intTypePromotion=1

Văn học dân gian Điện Biên trong mối quan hệ với văn hóa tộc người

Chia sẻ: ViSasuke2711 ViSasuke2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
6
lượt xem
0
download

Văn học dân gian Điện Biên trong mối quan hệ với văn hóa tộc người

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn hóa tộc người là một hướng nghiên cứu quan trọng của ngành văn học dân gian. Điện Biên là một tỉnh biên giới miền núi phía bắc, quê hương của gần hai mươi tộc người anh em với những nét văn hóa vô cùng đa dạng, độc đáo, có giá trị, có chức năng xã hội to lớn đối với đồng bào các tộc người thiểu số.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Văn học dân gian Điện Biên trong mối quan hệ với văn hóa tộc người

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE<br /> Social Sci., 2016, Vol. 61, No. 10, pp. 34-41<br /> This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn<br /> <br /> DOI: 10.18173/2354-1067.2016-0081<br /> <br /> VĂN HỌC DÂN GIAN ĐIỆN BIÊN<br /> TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI VĂN HÓA TỘC NGƯỜI<br /> Bùi Thị Thiên Thai<br /> <br /> Viện Văn học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam<br /> Tóm tắt. Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn hóa tộc người là một hướng nghiên cứu<br /> quan trọng của ngành văn học dân gian. Điện Biên là một tỉnh biên giới miền núi phía bắc,<br /> quê hương của gần hai mươi tộc người anh em với những nét văn hóa vô cùng đa dạng, độc<br /> đáo, có giá trị, có chức năng xã hội to lớn đối với đồng bào các tộc người thiểu số. Văn học<br /> dân gian Điện Biên là một yếu tố năng động của hệ thống văn hóa đó, nó cùng sinh mệnh<br /> với văn hóa và thay đổi cùng với sự thay đổi của văn hóa. Những nét riêng không trộn lẫn<br /> với những vùng miền khác trong cả nước đã khiến văn học dân gian Điện Biên góp thêm<br /> một sắc màu, một hương vị riêng trong vườn hoa đua sắc của văn học dân gian Việt Nam.<br /> Từ khóa: Văn học dân gian, văn hóa tộc người, Điện Biên, thần thoại, truyền thuyết, dân<br /> ca.<br /> <br /> 1.<br /> <br /> Mở đầu<br /> <br /> Nhận thức về việc phải nghiên cứu văn học dân gian trong mối quan hệ với văn hóa và văn<br /> hóa dân gian vốn xuất phát từ ý thức về tính nguyên hợp (syncrétique) của văn học dân gian – một<br /> trong những đặc trưng cơ bản nhất của văn học dân gian mà từ các nhà nghiên cứu văn học dân<br /> gian Xô-viết như Crápxốp, Guxép cho đến các nhà lí luận văn học dân gian Việt Nam như Chu<br /> Xuân Diên, Đinh Gia Khánh, Lê Chí Quế, Đỗ Bình Trị. . . đều không ngừng nhấn mạnh. Sau khi<br /> ngành Văn hóa dân gian (Folklore học) ra đời, nghiên cứu văn học dân gian được coi là một bộ<br /> phận hữu cơ của văn hóa dân gian, đó chính là bộ phận nghệ thuật ngôn từ hay còn gọi là folklore<br /> ngữ văn. Sự phát triển đầy sinh sắc của ngành khoa học Văn hóa dân gian đã có những ảnh hưởng<br /> không nhỏ đến các xu hướng phát triển mới của nghiên cứu văn học dân gian truyền thống. GS.TS.