Việt Nam thời kỳ Hậu Lê
((1533 - 1788)
1. Lê Trang Tông (1533-1548)
Trang Tông tên huý là Duy Ninh, là con của vua Lê Chiêu
ng, mẹ là Phạm Thị Ngọc Quỳnh, cháu năm đời của Lê
Thánh Tông.
Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, Duy Ninh mới 11
tuổi được Lê Quán cõng chạy sang Ai Lao đổi tên là Huyến.
Đến tháng giêng năm Quý T - 1533 được Chiêu huân công
Nguyn Kim đón về lập lên làm vua, lúc đó Duy Ninh 19
tuổi.
Duy Ninh lên làm vua đặt niên hiệu là Nguyên Hoà, tôn
Nguyn Kim làm Thượng phụ Thái sư Hưng quốc công, lấy
Sầm Hà làm nơi hành tại, giao kết với vua Ai Lao là Xạ Đẩu
để nhờ quân lương, mưu việc lấy lại nước.
Tháng 12 năm 1540, Nguyễn Kim kéo quân từ Ai Lao về
đánh Nghệ An, hào kiệt các nơi theo về giúp Lê Trung Hưng
rất đông. Cuối năm 1543, Lê Trung Hưng chiếm được Tây
Đô (Thanh Hoá). Nước ta từ đó hình thành "Nam - Bắc
triều". Từ Thanh Hoá, Nghệ An trở vào do Lê Trung Hưng
cai quản (Nam Triều). Cả vùng Bắc Bộ trong đó có kinh đô
Đông Đô thuộc nhà Mạc cai quản (Bắc Triều). Hai bên Lê -
Mạc nội chiến tàn khốc kéo dài gần 50 năm (1543-1592).
Năm 1545, Nguyễn Kim tiến đánh Sơn Nam, đến Yên Mô
(Ninh Bình), thì bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất
đánh thuốc độc giết chết.
Trịnh Kiểm là con rể Nguyn Kim, nắm giữ binh quyền, mở
đầu thời kỳ "vua Lê, chúa Trịnh".
Năm 1546, Trịnh Kiểm lập hành tại vua Lê ở Vạn Lại (Thanh
Hoá). Lấy danh nghĩa "phù Lê, diệt Mạc", nhiều hào kit,
danh sĩ đương thời tìm vào Thanh Hoá phò Lê Trung Hưng
như Lương Đắc Bằng, Phùng Khắc Khoan...
Năm 1548, Lê Trang Tông mất, thọ 34 tuổi, ở ngôi được 15
năm. Trịnh Kiểm lập Thái tử Duy Huyên lên nối ngôi là Lê
Trung Tông.
2. Lê Trung Tông (1548-1556)
Trung Tông tên huý là Huyên, là con của Lê Trang Tông,
tính tình khoan dung, thông tu, có tài lược đế vương.
Năm 1548 được lập làm vua khi mới 15 tuổi, lấy hiệu là
Trung Tông, phong cho Trịnh Kiểm là Lương quốc công
quyết định mọi việc triều chính.
Năm 1554, nhà Lê mở khoa thi để chọn nhân tài, lấy đỗ Tiến
sĩ đệ nhất giáp 5 người, đệ nhị giáp 8 người như Đinh Bạt
Tu, Chu Quang Trứ,... một số tướng tài giỏi như Lê Bá Ly,
Nguyn Khải Khang, Nguyễn Thiếu, Lê Khắc Thận... bỏ nhà
Mạc vào Tây Đô phò giúp nhà Lê Trung Hưng.
Tháng giêng năm 1556, Lê Trung Tông mất mới 22 tuổi,
không có con, ở ngôi được 8 năm.
Trịnh Kiểm bàn với các đại thn rằng: "Nước không thể một
ngày không vua", liền sai người đi tìm con cháu nhà Lê, tìm
được Lê Duy Bang là cháu sáu đời của Lam quốc công Lê
Trừ (anh thứ hai của Lê Lợi) đang ở hương Bố Vệ, huyn
Đông Sơn, Thanh Hoá, đón về lập làm vua.
3. Lê Anh Tông (1556-1573)
Anh ng tên huý là Duy Bang, dòng dõi nhà. Anh th
hai của Lê Li là Lê Trừ được phong là Lam quốc công, Trừ
sinh ra Khang, Khang sinh ra Thọ, Thọ sinh ra Duy Thiệu,
Thiệu sinh ra Duy Khoáng, Duy Khoáng lấy vợ ở hướng Bố
Vệ sinh ra Duy Bang. Khi Lê Trung Tông mất không có con
nối, thái sư Trịnh Kiểm và các đại thần tìm được Duy Bang
đón về làm vua khi đó đã 25 tui.
Mọi việc trong triều đều do Trịnh Kiểm quyết định, vua ch
việc nghe theo.
Cũng trong thời gian đó, Nguyễn Hoàng, con thứ 2 của
Nguyn Kim, nhờ chị gái là Ngọc Bảo - vợ Trịnh Kiểm, xin
anh rể cho vào trấn thủ xứ Thuận - Quảng, được Trịnh Kiểm
đồng ý cho đi.
Tháng 2/1570, Trịnh Kiểm ốm nặng rồi mất. Anh em Trịnh
Cối, Trịnh Tùng tranh giành nhau quyền bính, đánh lẫn nhau.