Vắcxin ngừa viêm gan B: kinh nghim từ nước
ngoài
Nguyễn Văn Tuấn
Trong một tháng qua đã 4 trường hợp trẻ em mới sinh bị tử vong sau
khi tiêm vắcxin ngừa viêm gan B. lđây là scố nghiêm trọng nhất trong hơn
20 năm triển khai chương trình phòng chống viêm gan B nước ta. Đứng trên
phương diện y tế công cộng chương trình tiêm vắcxin ngừa viêm gan B thcứu
sống rất nhiều người. Tuy nhiên, trước những sự cố nghiêm trọng trên, lcần
phải rà soát lại phác đồ tiêm ngừa và kiểm định chất lượng của vắcxin để tránh
tai nạn đáng tiếc. Bài viết này trình bày một vài kinh nghiệm từ nước ngoài v
chương trình tiêm vắcxin ngừa viêm gan B hi vọng sẽ cung cấp cho đồng
nghiệp trong nước vài thông tin có ích.
Viêm gan B một bệnh nguy hiểm, là nguyên nhân dẫn đến các bệnh mãn
tính như gan, ung thư gan tvong. Tuy ung tgan thường thấy bệnh
nhân 40 tuổi trở lên, nhưng ở những vùng có t lệ viêm gan cao như Đông Nam Á,
ung thư gan cũng được phát hiện khá nhiều trẻ em vthành niên. Nghiên cứu
Đài Loan cho thấy gần 100% trẻ em ung thư gan là do viêm gan B [1].
Theo ước tính của Tổ chức y tế thế giới, có khoảng 350 triệu người (tức 5%
dân sthế giới) bị nhiễm viêm gan B. Khong 25% những bệnh nhân này s bị
một số bệnh nguy him như gan ung tgan [2] nguyên nhân của hơn 1
triệu tử vong hàng năm trên thế giới [3].
nước ta, theo một nghiên cứu gần đây, khoảng 13% trẻ em mới sinh (9
đến 18 tháng) và 18% trem tuổi từ 4 đến 16 bị nhiễm viêm gan B [4]. Ngay cả ở
độ tuổi vị thành niên và trưởng thành (trên 25 tuổi), tỉ lệ viêm gan B cũng khoảng
20%. Các tlệ này khá cao so với các nước đã phát triển, nhưng tương đương với
tỉ lệ ở các nước Đông Nam Á và Nam Mĩ.
Viêm gan B thphòng ngừa bằng cách tiêm chủng vắcxin. Bởi vì phn
lớn trẻ em bị nhiễm thường mẹ với viêm gan B, cho nên một trong những biện
pháp phòng ngừa viêm gan hữu hiệu nhất là tiêm vắcxin cho trẻ em mới sinh.
Chương trình y tế này được Tổ chức y tế thế giới khuyến khích trong nhiều m
qua, đã triển khai thành công 150 nước trên thế giới, kể cả nước ta. Ngay c
Mĩ, năm 1991 chính phủ phát động chương trình tiêm ngừa viêm gan B cho tr
em sơ sinh trên toàn quốc.
Kinh nghiệm ở nước ngoài
Điểm qua y văn trên thế giới, thể nói rằng vắcxin ngừa viêm gan B rất
an toàn, và đã đem lại lợi ích sức khỏe cho nhiều triệu người trên thế giới. Tính t
năm 1982 cho đến nay, đã hơn 2 tỉ liều lượng vắcxin ngừa viêm gan B sdụng
trên toàn cầu. Nhiều nghiên cứu cho thấy hiệu quả của vắcxin lên đến 95% đã
góp phần lớn vào việc phòng chống viêm gan B trên bình diện thế giới. Đài
Loan, chương trình tiêm vắcxin ngừa viêm gan B được triển khai toàn quốc t
năm 1984 được xem là một trong những nước thành công nhất trong việc ngăn
ngừa bệnh này. Theo nghiên cứu của Đài Loan, chtrong vòng 10 năm sau khi
triển khai chương trình tiêm chủng, tỉ lệ trẻ em mới sinh với viêm gan B giảm t
10% xuống còn 1%. Trong cùng thi gian, tỉ lệ ung thư gan trẻ em giảm gần
50% [5,6].
Tuy nhiên, bất cứ chương trình y tế nào, an toàn cnào đi nữa, khi
áp dụng cho một quần thể lớn, đều thể gây ra một số tai nạn và scngoài d
đoán. Đã báo khoa học cho thấy các bệnh sau đây được ghi nhận sau khi tiêm
vắcxin ngừa viêm gan B: vm khớp xương, vẩy nến (psoriasis), suy giảm thị lực,
suy cơ bắp hay liệt, triệu chứng cảm lạnh, rối loạn gan, viêm y thần kinh
(neuritis), rối loạn thận, viêm ngoại m mạc cấp tính (acute pericarditis), rối loạn
hthống hấp, hội chứng Guillain-Barré [7]. Gần đây, nghiên cứu cho rằng
tiêm vắcxin ngừa viêm gan B có thliên quan đến bệnh đa cứng dây thần kinh
(multiple sclerosis) [8], trước thông tin này, b trưởng y tế Pháp quyết định
ngưng chương trình tiêm ngừa cho trẻ em tuổi từ 11-12, nhưng cho phép tiếp tục
tiêm ngừa trẻ sem sơ sinh nguy bị nhiễm cao (như mẹ bị nhiễm viêm gan
B). Một số nhóm trên thế giới chống chương trình tiêm vắcxin cũng có nhiều phát
biểu đề nghị ngưng chương trình y [9]. Trước những dữ liệu trên, Viện Y
khoa Mĩ thành lập một y ban chuyên môn để điều tra và nghiên cứu về hiệu quả
và tác hại của tiêm vắcxin ngừa viêm gan B. Sau nhiều tháng nghiên cứu và điểm
qua y văn, họ đi đến kết luận rằng không mối liên h nào giữa vắcxin ngừa
viêm gan và các bệnh trên.