<br /> Nguyễn Xuân Kính [1], PGS.TS Nguyễn Thị Huế [2], PGS.TS. Trần Thị An [3]. . . đều đã quan<br /> tâm đến vấn đề này và có những gợi dẫn đáng chú ý. Theo chúng tôi, việc mở ra một con đường<br /> mới cho văn học dân gian từ văn hóa học sẽ khiến cho ngành nghiên cứu truyền thống này của<br /> chúng ta khai thác được nhiều hơn sức hấp dẫn riêng có và khẳng định được vị trí vững chắc của<br /> nó trong rừng khoa học nhân văn đương đại.<br /> Trong bối cảnh chung của nghiên cứu văn học dân gian, phải nhận thấy rằng, việc sưu tầm<br /> văn học dân gian Điện Biên nói riêng, Tây Bắc nói chung được khởi động khá muộn. Mặc dù từ<br /> thế kỉ XVIII, chúng ta đã có những cuốn sách đầu tiên đề cập đến vùng đất này và đầu thế kỉ XX,<br /> Ngày nhận bài: 15/5/2016. Ngày nhận đăng: 20/8/2016<br /> Liên hệ: Bùi Thị Thiên Thai, e-mail: thienthaitb@gmail.com<br /> <br /> 34<br /> <br /> Văn học dân gian Điện Biên trong mối quan hệ với văn hóa tộc người<br /> <br /> các học giả Pháp đã tiếp tục khai phá những tri thức về dân tộc học, văn hoá dân gian của các tộc<br /> người Tây Bắc, song, phải đến sau khi đất nước hòa bình, thống nhất, đội ngũ nghiên cứu, sưu tầm<br /> văn nghệ dân gian miền núi phía Bắc mới có điều kiện để tiến hành sưu tầm một cách hệ thống<br /> và để lại hàng loạt công trình có giá trị. Trong những năm qua, Điện Biên với một đội ngũ những<br /> người làm văn hóa dân gian đầy kinh nghiệm như Lương Thị Đại, Tòng Văn Hân, Đặng Thị Oanh,<br /> Chu Thùy Liên. . . đã liên tục công bố các công trình tham khảo hữu ích, tạo tiền đề để có thể nhìn<br /> văn học Điện Biên trong bức tranh tổng thể của văn học khu vực và cả nước, từ đó cũng có thể làm<br /> rõ những nét đặc trưng trong văn hóa của cộng đồng các tộc người nơi đây. Các tộc người Điện<br /> Biên có một môi trường tự nhiên và không gian văn hóa vô cùng đa dạng và độc đáo, chính môi<br /> trường đó đã thai nghén, nuôi dưỡng nên những áng thần thoại, truyền thuyết đa phong cách, trở<br /> thành những báu vật văn hóa quý báu của Việt Nam. Có thể nói rằng, nhiều đặc điểm của kho tàng<br /> văn học dân gian Điện Biên đã không có mặt trong những ghi chép của các thư tịch cổ của người<br /> Việt trong khi chúng quả thực có một giá trị vô cùng độc đáo. Đặt chân lên vùng đất “một con gà<br /> gáy ba nước đều nghe” này, đứng từ những đỉnh cao hiểm trở của dãy Pú Xam Xao chạy dọc biên<br /> giới Việt Lào hay dãy Tây Trang – cửa ngõ Điện Biên, đắm chìm trong không gian thần bí của<br /> núi rừng bao la với những thung lũng nhỏ hẹp và những thảo nguyên thẳng cánh cò bay, mới có<br /> thể hiểu được vì sao, nơi đây lại có thể ra đời những áng thần thoại, truyền thuyết kì bí và những<br /> câu ca say lòng người đến thế. Bài viết của chúng tôi sẽ phân tích thần thoại, truyền thuyết, dân<br /> ca Điện Biên trong mối quan hệ với văn hóa tộc người nhằm khẳng định: không gian văn hóa và<br /> môi trường tự nhiên độc đáo đã thai nghén và nuôi dưỡng kho tàng văn học dân gian, sơn thủy kì<br /> diệu và hư ảo của Điện Biên đã mở ra một không gian tưởng tượng, làm nảy nở đâm chồi cho thần<br /> thoại truyền thuyết ra đời đồng thời chắp cánh cho những câu ca bay bổng.