
TRUYỆN KỂ DANH NHÂN LỊCH SỬ
TRUNG QUỐC
Trần Thắng và Ngô Quảng dựng cờ khởi nghĩa
Tần Thủy Hoàng đã hao công tốn của vào việc xây đắp trong nhiều năm, nhằm
xây dựng Trường Thành, nhà vua đã huy động hàng triệu dân phu và binh sĩ, đồng
thời còn điều động 700 nghìn tù nhân đi xây dựng cung A Phòng, một cung điện
hào hoa tráng lệ nhất lúc bấy giờ. Năm 210 trước công nguyên, Tần Thủy Hoàng
băng hà trên đường đi thị sát, con trai thứ 18 là Hồ Hợi lên nối ngôi, tức Tần Nhị
Thế, dưới sự dung túng và lường gạt của tên gian thần Triệu Cao, Hồ Hợi lại càng
thêm táo tợn hơn, đã điều động mấy trăm nghìn dân phu và thợ đá đi xây dựng
lăng mộ Tần Thủy Hoàng, lăng mộ còn chưa xây xong, lại điều mấy trăm nghìn
dân phu và tù nhân đi xây dựng mở rộng cung A Phòng. Bấy giờ dân số cả nước
chưa đầy 20 triệu, mà số lao dịch và binh dịch đã chiếm hơn 3 triệu người, làm
lãng phí biết bao nhân lực và tài lực, phá hoại sản xuất nông nghiệp, nhân dân
không được nghỉ ngơi dưỡng sức nên vô cùng căm tức.
Năm 209 trước công nguyên, đất Dương Thành bị điều động hơn 900 người đi
Ngư Dương trấn giữ biên cương, nhằm quản lý số người này, hai tên quan quân áp
giải đã chọn hai người binh phu mẫn cán làm đồn trưởng để giúp việc, một người
tên là Trần Thắng người Dương Thành, còn một là Ngô Quảng người Dương Hạ.
Hai người vốn không quen biết nhau, nhưng vì cùng là đồng hành và cùng là đồn
trưởng, nên họ đã trở thành đôi bạn thân.
Đường từ Dương Thành tới Ngư Dương dài mấy nghìn dặm, bấy giờ đang là mùa
mưa, đường bị ngập nước lầy lội rất khó đi, mà theo pháp lệnh thời bấy giờ, nếu
không đến tập trung đúng thời hạn thì số người này tất bị giết chết. Nhưng khi
đoàn người đến xã Đại Trạch thì trời mưa tầm tã, đường đi bị nước cuốn trôi
không còn lối đi, họ đành phải vào nghỉ trong một ngôi miếu hoang để đợi mưa
tạnh rồi tiếp tục đi. Nhưng nào ngờ trận mưa này kéo dài tới mười mấy hôm. Trần
Thắng biết đã bị nhỡ thời hạn, bèn lén bàn với Ngô Quảng rằng: "Nơi này cách
Ngư Dương còn rất xa, dù có tạnh mưa thì cũng chẳng đến kịp, lẽ nào chúng ta cứ
chịu giương cổ để người ta chặt ư ?". Ngô Quảng nói: " Hay là chúng ta trốn đi
còn hơn là đâm đầu vào chỗ chết". Trần Thắng nói: "Chạy trốn mà bị chúng bắt
được thì cũng bị giết chết, chi bằng ta làm phản còn hơn, nếu không thành công thì
cùng lắm cũng là chết chứ gì". Ngô Quảng đồng ý, rồi hỏi Trần Thắng nên bắt đầu
từ đâu. Trần Thắng suy nghĩ hồi lâu rồi đáp rằng: " Nghe nói vua Tần Nhị Thế là
con út của Tần Thủy Hoàng, hắn đã đoạt vương vị của anh cả là Phù Tô, mà Phù

Tô là một người trung hậu nhân nghĩa, rất có uy tín trong nhân dân, mọi người còn
chưa biết Phù Tô phải chăng đã bị hại. Còn Hạng Yến là một danh tướng nước Sở,
từng lập nhiều chiến công và được người nước Sở rất kính trọng, hiện cũng chẳng
ai biết ông ta còn sống hay đã chết. Nay ta giả mượn danh nghĩa của hai người
này, kêu gọi người nghèo trong thiên hạ cùng làm phản, người nước Sở nhất định
sẽ hưởng ứng". Ngô Quảng vô cùng tán thành, rồi hai người cùng mật bàn kế sách
với nhau.