Mĩ, song song với việc triển khai chương trình tiêm vắcxin, họ còn thiết
lập một hệ thống báo động để ghi nhận tất cả các báo cáo liên quan đến phản ứng
hay scố liên quan đến tiêm vắcxin ngừa viêm gan B. Phân tích sliệu từ h
thống dữ liệu này cho thấy tính từ 1991 đến 1998, 18 trẻ em tuổi từ 0 đến 28
ngày t vong sau khi tiêm vắcxin ngừa viêm gan B. Phân tích chi tiết nguyên
nhân t vong cho thấy 12 trường hợp chết do đột t (sudden infant death
syndrome hay SIDS), 3 trường hợp do nhiễm trùng, 1 trường hợp do xuất huyết
não, và 1 trường hợp không rõ nguyên nhân [10].
nước ta, chỉ trong vòng 4 tuần qua, đã 4 trem thiệt mạng sau khi
tiêm vắcxin ngừa viêm gan B. đó những sự cố nghiêm trọng, nhưng không
nên phản ứng theo cảm tính mà ngưng chương trình tiêm ngừa. Hiện nay, chưa có
bằng chứng nào trên thế giới để kết luận rằng tiêm vắcxin ngừa viêm gan B trực
tiếp gây tác hại đến sức khỏe trẻ em.
Lợi nhiều hơn hại
Đứng trên phương diện y tế công cộng, chương trình tiêm vắcxin phòng
ngừa viêm gan B vẫn đem lại lợi ích nhiều hơn tác hại. Nếu số trẻ em mới sinh
hàng m nước ta là 1,5 triệu, thể ước tính rằng số trẻ em mới sinh nhiễm
viêm gan B khoảng 202.000 (tức khoảng 13%). Nếu không tiêm vắcxin, số trẻ
em này smắc bệnh khi trường thành, khoảng 15% đến 25% sẽ bị chết vì các
bệnh mãn tính liên quan đến gan và ung thư gan [11]. Nhưng tiêm vắcxin lúc mới
sinh th xóa bỏ khoảng 90% đến 95% các trường hợp viêm gan B [12],
thể cứu sống cho hơn 38.000 người.
Tuy nhiên, các trường hợp tử vong mà báo chí phn ảnh trong thời gian
gần đây rất đáng quan m, vì thời gian xảy ra gần như liên tục. các scố này
rất nghiêm trọng, nhưng với tần số quá thấp, chưa thể kết luận rằng các trường hợp
này do vắcxin gây ra hay không. Những phản ảnh gần đây về những bất cập trong
h thống kiểm nghiệm và chất lượng vắcxin rất đáng quan m và cần điều tra
nghiêm chỉnh.
Ngoài ra, cần rà soát li phác đồ tiêm ngừa và qui trình thực hiện phác đồ,
cũng như phân tích nguyên nhân tvong đngăn ngừa một trường hợp thương
tâm tương ttrong tương lai. Chẳng hạn như theo phác đồ phòng ngừa nước
ngoài, không n tiêm vắcxin ngừa viêm gan B cho tr em mới sinh dưới 2 kg
ngay sau khi sinh, thchờ đến 2 tháng tuổi hay đến khi trẻ em câng nặng
trên 2 kg [13].
Ở Mĩ, theo phác đồ tiêm ngừa của do Trung tâm kiểm soát và phòng chống
bệnh (Centers for Disease Control and Prevention), mỗi trẻ em nên được tiêm 3
liều vắcxin, theo biểu đồ dưới đây. Tuy nhiên, trem tuổi t11 đến 15 thể ch
cần 2 liều vắcxin, cách khoảng từ 4 đến 6 tháng.
Thời gian tiêm Đối tượng
Lần đầu Lần hai Lần ba
Tr em mà m bị
nhiễm viêm gan B
Trong vòng 12 gi
sau khi sinh
1 đến 2 tháng tuổi
6 tháng tuổi
Tr em mà m
không b nhiễm
viêm gan B
T lúc mới sinh
đến 2 tháng tuổi
1 đến 4 tháng tuổi
(ít nhất là 1 tháng
sau lần tiêm th
nhất)
6 đến 18 tháng
tuổi
Tr em vị thành
niên hay người lớn
Bất cứ lúc nào
1 đến 2 tnáng sau
lần tiêm đầu tiên
4 đến 6 tháng sau
lần tiêm đầu tiên
Nguồn: Tài liệu trích từ “Hepatitis B 7/1//2001” của Trung m Kiểm soát và
Phòng ngừa Bệnh (CDC), Mĩ. Website: www.cdc.gov/hepatitis.
Phác đồ này cũng khuyến cáo không nên tiêm vắcxin cho những trem hay
bất cứ ai bị dị ứng có thể đe dọa đến tính mạng, kể cả dị ứng vi men làm bánh mì,
dị ứng vắcxin, mắc bệnh có ảnh hưởng đế hệ thống miễn dịch.
Kinh nghim ở Đài Loan (nơi được xem chương trình vắcxin thành công
ngoạn mục) cho thấy các yếu tdẫn đến thành công của chương trình phòng ngừa
viêm gan B là:
squyết m của chính phủ, mà cthể là By tế và Bthông tin, cùng với
các trường đại học và bệnh viện công cũng như trong công tác tuyên
truyền và phòng chống viêm gan;