<br /> <br /> 2.<br /> 2.1.<br /> <br /> Nội dung nghiên cứu<br /> Truyền thống văn hóa tộc người khởi nguồn từ huyền thoại<br /> <br /> Không phải ngẫu nhiên lịch sử Điện Biên lại bắt đầu bằng huyền thoại, những huyền thoại<br /> cổ xưa và không kém phần hấp dẫn. Đất Điện Biên vốn là nơi cư trú của loài người rất sớm. Nhiều<br /> câu chuyện thần thoại, truyền thuyết dân gian lưu hành cho đến nay nói lên điều đó. Những câu<br /> chuyện đó mô tả lại quá trình các dân tộc Tây bắc chinh phục mảnh đất lúc đầu còn hoang vu này<br /> để biến nơi đó thành một nơi loài người có thể cư trú và sinh sống ngày một đông đúc. Những câu<br /> chuyện đó được người đời sau truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác theo bước chân của họ thiên<br /> di tới khắp miền Đông Dương. Vì vậy, ngày nay mặc dù các câu chuyện trên có biến đổi đi tùy<br /> theo từng vùng dân tộc hay những địa phương khác nhau, có được thêm thắt bổ sung về chi tiết,<br /> nhưng vẫn không hề thay đổi nội dung cơ bản cổ xưa của chúng và chính nội dung đó đã giúp con<br /> cháu những dân tộc đến chinh phục đất Điện Biên buổi trái đất còn sơ khai hiểu rằng quê hương<br /> xa xưa của họ là vùng đất huyền thoại, vùng đất anh hùng.<br /> Bản thân cái tên Mường Then (Mường Thanh ngày nay) cũng đã gắn với nó rất nhiều huyền<br /> thoại: Mường Then được người dân tin rằng, đấy là mường do Then Luông tạo ra và cử các vị thần<br /> xuống để tạo lập trần gian. Then đã để con người và mọi vật vào quả bầu và thả xuống trần gian rồi<br /> cử con trai út là Khun Bó Rôm xuống trần gian để cai quản. Truyện kể dân gian của các tộc người<br /> nơi đây cũng giải thích rằng, vì Mường Then là do Then Luông tạo ra nên nơi đây có rất nhiều dấu<br /> tích từ công cuộc khai sông, mở núi, tạo dựng trần gian của các vị thần. Ở phía Bắc thung lũng<br /> Mường Then có con suối gọi là Huổi Phạ (suối Trời). Cánh đồng Mường Then là do Then Luông<br /> sai ải Lậc Cậc xuống khai phá tạo dựng. Hiện nay ở Mường Then còn nhiều dấu tích từ công cuộc<br /> khai sông mở núi kì vĩ của nhân vật khổng lồ này. Ở bản Tẩu Pung (xã Nà Tấu, huyện Điện Biên)<br /> 35<br /> <br /> Bùi Thị Thiên Thai<br /> <br /> hiện nay vẫn còn tảng đá mang hình quả bầu (Mak Tẩu Pung). Đây là dấu tích về nguồn gốc của<br /> loài người và vạn vật trên trái đất được nói tới trong huyền thoại quả bầu mẹ của các dân tộc ở<br /> Điện Biên. Truyện Quả bầu không chỉ giải thích về màu da, nơi cư trú chủ yếu của các tộc người<br /> ở Mường Then mà nó còn phản ánh sự có mặt và quá trình khai phá trên mảnh đất Mường Then<br /> của họ (Khơ Mú, Lự, Lào, Thái, Kinh....).<br /> Thần thoại, truyền thuyết Điện Biên đã tái dựng lịch sử hoang đường của đất và người xứ<br /> này: Lớp người đầu tiên được Then cử xuống trần gian sống hoang dã như loài thú. Then lại cử một<br /> lớp khác xuống. Họ sống dễ dàng, làm ít ăn nhiều. Lúa hết lúa tự về nhà, cá hết cá tự vào niêu. . .