Ngày hôm sau, người đầu bếp đi chợ mua về một con cá, khi mổ cá ra thì thấy bên
trong có một miếng vải lụa, trên viết ba chữ "Trần Thắng Vương" bằng son đỏ,
mọi người đều kháo nhau về việc này. Đêm hôm đó, trên bụi cây cạnh miếu bỗng
có ánh sáng lượn lờ như ma chơi, rồi nghe tiếng con cáo nhại tiếng người kêu to:
"Đại Sở hưng, Trần Thắng vương". Mọi người nghe vậy đều hú vía, họ bàn tán
xôn xao và cho rằng đây là trời sai Hồ Tiên đến báo tin, nên ngày hôm sau họ
cùng kéo nhau đến xem mặt Trần Thắng, thấy tướng mạo Trần Thắng na ná như
chân long thiên tử, thêm vào đó Trần Thắng thường ngày đối xử tốt với mọi
người, nên họ càng thêm kính trọng Trần Thắng.
Chiều tối hôm đó, Ngô Quảng nhân thấy hai tên quan quân áp giải say rượu liền
nói với họ rằng: "Nay dù sao cũng đã quá hạn rồi, vậy xin hai ông hãy để chúng
tôi về ", hai người nghe vậy vô cùng tức giận, một người vung roi quất vào mặt
Trần Thắng, còn một người rút kiếm ra chỉ chỏ hăm dọa, mọi người thấy vậy đều
xô tới, Trần Thắng thấy vậy liền nhanh tay đoạt lấy thanh kiếm rồi đâm chết hắn,
còn tên kia cũng bị Ngô Quảng đánh chết.
Trần Thắng và Ngô Quảng thấy mọi người đã đồng lòng với nhau, bèn quyết định
lập tức khởi nghĩa, ông cử một tốp người vào rừng đẵn gỗ chặt tre để làm khí giới,
còn một tốp đào đất đắp đàn tế, khâu một lá cờ trên viết một chữ Sở to bằng cái
đấu, rồi mọi người cùng làm lễ ăn thề, Trần Thắng và Ngô Quảng được bầu làm
thủ lĩnh, đoàn người nhanh chóng đánh chiếm được xã Đại Trạch, nông dân các
nơi nghe tin, người thì đem lương thực đến úy lạo, kẻ thì vác mai cuốc đến tham
gia quân khởi nghĩa, khiến số người tăng lên đông gấp mấy lần, Trần Thắng đổi
hiệu xưng vương ở huyện Trần và lập quốc hiệu là "Trương Sở".
Sau khi Trần Thắng và Ngô Quảng dựng cờ khởi nghĩa, các nơi trong cả nước đều
tới tấp hưởng ứng, một cuộc khởi nghĩa lớn của nông dân nhằm chống lại triều nhà
Tần, đã triển khai rầm rộ tại vùng Trung Nguyên.
Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Nguyên
Sau khi Tần Vương Chính giết chết Kinh Kha thích khách của nước Yến, trong
lòng vô cùng bực tức, bèn tăng quân cho cha con Vương Tiễn, ra lệnh phải gấp rút
tấn công nước Yến, Thái tử Đan dẫn quân ra chống cự, nhưng đâu phải đối thủ của
quân Tần, quân Tần nhanh chóng đánh chiếm được Kế Thành thủ đô nước Yến,
vua nước Yến và Thái tử Đan buộc phải chạy trốn sang Liêu Đông, Tần Vương
Chính chỉ huy quân bám đuổi theo, vua Yến chẳng còn cách nào khác, đành phải
giết chết Thái tử Đan để chuộc tội và cầu hòa với nước Tần.

Tần Vương Chính hỏi mưu sĩ Liêu Úy nên giải quyết ra sao thì Liêu Úy trả lời
rằng: "Nay hai nước Hàn Ngụy đã bị thôn tính, vua nước Yến chạy trốn sang Liêu
Đông cũng đã cùng đường bí lối, nay trời đã trở lạnh, chi bằng đem quân đánh
xuống miền nam để thu phục hai nước Ngụy và Sở ".
Tần Vương Chính nghe theo, bèn lệnh cho Vương Quý dẫn 100 nghìn đại quân
tiến xuống miền nam tấn công nước Ngụy, quân Ngụy chống đỡ không nổi phải
lui về cố thủ ở Đại Lương, rồi cầu cứu với nước Tề, nhưng Vua Tề không chịu
sang cứu, thủ đô nước Ngụy bị quân Tần khơi nước sông Hoàng Hà vào làm ngập
lụt, vua Ngụy bị bắt sống và nước Ngụy từ đó bị diệt vong.
Năm sau, nước Tần lại chuẩn bị tấn công nước Sở, Tần Vương Chính mới hỏi đại
tướng Lý Tín đánh Sở phải dùng bao nhiêu binh mã, Lý Tín trả lời là 200 nghìn,
nhà vua lại quay sang hỏi lão tướng Vương Tiễn, thì Vương Tiễn đáp rằng: "Sở là
một nước lớn đất rộng người đông, theo ý thần thì phải là 600 nghìn quân mới đủ".
