên đi lại hạch điều này, trách điều nọ, triều đình cũng có
lắm việc bối rối. Nhưng nhờ có Thánh Tông thượng hoàng còn coi mọi việc mà
các quan triều đình nhiều người có tài trí, vua Nhân Tông lại là ông vua thông
minh, quả quyết, mà người trong nước thì từ vua quan cho chí dân sự đều một
lòng cả, cho nên tnăm Giáp Thân (1284) đến năm Mậu Tí (1288) hai lần quân
Mông Cổ sang đánh phá mà rồi không làm gì được.
Trừ việc chiến tranh với Mông Cổ ra, để sau sẽ nói, trong đời vua Nhân Tông lại
còn có giặc Lào, thường hay sang quấy nhiễu ở chỗ biên thuỳ, bởi vậy năm Canh
Dần (1290) vua Nhân Tông lại phải nggiá đi đánh Lào.
2. VIỆC VĂN HỌC. Đời vua Nhân Tông có nhiều giặc giã, tuy vậy việc văn học
cũng hưng thịnh lắm. Xem bài hịch của Hưng Đạo Vương, thơ của ông Trần
Quang Khải và của ông Phạm Ngũ Lão thì biết là văn chương đời bấy giờ có k
lực mạnh mẽ lắm.
Lại có quan Hình bộ Thương thư là ông Nguyễn Thiên khởi đầu dùng chữ Nôm
mà làm thơ phú. Ông Nguyễn Thiên là nguời Thanh Lâm(1) , tỉnh Hải Dương, có
tiếng tài làm văn như ông Hàn Dũ bên Tàu ngày xưa, bởi vậy vua cho đổi họ là
Hàn. Về sau người mình theo lối ấy làm thơ, gọi là Hàn luật.
Năm Quí Tị (1293) Nhân Tông truyền ngôi cho Thái tử là Thuyên, rồi về Thiên
Trường làm Thái thượng hoàng. Nhân Tông trvì được 14 năm, nhường ngôi đuợc
14 năm, thọ 50 tuổi.
----------------------------------------------------------------
Vua Trần Nhân Tông - Anh hùng dân tc kiêm triết gia, thi sĩ
Trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai và ba, vua Trần
Nhân Tông (1258 - 1308) đã trthành ngọn cờ tinh thần "kết chặt lòng dân", lãnh
đạo quân dân Đại Việt đánh tan kẻ thù ln mạnh gấp bội. Trần Nhân Tông còn là
một triết gia lớn của Phật học Việt Nam, là người sáng lập ra phái Thiền Trúc Lâm
Yên Tử, đồng thời là nhà thơ với tâm hồn thanh cao, phóng khoáng.
Trần Nhân Tông tên là Khẩm, con trưởng Thánh Tông, sinh năm 1258, đúng năm
Thái Tông và Thánh Tông đánh tan quân xâm lược Nguyên - Mông lần thứ nhất.
Nói đến Trần Nhân Tông trước hết là nói đến người anh hùng cứu nước. Ông làm
vua 14 năm (1279 - 1293). Trong thi gian ấy, đất nước Đại Việt đứng trước thử
thách ghê gớm: hiểm họa xâm lược lần thứ 2 và th3 của giặc Nguyên-Mông.
Trong 2 lần kháng chiến, Trần Nhân Tông đã trở thành ngọn cờ "kết chặt lòng
dân", lãnh đạo quân dân Đại Việt vượt qua bao khó khăn, đưa cuộc chiến đấu tới
thắng lợi huy hoàng. Qua 2 cuộc kháng chiến, Trần Nhân Tông đã tỏ rõ ông vừa là
nhà chiến lược tài giỏi, vừa là vị tướng cầm quân dũng cảm ngoài chiến trường.
Chính vào giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến năm 1285, khi quân ta đang còn
thế không cân sức với đối phương, Trần Nhân Tông đã viết lên đuôi chiến thuyền
2 câu thơ đầy khí phách và nim tin vào sức mạnh tiềm tàng của quân ta:
Cối kê cựu sự quân tu ký,
Hoan diễn do tồn thập vạn binh.