<br /> Thuở ấy, rắn già thì chết, còn con người hễ già thì lột. Lớp người này lại làm nhiều điều trái ý Then<br /> khiến Then tức giận. Một trận hồng thủy do Then gây ra đã cuốn đi tất cả. Một lớp người mới lại<br /> ra đời từ hai anh em ruột còn sót lại sau hồng thủy. Họ là người Xá, người Thái, người Lào, người<br /> Lự và người Kinh, vốn là anh em cùng chung một bọc (đồng bào) từ quả bầu mà hai anh em ruột<br /> thủy tổ loài người đã sinh ra. Ruồi trâu đã giúp họ lấy cắp lửa của Then. Vịt giúp họ quắp bớt mặt<br /> trời mặt trăng, chỉ để lại một ông mặt trời, một bà mặt trăng. Then muốn thử lòng người và muôn<br /> vật bèn giả chết. Người được Rùa mách nên bày tỏ lòng tiếc thương vô hạn, được Trời cho làm chủ<br /> muôn loài. Thuở ấy Trời và Đất còn nối với nhau bởi cây khau cát ở hồ U Va. Chỉ vì tức giận, một<br /> bà góa đã chặt đứt dây khau cát, Trời và Đất mãi mãi xa nhau. Lại một lớp người nữa, con cháu<br /> người khổng lồ ải Lậc Cậc ra đời. Ải Lậc Cậc và vợ sinh con đẻ cái, khai phá đất rừng Tây bắc<br /> thành cánh đồng tươi tốt. Nhưng mới làm ruộng được một mùa thi ải Lậc Cậc và ải Chạng Nọi thi<br /> tài không phân thắng bại. Họ kéo nhau đến xin hai chúa Xô Công phân xử. Hai chúa đang bận mải<br /> chống trời, thấy họ lại tưởng hai con ếch, bèn bẻ gãy giò bỏ vào giỏ. Thế là ải Lậc Cậc và ải Chạng<br /> Nọi đều chết. Con cháu ải Lậc Cậc lại được hai ngàn đời yên ấm, lúa ngập nương, đầy đồng. Cây<br /> nhanh lớn, vật nuôi không lo chết dịch chết toi. . . Sau hai ngàn năm, loài người lại chết hết. Then<br /> bèn sai con út Khun Bó Rôm xuống trần để cai quản trần gian. Điện Biên cũng từ đấy bước vào<br /> thời kì có sử. Tất cả những câu chuyện kể ấy chắc chắn sẽ giúp khá nhiều trong việc nâng cao hiểu<br /> biết về lịch sử của Điện Biên cũng như văn hóa của các tộc người nơi đây bởi nói như Trần Quốc<br /> Vượng: “Huyền thoại và huyền tích là những thông điệp của ngày xưa truyền tới hôm nay, trong<br /> đó có cái chân thực lịch sử đã được mã hoá, huyền hoặc hoá tới một cơ chế mật mã buộc ta hôm<br /> nay phải lần mò tìm ra cái chìa khoá giải mã họ mã hoá bằng một hệ thống những biểu tượng được<br /> liên kết bởi hệ tư duy liên tưởng. . . Bên trong cái huyền chứa đựng cái cốt lõi của sự thật lịch sử.<br /> Bóc lớp vỏ huyền thoại, huyền tích, thần linh chủ nghĩa... để tìm ra cái cốt lõi của sự thật lịch sử,<br /> giải mã hệ biểu tượng cố nhiên không phải là một việc dễ dàng, giản đơn, chỉ đơn thuần dựa vào<br /> suy luận có vẻ là hợp lí... đấy là một công phu lao động khoa học đầy khó khăn, gian khổ, được<br /> chồng chất bởi những thắng lợi vinh quang và không ít sai lầm, lạc nẻo...” [4;31-32]. Bằng việc<br /> sưu tầm ngày càng nhiều các huyền thoại cùng với việc đối chiếu, so sánh với những vùng văn<br /> hóa khác, trung thành theo đuổi phương pháp tổng hợp - liên ngành, chúng ta hi vọng sẽ "giải mã"<br /> được những huyền thoại của vùng đất độc đáo này. Ở đây, trước hết, chúng tôi nhận thấy, tương tự<br /> huyền thoại Con rồng cháu Tiên của người Việt, huyền thoại về Quả bầu đặc biệt dày đặc ở khu<br /> vực Mường Thanh của Điện Biên. Đây là một huyền thoại lưu