Tần Vương Chính nghe vậy nghĩ bụng: "Vương Tiễn đã cao tuổi rồi nên nhát gan,
thêm vào đó hai cha con ông ta đang nắm binh quyền, sau này nhỡ xảy ra việc gì
thì sao?". Do đó, nhà vua quyết định cử Lý Tín và Mông Điềm dẫn 200 nghìn
quân tiến đánh nước Sở. Vương Tiễn thấy nhà vua không tin ở mình, bèn yêu cầu
cáo lão hoàn hương, Tần Vương Chính cũng nhân đà này liền nhận lời thỉnh cầu
của ông.
Khi vua Sở được tin quân Tần tiến đánh, vội vàng cử đại tướng Hạng Yến thống
lĩnh 200 nghìn quân ra chống cự, quân Sở do thông thuộc địa hình, đã chia quân
làm 7 đường mai phục tại những nơi hiểm yếu, do quân Tần suốt ngày đêm hành
quân vất vả, lại bị mai phục đánh bất ngờ, nên bị tổn thất nặng nề, buộc phải rút
quân về. Bấy giơ vua Tần mới biết ý kiến của Vương Tiễn rất đúng đắn, nhà vua
liền cách chức Lý Tín, rồi cho người đi mời Vương Tiễn về triều, trao cho 600
nghìn quân lại lần nữa tấn công nước Sở, Vương Tiễn dùng chiến thuật đánh chắc
tiến chắc, từng bước lấn tới chiếm được núi Trung Sơn rồi chốt giữ ở đó, mặc cho
quân Sở nhiều phen đến thách đánh nhưng vẫn đóng chặt cửa trại không ra, hai
bên cứ cầm cự nhau được hơn một năm. Hạng Yến lầm tưởng Vương Tiễn là một
ông già nhút nhát, nên đã lơ là việc canh phòng. Nhưng chính vào lúc này, 600
nghìn quân mã nước Tần được nghỉ ngơi dưỡng sức, đột nhiên như nước vỡ bờ
tràn sang trận tuyến quân Sở, quân Sở trở tay không kịp, chỉ chống đỡ rời rạc được
một lúc, rồi toàn tuyến phòng ngự bị phá vỡ. Quân Tần thừa thắng đuổi một mạch
đến chiếm được Thọ Xuân, bắt sống được vua Sở. Vương Tiễn lại ra lệnh cho
quân sĩ đóng thuyền vượt qua sông Trường Giang truy kích tàn quân Sở, tướng Sở
Hạng Yến thấy nước Sở đã hoàn toàn thất bại liền rút kiếm tự sát. Vương Tiễn lại
ra lệnh cho con là Vương Quý dẫn quân lên miền bắc, tiêu diệt được nước Yến và
thế lực tàn dư của nước Triệu, đến lúc này 6 nước Sơn Đông chỉ còn lại mỗi nước
Tề mà thôi.
Vua nước Tề xưa nay không dám đắc tội với nước Tần, có việc gì xảy ra nếu
không liên quan tới mình, thì đều giả câm giả điếc, từ chối cử binh sang giúp các
nước, vì ông cho rằng nước Tần ở cách xa nước Tề, mình cứ an phận thủ thường

là được rồi, nhưng đến khi nhà vua nhìn thấy 5 nước kia lần lượt bị nước Tần thôn
tính, mới vội vàng cử quân ra canh phòng ở biên giới thì đã quá muộn.
Năm 221 trước công nguyên,Vương Quý dẫn 100 nghìn đại quân đánh vào nước
Tề, nước Tề thân cô thế cô, không nơi nào chịu đến cứu, nên mấy ngày sau quân
Tần chiếm được Lâm Truy, bắt sống được vua Tề. Quân Tần thi hành chiến lược
cận công viễn giao và liên hoành v v, nên đã hóa giải được khối liên hợp của 6
nước Sơn Đông, chỉ trong 10 năm đã tiêu diệt gọn 6 nước và thống nhất Trung
Nguyên.
Sau khi thống nhất được Trung Nguyên, nhằm tăng cường sự thống trị của trung
ương, Tần Thủy Hoàng đã lập ra một loạt chế độ chuyên chế phong kiến; Thống
nhất tiền tệ và đơn vị đo lường; Xây dựng Trường Thành, và trở thành tượng trưng
trong lịch sử lâu đời của dân tộc Trung Hoa, là người có đóng góp trong việc làm
ổn định khu vực Trung Nguyên, đảm bảo sản xuất và đời sống của nhân dân vùng
Trung Nguyên. Nhưng mặt khác, Tần Thủy Hoàng cũng rất hao công tốn của
trong việc xây dựng; Thi hành chế độ binh dịch rất hà khắc; Đốt sách và chôn sống
các nhà nho v v, khiến quần chúng nhân dân vô cùng căm phẫn, nên sau khi ông
mất đã nổ ra cuộc khởi nghĩa rầm rộ của nông dân, lật đổ ách thống trị tàn bạo của
triều nhà Tần.

