
Bồ-đề-đạt-ma
Bồ-đề-đạt-ma, 9 năm diện bích. Tên trong các ngôn ngữ khác Tiếng Anh:
Bodhidharma Tiếng Phạn: Chữ Hán: 菩提達摩 Chữ Hán (viết
tắt): 達摩 Bính âm: Pútídámó Phiên âm Wade-Giles: P'u-t'i-ta-mo Tiếng Nhật:
達磨 Daruma Tiếng Hàn: 보리달마 Boridalma Tiếng Thái: Takmor
Bồ-đề-đạt-ma (zh. 菩提達磨, sa. bodhidharma, ja. bodai daruma), dịch nghĩa là
Đạo Pháp (zh. 道法), ~470-543, là Tổ thứ 28 sau Phật Thích-ca Mâu-ni của dòng

Thiền Ấn Độ và là Sơ tổ của Thiền tông Trung Quốc. Các tên gọi khác là: Bồ-đề-
đạt-ma-đa-la (zh. 菩提達磨多羅), Đạt-ma-đa-la (zh. 達磨多羅), Bồ-đề-đa-la
(菩提多羅), và tên viết tắt thường gặp trong văn cảnh nhà Thiền là Đạt-ma (zh.
達磨).
Bồ-đề-đạt-ma là đệ tử và truyền nhân của Tổ thứ 27, Bát-nhã-đa-la (sa.
prajñādhāra) và là thầy của Huệ Khả, Nhị tổ Thiền Trung Quốc. Sự tích truyền
pháp của Bát-nhã-đa-la cho Bồ-đề-đạt-ma được truyền lại như sau:
Tổ hỏi: "Trong mọi thứ, thứ gì vô sắc?" Bồ-đề-đạt-ma đáp: "Vô sinh vô
sắc". Tổ hỏi tiếp: "Trong mọi thứ, cái gì vĩ đại nhất?" Bồ-đề-đạt-ma đáp:
"Phật pháp vĩ đại nhất".
Sau khi trở thành Tổ thứ 28, Bồ-đề-đạt-ma đi thuyền qua Nam Trung Quốc năm
520. Sau khi truyền đạo cho Lương Vũ Đế không thành, Bồ-đề-đạt-ma đến Lạc
Dương, lên chùa Thiếu Lâm trên rặng Tung Sơn. Nơi đây, Bồ-đề-đạt-ma tu thiền
định, chín năm quay mặt vào vách không nói; cũng tại đây, Huệ Khả đã gặp Bồ-
đề-đạt-ma để lại truyền thuyết bất hủ về việc quyết tâm học đạo của mình.
Tư liệu về cuộc đời của Bồ-đề-đạt-ma là một vương tử Nam Ấn Độ không rõ ràng.
Có truyền thuyết cho rằng sư phụ của Bồ-đề-đạt-ma là Bát-nhã-đa-la từng dặn Sư
hãy đợi 60 năm sau khi mình chết mới được đi Trung Quốc. Như thế Bồ-đề-đạt-
ma phải cao tuổi lắm lúc đến Trung Quốc. Theo tài liệu khác thì Bồ-đề-đạt-ma đến
Trung Quốc lúc 60 tuổi. Cả hai thuyết này không phù hợp với cuộc đời Sư, từ 470-
543, là ngày tháng được phần lớn nguồn tài liệu công nhận. Sau khi đến, Sư nhận
lời mời của Vũ Đế đi Nam Kinh. Cuộc gặp gỡ giữa Bồ-đề-đạt-ma và Vũ Đế được
các ngữ lục ghi lại như sau:

Là một người phụng sự đạo Phật, Lương Vũ Đế đã cho xây trong nước mình nhiều
chùa chiền, bảo tháp. Vũ Đế hỏi nhà sư Ấn Độ: "Trẫm từ lên ngôi đến nay, xây
chùa, chép kinh, độ tăng không biết bao nhiêu mà kể. Vậy có công đức gì không?"
Đạt Ma đáp: "Không có công đức."
- "Tại sao không công đức."
- "Bởi vì những việc vua làm là nhân "hữu lậu", chỉ có những quả nhỏ trong
vòng nhân thiên, như ảnh tùy hình, tuy có nhưng không phải thật."
- "Vậy công đức chân thật là gì?"
Sư đáp: "Trí phải được thanh tịnh hoàn toàn. Thể phải được trống không
vắng lặng, như vậy mới là công đức, và công đức này không thể lấy việc
thế gian (như xây chùa, chép kinh, độ tăng) mà cầu được."
Vua lại hỏi: "Nghĩa tối cao của thánh đế là gì?"
- "Một khi tỉnh rõ, thông suốt rồi thì không có gì là thánh."
- "Ai đang đối diện với trẫm đây?"
- "Tôi không biết."
Đó là những lời khai thị về yếu tính Phật pháp rất rõ ràng, nhưng Vũ Đế không
lĩnh hội được. Cuộc gặp với Lương Vũ Đế cho Bồ-đề-đạt-ma thấy rõ là chưa đến
thời truyền pháp tại Trung Quốc. Sau đó - theo truyền thuyết - Sư vượt sông
Dương Tử bằng một chiếc thuyền con (chiếc thuyền về sau trở thành một đề tài
của hội hoạ Thiền), đến chùa Thiếu Lâm ở Bắc Trung Quốc. Người ta không biết
rõ Sư mất tại đó hay rời Thiếu Lâm sau khi truyền tâm ấn cho Huệ Khả. Theo một
truyền thuyết thì Bồ-đề-đạt-ma về lại Ấn Độ sau chín năm lưu lại Trung Quốc.

Thiền sư Trung Quốc
Bồ-đề-đạt-ma đến Huệ Năng
Huệ Khả, Tăng Xán
Đạo Tín, Hoằng Nhẫn
Huệ Năng, Pháp Dung
Hành Tư, Hoài Nhượng
Huyền Giác, Huệ Trung, Thần Hội
Nhánh Thanh Nguyên Hành Tư
Hi Thiên, Đạo Ngộ, Duy Nghiễm
Sùng Tín, Thiên Nhiên
Đàm Thạnh, Đạo Ngô
Đức Sơn, Thiện Hội
Thạch Sương, Lương Giới
Nghĩa Tồn, Nham Đầu, Thuý Nham
Vân Môn, Huệ Lăng, Huyền Sa

Nhánh Nam Nhạc Hoài Nhượng
Mã Tổ Đạo Nhất
Hoài Hải, Nam Tuyền
Huệ Hải, Pháp Thường
Triệu Châu, Quy Sơn
Hoàng Bá, Vô Ngôn Thông
Huệ Tịch, Nghĩa Huyền
Trí Nhàn, Chí Cần
Lâm Tế tông
Huệ Nhiên, Hưng Hoá
Định Thượng Toạ, Đồng Phong Am Chủ
Nam Viện Huệ Ngung
Phong Huyệt Diên Chiểu
Thủ Sơn Tỉnh Niệm
Thiện Chiêu, Quy Tỉnh
Thạch Sương, Huệ Giác
Hoàng Long, Dương Kì
Tổ Tâm, Thủ Đoan