truyền rộng rãi khắp địa bàn đất<br /> nước với hàng trăm dị bản [5], theo đó thì người Thái, Lào, Lự, Xá, Kinh đều cùng chung một quả<br /> bầu, những đấng sáng tạo đầu tiên đã dùng những dụng cụ khác nhau như dùng dao khoét, búa bổ,<br /> que nhọn cho vào lửa đỏ chọc vỏ bầu, nên những người chui ra có hình dạng khác nhau, màu da<br /> khác nhau, hình thành những tộc người như ngày nay. Người Xá Khơ mú cũng có truyền thuyết<br /> tương tự, cho rằng người Xá Khơ mú, Kháng, Puộc, Lào, Kinh đều nằm trong một quả bầu, trước<br /> khi chui ra thành những tộc người khác nhau. . . Điều đáng chú ý là thời kì văn hóa bầu bí là một<br /> giai đoạn tồn tại sớm hơn thời kì văn hóa lúa nước và tất cả các dị bản phong phú của truyện Quả<br /> 36<br /> <br /> Văn học dân gian Điện Biên trong mối quan hệ với văn hóa tộc người<br /> <br /> bầu đều gặp nhau ở một điểm: quả bầu nào cũng bao hàm cả người Việt trong đó. Đó cũng là xu<br /> hướng thống nhất có tính tất yếu trong sáng tác thần thoại của các tộc người anh em. Xu hướng đó<br /> cũng phản ánh sự quy tụ trong cùng một cộng đồng dân tộc mà người Việt là thành phần chủ thể.<br /> Những biểu tượng, cho dù được kiến tạo, vẫn là một quá trình tích hợp các yếu tố folklore, biểu<br /> hiện chiều sâu văn hóa dân tộc và phát huy một vai trò tích cực trong suốt chiều dài lịch sử của<br /> dân tộc. Nó trở thành tâm thức và căn rễ văn hóa sâu xa chi phối toàn bộ lịch sử văn học – cả văn<br /> học viết lẫn văn học dân gian, cả văn học người Việt lẫn văn học các tộc người thiểu số. Từ nhận<br /> thức khởi nguyên về loài người, về nguồn gốc tộc người trong ý niệm nguyên sơ được sinh ra từ<br /> một bọc trăm trứng của Lạc Long Quân và Âu Cơ, của bố Rồng, mẹ Tiên như trong truyện kể của<br /> người Việt hay các truyện kể về quả bầu của các tộc người khác, sự gắn kết mang tính huyết thống<br /> đã ăn sâu vào tâm thức tộc người và trở thành những biểu tượng quốc gia dân tộc, tạo nên sức hút,<br /> sức kết tinh hội tụ đối với các tộc người. Đó cũng chính là chức năng cố kết cộng đồng của huyền<br /> thoại và cũng là ý nghĩa, là giá trị trường tồn của văn hoá tộc người mà huyền thoại Điện Biên đã<br /> góp phần củng cố, phát huy nó trong đời sống thực tế.<br /> <br /> 2.2.<br /> <br /> Lịch sử văn hóa tộc người chảy suốt mạch truyền thuyết về các anh hùng<br /> dân tộc - Những cuộc đời đã hóa núi sông<br /> Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm<br /> Có nội thù thì vùng lên đánh bại...<br /> <br /> (Trường ca Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm)<br /> Mẫu hình ban đầu của những anh hùng dân tộc có lẽ chính là những anh hùng văn hóa, có<br /> công khai phá thiên nhiên, sáng tạo ra những thành tựu văn hóa có ý nghĩa trên bước đường tiến<br /> hóa của dân tộc như người khổng lồ có sức khỏe phi thường ải Lậc Cậc. . . Từ mẫu hình đó, lại<br /> được tiếp sức bởi những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm thu hút cả dân tộc, Điện Biên đã có một<br /> kho tàng truyền thuyết khá phong phú, in bóng một thời kì oanh liệt trong lịch sử mở đất và giữ<br /> đất. Đầu tiên phải kể đến Khun Bó Rôm (thủ lĩnh đầu nguồn sông Nặm Rôm) – người được cho<br /> là con út của Then được cử xuống cai quản trần gian; Truyện kể về hai con sông Nặm Rôm, Nậm<br /> U đã kể rằng, người con cả của Khun Bo Rôm vì muốn giúp đỡ người em út nên đã bắt hai dòng<br /> sông này mang nước tưới cho vùng đất của người em, chính vì thế, hai con sông này không chảy<br /> xuôi ra biển mà chảy ngược lên miền Tây (sang Lào và hòa vào sông Mê Kông).<br /> Kế tiếp Khun Bó Rôm, những vị chúa tài năng và giàu có người Lự, người Xá, người Thái. . .<br /> thuở xa xưa cũng đã tạc vào vùng đất này những dấu tích bền cùng trời đất. Các chúa Lự đã có mặt<br /> ở Điện Biên vào những thế kỉ đầu công nguyên và truyền đời được qua 19 đời chúa Lự. Các chúa<br /> Lự đã xây thành Sam Mứn (Tam Vạn) ở phía Nam cánh đồng Mường Then. Thành rất lớn, chiếm<br /> 1/5 cánh đồng Mường Then. Thành xây dựng nhằm mục đích chống lại những cuộc tiến công xâm<br /> lược của kẻ thù. Phía trước thành có hai lũy tre dài hơn ba cây số, đắp cao vượt đầu người. Cạnh có<br /> đào hào sâu nối liền hai bờ sông Nặm Núa. Có người kể rằng, thành Sam Mứn là thành chứa được<br /> ba vạn quân. Có người lại kể rằng trong thành ấy chứa được ba vạn nóc nhà, hoặc ba vạn cái cối<br /> giã gạo. Dù tình tiết khác nhau, nhưng chủ đề chính của câu chuyện đều nhằm tập trung ca ngợi<br /> quy mô to lớn, lực lượng hùng hậu của các chúa Lự.<br /> Sau các chúa Lự, vai trò của các lãnh tụ Thái nổi lên. Người Thái đến Điện Biên từ khoảng<br /> thế kỉ XI, XII. Vào khoảng thời gian này, một bộ phận tổ tiên người Thái Đen từ Mường Ôm,<br /> Mường Ai, miền đất nằm giữa sông Nậm U và sông Hồng, thuộc miền Nam – Vân Nam, do Tạo<br /> Ngần dẫn đầu thiên di xuống chiếm miền Mường Lò, Nghĩa Lộ. Đến thời con là Tạo Lò tiếp tục<br /> phát triển thế lực đến các miền xung quanh như Mường Mín (Tú Lệ), Than Uyên, Dương Quỳ, Văn<br /> 37<br /> <br /> Bùi Thị Thiên Thai<br /> <br /> Bàn ven sông Hồng. Sau đó, con út của Tạo Lò là Lạng Chượng, cầm binh đánh thắng dần các<br /> bộ tộc Nam Á từ Nghĩa Lộ qua Sơn La tới Mường Thanh. Cuộc hành trình của Lạng Chượng kết<br /> thúc, mở đầu cho giai đoạn người Thái làm chủ miền Tây Bắc nước ta [6;59].<br /> Nhiều truyện kể đã ghi lại những sự kiện lịch sử của Điện Biên giai đoạn này như Pú Lạng<br /> Chượng, Pom Loi... Lạng Chượng sau khi đã chiến thắng hầu hết các bộ tộc Nam á từ Sơn La cho<br /> tới Điện Biên, song vẫn phải để người Lự làm chủ miền Bắc cánh đồng Mường Thanh, còn Lạng<br /> Chượng dựng mường và đóng đô ở một quả đồi (sau gọi là đồi Lạng Chượng, nay là đồi A1). Vì<br /> muốn độc chiếm đất Mường Thanh, ông đã phải chấp nhận những bi kịch gia đình tàn khốc. Chính<br /> ông đã phục kích giết chết bố vợ là Ăm Poi – một chiến tướng vô địch của vùng Mường Thanh. ít<br /> lâu sau, con trai cả của Lạng Chượng không ốm đau mà tự nhiên lăn ra chết. Đêm khuya, tưởng vợ<br /> đã ngủ, Lạng Chượng đau xót khóc con và đã để lộ chuyện giết bố vợ. Nàng Ho Quảng – vợ ông<br /> – biết chuyện đã quyết tâm trả thù cho cha. Bà ra ở riêng trên một quả đồi gần đó. Trong một lần<br /> cưỡi ngựa sang thăm vợ, Lạng Chượng bị một mũi tên độc bắn trúng tim. Ông ngã ngựa và chết<br /> ngay tại chỗ. Vì tình nghĩa vợ chồng, nàng Ho Quảng cho tổ chức tang lễ ông chu đáo và chôn cất<br /> thi hài ông ở một quả đồi (sau được gọi là đồi Pom Loi – tức đồi Khâm Liệm, nay là đồi Cháy).<br /> Sau khi Lạng Chượng mất, con cháu nối dõi trị vì đất Mường Thanh [6;59].<br /> Đặc biệt, sang giai đoạn thế kỉ XVII – XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam đi vào giai đoạn<br /> thoái hóa suy tàn, truyền thuyết Điện Biên nổi lên một nhân vật anh hùng nông dân khởi nghĩa<br /> - Hoàng Công Chất. Từ vùng đồng bằng Sơn Nam (Thái Bình, Hưng Yên ngày nay), nghĩa quân<br /> Hoàng Công Chất đã kéo lên liên minh với đồng bào Thái xây dựng căn cứ trên vùng Mường<br /> Thanh (Điện Biên), kéo dài cuộc chiến đấu chống tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh và phong kiến<br /> Xiêm từ phía Tây tới trong suốt mười năm trời. Khi vào Tây Bắc, nghĩa quân Hoàng Công Chất đã<br /> phối hợp với quân của thủ lĩnh người Thái là tướng Ngải, tướng Khanh (Cương mục có chép Chất<br /> liên kết với thủ lĩnh Thành người Trung Quốc) đánh giặc Phẻ cứu dân, bảo vệ miền biên giới tổ<br /> quốc.<br /> Ngày nay, nhân dân Thái còn đến thờ bản Phủ ở Điện Biên thờ lãnh tụ nông dân Hoàng<br /> Công Chất và còn lưu truyền bài Quắm khắp Bản Phủ tỏ lòng tưởng nhớ và ngợi ca vị anh hùng<br /> nông dân Keo Chất ấy. Đây là cảnh thành Bản Phủ uy nghi vững chắc:<br /> Thành to thành đẹp/Thành đứng vững giữa cánh đồng/Giặc nào chẳng khiếp vía. . .<br /> Và lời ca đã nồng nhiệt nêu cao vai trò Hoàng Công Chất trực tiếp đứng ra chỉ huy xây đắp<br /> thành lũy với bao công phu, đồng thời nói lên sự nhiệt liệt hưởng ứng của nhân dân vào việc xây<br /> dựng căn cứ:<br /> Chúa cưỡi ngựa đứng trên mặt thành uy nghiêm/ Nào ta hãy lấy tre về trồng cho khắp/ Tre<br /> Mường Thanh, chúa bảo đừng lấy/ “Hãy lấy tre có gai vàng như ngà/ Tận dưới xuôi về trồng mới<br /> tốt”/ Lấy hơn bốn mươi ngàn khóm/ Bao quanh thành vững chúa yên lòng. . .<br /> Trong tình cảnh loạn lạc đói kém dưới triều Lê – Trịnh, thì những lời ca reo vui trong bài<br /> ca Bản Phủ đã nói lên được những nét của cuộc sống mới của nhân dân các dân tộc dưới cờ nghĩa<br /> của lãnh tụ Keo Chất:<br /> Đây, dưới xuôi có vua/ Trên này có chúa. . . / Đất Mường Thanh rộng một dải với Nậm Rốm,<br /> Nặm Nưa, Nặm U/ Vây quanh thành Bản Phủ/ Chúa thật yêu dân/ Chúa xây bản, xây mường/ Mọi<br /> người mới được yên ổn làm ăn. . . [7].<br /> Hoàng Công Chất, người con đồng bằng Vũ Thư – Thái Bình, kẻ bị triều đình phong kiến<br /> nhà Lê coi là “giặc”, nhưng nhân dân các dân tộc lại ca ngợi với tấm lòng trìu mến. Chính ngày<br /> nay ở đền Bản Phủ, nhân dân Thái còn cử người hàng năm đứng ra cúng tế Keo Chất một cách<br /> thành kính, trân trọng. Người dân Điện Biên hôm nay vẫn ghi nhớ những lời ca về ông như nhớ<br /> 38<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản