
24
- Tổ chức sắp xếp lại bộ máy kế toán trong DN bằng việc kết hợp hệ
thống kế toán tài chính và hệ thống kế toán quản trị trong cùng một bộ
máy kế toán.
- Xây dựng được hệ thống chỉ tiêu thông tin trong nội bộ DN.
HTTTKT chỉ có thể vận hành có hiệu quả khi ban lãnh đạo DN đặt ra
những nhu cầu về thông tin quản trị nội bộ.
- Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về HTTTKT nói riêng và
kiến thức về quản trị tài chính nói chung cho các cán bộ quản lý, nhân
viên kế toán của DN.
- Tăng cường ứng dụng CNTT hiện đại vào công tác quản trị DN.
- Xây dựng được một hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật tiên tiến,
hiện đại để vận dụng trong DN nhằm cung cấp một nguồn dữ liệu đáng
tin cậy trong việc dự báo và kiểm soát chi phí của đơn vị.
- Coi trọng nhân tố con người, xây dựng đội ngũ cán bộ công nhân
viên có kỹ thuật nghiệp vụ cao, năng động sáng tạo, đủ sức làm chủ công
nghệ hiện đại.
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
HTTT có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát
triển của mọi tổ chức và DN trong nền kinh tế thị trường. Kể từ những
năm sáu mươi của thế kỷ 20, khi sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng
gay gắt và quyết liệt thì hầu như tất cả các DN đều ứng dụng CNTT và
truyền thông để quản lý hiệu quả hoạt động của mình cũng như giúp đưa
ra các quyết định chính xác hơn và đạt được lợi thế cao hơn trong cạnh
tranh. HTTTKT, với tư cách là một thành phần thiết yếu và không thể
thiếu của HTTT quản lý trong DN và thông qua sự ứng dụng rộng rãi
các thành tựu của CNTT và truyền thông hiện đại, ngày càng mở rộng
phạm vi ảnh hưởng cũng như góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh của DN
Tại Việt Nam, cùng với sự hội nhập ngày càng sâu rộng và toàn diện
vào nền kinh tế thế giới, nhu cầu logistics vì thế cũng ngày càng gia
tăng. Trong tương lai không xa, dịch vụ logistics sẽ trở thành một ngành
kinh tế quan trọng của Việt Nam, đóng góp tới 15% GDP cả nước [50].
Đặc biệt, trong 10 năm tới, khi kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam
có thể đạt mức 200 tỉ USD/năm thì nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics lại
càng lớn. Trong xu hướng đó, các DN logistics xuất hiện ngày càng
nhiều nhằm đáp ứng nhu cầu phân phối và lưu thông hàng hóa ngày
càng tăng ở trong nước và ngoài nước. Các DN cung cấp dịch vụ
logistics cũng đã lớn mạnh cả về lượng và chất. Tuy nhiên, chất lượng
dịch vụ còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà sử dụng
dịch vụ trong và ngoài nước, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đã gia
nhập WTO 10 năm nay.
Vì vậy, nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển thương mại,
dịch vụ đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, HTTTKT tại các DN
kinh doanh dịch vụ logistics cần phải được tiếp tục hoàn thiện đồng bộ
trên các yếu tố như con người, hệ thống chứng từ - tài khoản - sổ kế
toán, các chu trình kế toán, cơ sở hạ tầng CNTT và cả hệ thống kiểm
soát nội bộ… Một nghiên cứu cơ bản, đồng bộ về HTTTKT tại các DN
kinh doanh dịch vụ logistics từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện
HTTTKT là rất cần thiết. Vì vậy, đề tài “Hoàn thiện hệ thống thông tin
kế toán tại các DN kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam” được lựa
chọn nghiên cứu có ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn để thúc đẩy
sự phát triển HTTTKT tại các DN kinh doanh dịch vụ logistics
2
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên tổng quát: Đánh giá được thực trạng và đề xuất các
khuyến nghị nhằm hoàn thiện HTTTKT tại các DN kinh doanh dịch vụ
logistics ở Việt Nam. Để thực hiện được mục tiêu tổng quát này, mục tiêu
cụ thể được đặt ra là: i. Nghiên cứu tìm hiểu các đề tài trong và ngoài nước
có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để tìm ra những khoảng trống còn bỏ
ngỏ; ii. Nghiên cứu cơ sở lý luận về HTTTKT tại các DN kinh doanh dịch
vụ logistics; iii. Phân tích các nhân tố nội sinh và ngoại sinh ảnh hưởng đến
HTTTKT tại các DN kinh doanh dịch vụ logistics ; iv. Phân tích thực trạng,
qua đó rút ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của
HTTTKT tại các DN kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam trong thời
gian vừa qua; v. Đề xuất phương hướng và hệ thống các giải pháp/khuyến
nghị hoàn thiện HTTTKT tại các DN kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt
Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về
HTTTKT trong các DN kinh doanh dịch vụ logistics.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về phạm vi nghiên cứu: HTTTKT tại các DN kinh doanh dịch vụ
logistics của Việt Nam mà không phải là các tập đoàn logistics đa quốc gia
đang hoạt động tại Việt Nam. Các DN dịch vụ logistics Việt Nam lựa chọn
phát triển hoạt động kinh doanh theo chiến lược 3PL là giải pháp tối ưu và
phù hợp với thực tế phát triển để nâng cao khả năng cạnh tranh và đưa DN
lên tầm cao mới. Từ những phân tích đó mà luận án tập trung vào nhóm các
DN kinh doanh dịch vụ logistics 3PL
- Về thời gian: Từ năm 2010 đến năm 2015 và đề xuất các khuyến
nghị hoàn thiện đến năm 2020 và tầm nhìn 2030.
4. Đóng góp mới của luận án
- Luận án đã tiếp cận nghiên cứu HTTTKT theo các yếu tố cấu thành
nên hệ thống – một cách tiếp cận hoàn chỉnh và đồng bộ.
- Luận án đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống,
HTTT và HTTTKT trong các DN kinh doanh dịch vụ logistics.
- Luận án đã khái quát những vấn đề cơ bản về DN kinh doanh dịch
vụ logistics như khái niệm, đặc điểm và sử dụng cách tiếp cận mới về
DN kinh doanh dịch vụ logistics trong mối quan hệ liên kết, hợp tác giữa
các DN trong chuỗi cung ứng dịch vụ.
- Luận án đã nhận diện được các nhân tố ảnh hưởng đến HTTTKT tại
các DN kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam trong hội nhập và phát
triển để có các tiếp cận phù hợp.
23
4.5.5. Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ
- Ban lãnh đạo DN phải quán triệt đến từng cán bộ nhân viên về tầm
quan trọng của công tác kiểm soát nội bộ.
- Lãnh đạo DN có trách nhiệm thành lập, điều hành và kiểm soát hệ
thống kiểm soát nội bộ phù hợp với mục tiêu của tổ chức.
- Để tránh bị thiệt hại do các tác động ngoài tầm kiểm soát. Ban lãnh
đạo DN cần thường xuyên xác định rủi ro hiện hữu và tiềm ẩn. Đồng
thời phân tích ảnh hưởng của chúng kể cả tần suất xuất hiện và xác định
các biện pháp để quản lý và giảm thiểu tác hại của chúng.
- HTTT truyền thông cần được tổ chức để đảm bảo tính chính xác,
kịp thời, đầy đủ, tin cậy về thông tin tài chính DN và đúng người có
thẩm quyền
- Phải thiết lập hệ thống giám sát và thẩm định nhằm theo dõi và
đánh giá chất lượng thực hiện việc kiểm soát nội bộ để đảm bảo hệ
thống kiểm soát nội bộ được triển khai, được điều chỉnh khi môi trường
thay đổi và được cải thiện khi có khiếm khuyết.
4.6. Điều kiện cần thiết để thực hiện các giải pháp hoàn thiện
HTTTKT trong các DN kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam
4.6.1. Về phía Nhà nước và các Bộ, ban ngành
- Cần hoàn thiện cơ chế và hệ thống pháp luật kinh tế tài chính.
- Xây dựng và phát triển hệ thống logistics ở Việt Nam theo hướng
bền vững.
- Hoàn thiện về mặt lý luận và sự thống nhất chương trình, nội dung,
phương pháp giảng dạy đào tạo đội ngũ những người hành nghề kế toán,
kiểm toán nói chung và HTTTKT nói riêng trong các trường đại học, cao
đẳng và trung học thuộc khối kinh tế.
- Hội Kế toán Việt Nam tạo điều kiện hỗ trợ các DN trong việc tổ
chức thực hiện HTTTKT tại đơn vị.
- Xây dựng sàn giao dịch thông tin logistics, phát triển hệ thống
CNTT nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của DN kinh doanh dịch vụ
logistics, phục vụ hoạt động logistics bền vững.
- Các cơ quan chức năng cần tổ chức nghiên cứu, xây dựng và hoàn
thiện HTTTKT DN.
4.6.2. Về phía các DN logistics
- Nâng cao nhận thức và trình độ quản lý cho các nhà quản trị DN để
tăng cường khả năng cạnh tranh cho các DN.

22
logic, thuận tiện cho quá trình sử dụng.
Thứ ba, về hệ thống sổ và báo cáo kế toán các DN phải: Duy trì sổ
“lành mạnh”, đảm bảo hệ thống sổ, báo cáo kế toán của DN được hoàn
thiện, tuân thủ đúng các chuẩn mực kế toán, kiểm toán, chế độ kế toán,
luật Kế toán…
4.5.3. Hoàn thiện các chu trình kế toán
Thứ nhất, DN cần hoàn thiện quy trình luân chuyển chứng từ trong
các chu trình một cách bài bản nhằm mục đích phục vụ kiểm soát nghiệp
vụ trong chu trình. Ví dụ trong chu trình doanh thu, tác giả đề xuất các giải
pháp: Với hoạt động tiếp nhận đơn đặt hàng và xét duyệt bán chịu cần: (1)
Xét duyệt kỹ càng đối tượng mua hàng trước khi đi đến quyết định cung
cấp hàng hóa, để xác định khách hàng có đủ điều kiện mua chịu tiếp đơn
hàng này hay không (nếu nghiệp vụ mua chịu); (2) Đối chiếu, so sánh chi
tiết giữa thông tin nhận được và thông tin cung cấp lại cho khách hàng để
đảm bảo hàng hóa của khách hàng đúng theo yêu cầu; (3) Lưu trữ đơn
hàng cũ và đơn hàng mới của khách hàng đầy đủ để đảm bảo theo dõi
công nợ của khách hàng được cập nhật. Với hoạt động xuất kho, giao hàng
cần: (1) rà soát kỹ đối tượng nhận hàng hóa đảm bảo hàng giao đúng
khách hàng, đúng số lượng, đúng thời điểm đảm bảo uy tín cho DN; (2)
quản lý hàng tồn kho để có được các thông tin nhập, xuất, tồn tại mọi thời
điểm; (3) Đối chiếu, kiểm tra số lượng hàng xuất kho tránh sự thất thoát…
Thứ hai, để các chu trình kế toán được vận hành một cách đồng bộ
đòi hỏi các DN cần áp dụng phần mềm kế toán và cơ sở hạ tầng CNTT
phù hợp
4.5.4. Đẩy mạnh áp dụng phần mềm kế toán và cơ sở hạ tầng công
nghệ thông tin
- Áp dụng mô hình quản lý “cơ sở dữ liệu tập trung”. Đây là mô hình
mang lại hiệu quả trong việc quản lý tập trung, có hệ thống và cung cấp
số liệu mang tính kịp thời và nên được áp dụng tại các DN có quy mô
lớn hoặc có nhiều đơn vị thành viên, chi nhánh.
- Triển khai ứng dụng giải pháp ERP (Enterprise resource planning) -
Hệ thống hoạch định nguồn lực DN cần được thực hiện một cách đồng
bộ tại các DN.
- Sử dụng phần mềm kế toán tích hợp điện toán đám mây (Cloud
Computing). Điện toán đám mây được hiểu là mô hình điện toán sử
dụng các công nghệ máy tính và phát triển dựa vào mạng Internet.
3
- Luận án đã phân tích và đánh giá toàn diện thực trạng HTTTKT tại
các DN kinh doanh dịch vụ logistics hiện nay ở Việt Nam dựa trên
những dữ liệu đã được công bố và kết quả khảo sát của tác giả
- Đề xuất các mục tiêu, quan điểm, các khuyến nghị hoàn thiện
HTTTKT theo mục tiêu của luận án.
5. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận án được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu và phương pháp
nghiên cứu của luận án
Chương 2. Cơ sở lý luận về HTTTKT tại các DN kinh doanh dịch vụ
logistics
Chương 3. Thực trạng HTTTKT tại các DN kinh doanh dịch vụ
logistics ở Việt Nam
Chương 4. Quan điểm và các khuyến nghị hoàn thiện HTTTKT tại
các DN kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu
Trong phần này luận án đã tập trung nghiên cứu tổng quan các công
trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài để từ đó xác
định khoảng trống cho nghiên cứu của luận án
Về các công trình nghiên cứu trong nước
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về logistics, phát triển dịch vụ
logistics và cả các công trình liên quan đến HTTTKT trong các doanh
nghiệp theo từng góc độ khác nhau. Tiêu biểu phải kể đến một số
công trình nghiên cứu của Viện nghiên cứu kinh tế và phát triển -
Trường Đại học Kinh tế quốc dân như “Phát triển dịch vụ logistics ở
nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế” và “Xây dựng và phát triển
hệ thống logistics theo hướng bền vững - Kinh nghiệm của Đức và
bài học đối với Việt Nam” do nhà nghiên cứu Đặng Đình Đào và các
cộng sự thực hiện (2010) [1], [3]
Năm 2012, nghiên cứu sinh Đinh Lê Hải Hà đã bảo vệ thành công luận án
tiến sĩ với đề tài "Phát triển logistics ở Việt Nam hiện nay" [6] hay luận án
“Phát triển logistics ở một số nước Đông Nam Á - Bài học kinh nghiệm đối
với Việt Nam” của tác giả Vũ Thị Quế Anh (2014) [31]
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thanh Quý (2004) với đề tài “Xây
dựng HTTTKT phục vụ quản trị DN kinh doanh bưu chính viễn
thông” [15]. Theo tác giả, HTTTKT có vai trò rất quan trọng đối với
việc cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý và điều hành DN, là
cơ sở cho việc ra các quyết định kinh tế và điều hành của các nhà
quản lý DN cũng như đối với các đối tượng khác như đối tác làm ăn.
Năm 2010, tác giả Hoàng Văn Ninh đã bảo vệ thành công luận án
tiến sĩ với đề tài “Tổ chức HTTTKT phục vụ công tác quản lý trong các
tập đoàn kinh tế ở Việt Nam” [8]. Tác giả đã nêu ra cách thức tổ chức
HTTTKT trong các TĐKT từ khâu thu nhận thông tin kế toán, tổ chức
xử lý và sử dụng thông tin kế toán đến khâu phân tích và cung cấp thông
tin kế toán cho các cấp quản lý.
Năm 2012, tác giả Nguyễn Hữu Đồng với đề tài "Hoàn thiện
HTTTKT trong các trường đại học công lập Việt Nam" [13] đã đề cập
đến những vấn đề mang tính lý luận về HTTTKT trong các DN nói
chung và HTTTKT trong các đơn vị sự nghiệp có thu nói riêng
Năm 2013, tác giả Hồ Mỹ Hạnh đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ
21
logistics cung ứng bậc cử nhân, một số trường đủ điều kiện, cần sớm mở
sau đại học, nghiên cứu sinh của ngành này nhằm đào tạo một lớp cán bộ
nghiên cứu về logistics và chuỗi cung ứng của Việt Nam.
Đối với nhóm khuyến nghị vi mô: Các DN phải tổ chức, cơ cấu tổ chức
bộ máy kế toán sao cho gọn nhẹ và hoạt động có hiệu quả là điều kiện
quan trọng để cung cấp thông tin kế toán một cách kịp thời, chính xác và
đầy đủ, hữu ích cho các đối tượng sử dụng thông tin, đồng thời phát huy
và nâng cao trình độ nghiệp vụ của các cán bộ kế toán.
Hoàn thiện kiểm toán nội bộ tập trung vào các khuyến nghị: Các DN
phải tổ chức, triển khai xây dựng bộ phận kiểm toán nội bộ trong DN.
Các DN cần xác định rõ vai trò quan trọng của việc hoàn thiện mô hình
tổ chức kiểm toán nội bộ.
4.5.2. Hoàn thiện hệ thống chứng từ - tài khoản - sổ và báo cáo kế toán
Thứ nhất, cần có sự thống nhất về hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ kế
toán để cùng cung cấp các thông tin cho kế toán tài chính và kế toán
quản trị nhằm làm giảm các chi phí không đáng có phát sinh và đảm bảo
sự thuận lợi cho việc thu thập cũng như cung cấp thông tin kế toán cho
các đối tượng sử dụng.
Thứ hai, đối với hệ thống TKKT: Về mặt số lượng TKKT, cần bổ sung tài
khoản cấp II và cấp III… để hệ thống TKKT là công cụ hỗ trợ tích cực cho
việc phân loại chi phí theo định phí và biến phí ngay khi bắt đầu hạch toán,
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác định điểm hòa vốn, sản lượng,
doanh thu hòa vốn và giá bán của sản phẩm.
Về thống nhất tên gọi của các TKKT trong hệ thống TKKT, đảm bảo
tính thống nhất, tránh sự nhầm lẫn giữa tên gọi với nội dung kinh tế mà
tài khoản phản ánh.
Về nội dung và phương pháp phản ánh của một số TKKT, nhất thiết
phải thống nhất về nội dung và cách thức phản ánh. Có như vậy mới thuận
tiện cho người làm công tác kế toán cũng như cho các cơ quan hữu quan
trong việc kiểm tra, thanh tra tài chính và chỉ đạo nghiệp vụ kế toán.
Về trật tự sắp xếp của TKKT, phải sắp xếp trật tự các TKKT theo
từng loại trên cơ sở thu thập cung cấp thông tin cho việc lập các báo cáo
tài chính cơ bản định kỳ (Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh
doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ) nhằm đảm bảo tính khoa học và

20
quy mô và phạm vi hoạt động của đơn vị.
- Hoàn thiện HTTTKT phải tạo cơ sở cho việc thanh tra, kiểm tra,
kiểm soát thông tin kế toán nhằm góp phần công khai, minh bạch thông
tin kinh tế, tài chính của đơn vị…
- Hoàn thiện HTTTKT theo hưởng phải đảm bảo yêu cầu ứng dụng
CNTT
4.5. Các khuyến nghị về hoàn thiện HTTTKT trong các DN kinh
doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam
Qua nghiên cứu thực trạng HTTTKT tại các DN kinh doanh dịch vụ
logistics, cụ thể tại 104 DN kinh doanh dịch vụ logistics, luận án đã chỉ
rõ những tồn tại, hạn chế của HTTTKT theo cách tiếp cận các yếu tố cấu
thành HTTTKT (được thể hiện trong nội dung chương 3). Trên cơ sở đó,
tác giả luận án đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện HTTTKT trong
các DN kinh doanh dịch vụ logistics
Bảng 4.2. Các khuyến nghị về hoàn thiện HTTTKT tại
các DN kinh doanh dịch vụ logistics
Đơn vị tính: %
Stt
Khía cạnh Không
có ý kiến
Không
cần
thiết
Bình
thường
Cần
thiết
Rât
cần
thiết
Điểm
bình
quân
1.
V
ề con người 0 1 2.9 64.4
31.7
4.27
2.
Hoàn thi
ện hệ thống chứng
t
ừ- tài khoản- sổ và báo cáo
k
ế toán
0 1 7.7 55.8
35.6
4.26
3.
Hoàn thi
ện các chu trình kế
toán
0 0 4.8 55.8
39.4
4.35
4.
Đ
ẩy mạnh áp dụng PMKT và
CNTT
1.0 6.7 4.8 66.3
21.2
4.00
5.
Hoàn thi
ện hệ thống kiểm
soát n
ội bộ 0.0 1.0 16.5 59.2
23.3
4.05
Chú thích: Thang đo Likert: 1 – không có ý kiến
5 – rất cần thiết
Nguồn: Khảo sát của tác giả luận án
4.5.1. Con người
Đối với nhóm khuyến nghị vĩ mô về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân
lực gồm: Đào tạo, bồi dưỡng nguồn lực ngắn hạn; Cho phép mở ngành
5
với đề tài “Tổ chức HTTTKT quản trị chi phí trong các DN may Việt
Nam” [9]. Luận án đã nghiên cứu đồng bộ cả ba mảng nội dung của
HTTTKT quản trị chi phí là HTTT dự toán chi phí, HTTT chi phí thực
hiện và HTTT kiểm soát chi phí nhằm đưa ra một mối liên hệ mật thiết
về thông tin trong kiểm soát chi phí…
Năm 2014, tác giả Huỳnh Thị Hồng Hạnh với đề tài “Phân tích và
thiết kế hệ thống thông tin kế toán trong các bệnh viện công” [11]. Luận
án đã đưa ra phương pháp tiếp cận tổng thể và đa chiều về HTTTKT tại
các bệnh viện này để giúp hiểu rõ hơn bản chất của HTTTKT và đề xuất
các phương pháp tổ chức, tập hợp và theo dõi chi tiết chi phí trong điều
kiện ứng dụng CNTT cũng như phương pháp phân bổ chi phí hoạt động
khám chữa bệnh theo phương pháp top - down tại bệnh viện…
Về các công trình nghiên cứu nước ngoài:
Tác giả Su Yan, Trường Đại học Shlhezi, Trung Quốc, trong nghiên
cứu “The Analyze on Accounting Information System of Third - Party
Logistics Enterprise” (2008) [46] đã phân tích sự lạm dụng hệ thống kế
toán thông thường và sử dụng những ý tưởng tiến bộ về CNTT, truyền
thông và các lý thuyết hợp tác mới để thiết kế lại cấu trúc của HTTTK
cho các DN kinh doanh dịch vụ logistics 3PL và đồng thời, chỉ ra các ưu
điểm của hệ thống mới. Theo lý thuyết “chuỗi giá trị” của Michael
Porter thì các DN 3PL đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra
các giá trị về mặt thời gian và không gian cho toàn bộ chuỗi giá trị.
Các công trình nghiên cứu về “Accounting Information Systems:
Transactions Processing and Control” của Jame L Boockholdt (1990,
1991, 1993, 1996, 1999) [38] là những công trình được khá nhiều học
viên biết đến bởi lượng kiến thức toàn diện về hệ thống và HTTTKT từ
khái niệm, mô hình xử lý đến các vấn đề khác của hệ thống như phân
tích, thiết kế, vận hành hệ thống
Các tác giả Lu’ay Mohammad Abdel - Rahman Wedyan, Adnan
Turki Said Gharaibeh, Ahmad Ibrahim Mohammad Abu - dawleh và
Hatem S. Abu Hamatta, Jordan, đã thực hiện nghiên cứu “The Affect of
Applying Accounting Information System on the Profitability of
Commercial Banks in Jordan” (2012) [41], với mục đích nhận dạng ảnh
hưởng của việc ứng dụng HTTTKT trong việc tăng lợi nhuận và giảm
chi phí của các ngân hàng ở Jordan. Ngoài ra, còn nhiều ấn phẩm khác
như: Accounting Information Systems” của các tác giả Ulric Gelinas và
Richard Dull (2009) [48] hay công trình nghiên cứu “The impact of law on
Accounting Information System: An Analysis of IFRS adoption in Italian
Companies” của các tác giả Katia Corsi và Daniela Mancini (2010) [39]
6
đã cơ bản phản ánh được mối quan hệ cũng như ảnh hưởng của IFRS tới
HTTTKT …
Các tác giả Michèle Pomberg, Hamid Pourjalali, Shirley Daniel và
Marinilka Barros Kimbro đã có nghiên cứu “Management Accounting
Information Systems: A case of a developing country: Viet Nam” (2012)
[44]. Báo cáo này cho thấy ảnh hưởng của kế toán quản trị tại các Bệnh
viện trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế quản lý tập trung sang cơ chế
thị trường.
Như vậy, qua tổng quan các công trình khoa học từ trước tới nay ở trên
bình diện quốc gia và quốc tế, có thể thấy rằng số lượng các công trình nghiên
cứu chuyên sâu về HTTTKT rất phong phú cả về mặt lý luận và thực tiễn và
đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau dưới nhiều góc độ tiếp cận. Mặc dù
vậy, đến nay, vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu sâu về
HTTTKT cũng như các giải pháp cần thiết nhằm hoàn thiện hệ thống này ở
các DN logistics tại Việt Nam.
1.2. Phương pháp nghiên cứu của luận án
Về cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu: Tác giả luận án chủ yếu tiếp cận
vấn đề nghiên cứu dưới góc độ nghiên cứu tổng thể HTTTKT trong các
DN hoạt động trong lĩnh vực logistics trong nền kinh tế quốc dân.
Về phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp định tính
kết hợp cả hai hình thức nghiên cứu tại bàn (thu thập và phân tích dữ
liệu thứ cấp) và tại hiện trường (thu thập và phân tích dữ liệu sơ cấp) để
giải quyết tốt các mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra.
Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng thông qua tiếp cận
các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu; tiếp cận các nghiên cứu
trong và ngoài nước; phỏng vấn các cán bộ làm việc trực tiếp tại các DN
kinh doanh dịch vụ logistics... Mục đích của phương pháp nghiên cứu
định tính là để thiết lập bảng hỏi, tìm ra các câu hỏi nghiên cứu, tìm cách
mô tả các nhân tố tác động đến HTTTKT trong các DN kinh doanh dịch
vụ logistics, đảm bảo cho kết quả nghiên cứu có độ tin cậy cao.Ngoài ra,
luận án còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp thống kê
mô tả; phương pháp tổng hợp, phân tích kinh tế; phương pháp nghiên
cứu so sánh và phương pháp logic…
19
4.2. Quan điểm hoàn thiện HTTTKT trong các DN kinh doanh
dịch vụ logistics ở Việt Nam
- Quan điểm phù hợp, tương xứng. Hoàn thiện HTTTKT phải đảm bảo phù
hợp với quy mô, tính đa dạng, phức tạp của thông tin mà nó cung cấp, phù hợp
với nhu cầu sử dụng của nhà quản trị trong từng DN logistics cụ thể:
- Quan điểm kế thừa, chọn lọc và phát huy. Khi hoàn thiện HTTTKT
phải kế thừa có chọn lọc kinh nghiệm của các nước tiên tiến, đồng thời
phát huy tính chủ động sáng tạo để phù hợp với điều kiện cụ thể của DN,
phù hợp với đặc điểm kinh tế của đất nước.
- Quan điểm khả thi, tiết kiệm và hiệu quả.
- Quan điểm tập trung dân chủ. Hoàn thiện HTTTKT phải đảm bảo
cung cấp thông tin cho các thành viên trong bộ máy quản lý và những
người lao động trong DN ở mức độ phù hợp.
- Quan điểm hoàn thiện HTTTKT kết hợp giữa hệ thống kế toán quản
trị với hệ thống kế toán tài chính.
4.3. Yêu cầu hoàn thiện HTTTKT trong các DN kinh doanh dịch
vụ logistics ở Việt Nam
Thứ nhất, HTTTKT phải lưu trữ được các dữ liệu kế toán của DN và
ngược lại, các dữ liệu kế toán đó lại là nguồn thông tin đầu vào quan trọng mà
HTTTKT sử dụng để tạo ra các báo cáo tài chính cho DN.
Thứ hai, mọi dữ liệu và thông tin kế toán trong DN cần phải được
sắp xếp khoa học và quản lý chặt chẽ bằng hệ thống máy tính và phần
mềm có chức năng quản lý được các tập tin của thông tin kế toán.
Thứ ba, khi xây dựng HTTTKT, DN cần tìm hiểu xem HTTTKT có chức
năng cho phép người sử dụng nâng cấp khi cần thiết hay không
Thứ tư, tất cả các báo cáo kế toán của HTTTKT của DN cần phải
được chia sẻ bởi tất cả các cấp quản lý kế toán.
Thứ năm, HTTTKT cung cấp thông tin tài chính cho tất cả các nhà
quản lý trong một tổ chức bao gồm các giám đốc tài chính, giám đốc
điều hành và các nhà đầu tư...
4.4. Phương hướng hoàn thiện HTTTKT trong các DN kinh
doanh dịch vụ logistics trong thời gian tới
- Hoàn thiện HTTTKT theo hướng tuân thủ cơ chế quản lý tài chính.
- Hoàn thiện HTTTKT theo hướng phù hợp với đặc điểm, tính chất,

18
CHƯƠNG 4
QUAN ĐIỂM VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ HOÀN THIỆN HỆ
THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS
Ở VIỆT NAM
4.1. Mục tiêu và phương hướng phát triển các DN kinh doanh dịch vụ
logistics ở nước ta đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
4.1.1. Mục tiêu phát triển các DN logistics
- Phấn đấu giảm chi phí logistics ở mức 20% GDP đến năm 2020 và
15% - 17%/năm vào năm 2030.
- Tốc độ tăng trưởng trung bình thị trường dịch vụ logistics là 24% -
25%/năm đến năm 2020, đến năm 2030 là 34% - 35%/năm, tỷ trọng đóng góp
vào GDP toàn nền kinh tế dự đoán chiếm 10% GDP vào năm 2020.
- Tỉ lệ dịch vụ logistics thuê ngoài đến năm 2020 khoảng 40%/năm
và đến năm 2030 là 65%/năm.
- Cơ cấu lại lực lượng DN logistics: giảm số lượng, tăng chất lượng
đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 tương đương các nước trong
khu vực hiện nay (Thái Lan, Singapore).
- Đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 chỉ số LPI - Chỉ số hoạt
động logistics (Logistics Performance Index) của Việt Nam do WB -
Ngân hàng thế giới báo cáo, nằm trong top 35 hoặc 40 trong các nền
kinh tế trên thế giới.
4.1.2. Phương hướng phát triển DN logistics
- Phát triển các DN logistics theo hướng tăng cường khả năng hợp tác, liên
kết các hoạt động Logistics giữa các DN nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh trong bối cảnh mở cửa thị trường dịch vụ logistics.
- Phát triển các DN logistics theo hướng tạo lợi thế cạnh tranh riêng
biệt về dịch vụ logistics cung ứng.
- Xây dựng và phát triển các loại hình DN logistics có khả năng cạnh
tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.
- Phát triển các trung tâm logistics hạng I cấp quốc gia và quốc tế, có
vị trí và vai trò là trung tâm gốc.
- Hình thành và phát triển các trung tâm logistics chuyên dụng, trước mắt là
các trung tâm logistics chuyên dụng hàng không gắn liền với các cảng hàng
không, kết nối cùng với hệ thống các trung tâm logistics hạng I và hạng II để hỗ
trợ, thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu hoặc trung chuyển hàng hóa
7
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN
TẠI CÁC DN KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS
2.1. Khái quát về DN kinh doanh dịch vụ logistics
Trong nội dung này luận án làm rõ cơ sở hình thành các DN logistics,
khái niệm và đặc điểm hoạt động.
Từ khái niệm logistics của Ủy ban Kinh tế và xã hội ở Châu Á và Thái
Bình Dương của Liên Hiệp Quốc – UNESCAP, “Logistics là việc quản lý
dòng chu chuyển và lưu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất, thành phẩm
và xử lý các thông tin liên quan… từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ cuối cùng
theo yêu cầu của khách hàng” [61], tác giả cho rằng “DN cung cấp dịch vụ
logistics là bất kỳ một tổ chức nào có khả năng thực hiện thay cho khách
hàng của mình một hoặc một chuỗi dịch vụ nhằm tối ưu hóa quá trình lập kế
hoạch, thực hiện và giám sát hiệu quả quá trình lưu chuyển hàng hóa, con
người và các thông tin có liên quan từ điểm khởi đầu của quá trình sản
xuất đến điểm tiêu thụ cuối cùng”
Là loại hình DN hoạt động trong lĩnh vực phân phối và lưu thông
hàng hóa, DN kinh doanh dịch vụ logistics có những đặc điểm quan
trọng ảnh hưởng đến HTTTKT như:
(a) Các DN kinh doanh dịch vụ logistics ngày càng có xu hướng
chuyên môn hóa sâu trong những lĩnh vực kinh doanh cốt lõi của mình.
(b) Ngày càng nhiều DN sử dụng dịch vụ logistics có xu hướng tham
gia trực tiếp các hoạt động của DN kinh doanh dịch vụ logistics thông
qua việc chi tiết hóa các nội dung trong hợp đồng hoặc các thông số kỹ
thuật.
(c) Hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics hiệu quả chỉ khi có sự
phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận và hệ thống cơ
sở hạ tầng logistics.
(d) Logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương
thức MTO (Multimodal Transport Operator - Vận tải đa phương thức
hàng không, đường bộ, đường thuỷ và đường ống….)
(e) CNTT là một yếu tố đặc biệt quan trọng đối với các DN kinh
doanh dịch vụ logistics. Với mục đích gia tăng sự hài lòng và nâng cao
hiệu quả của các quy trình logistics, các DN kinh doanh dịch vụ logistics
8
được yêu cầu phải tích hợp các hệ thống của mình với các DN sử dụng
dịch vụ logistics.
Về phân loại DN kinh doanh dịch vụ logistics, hiện nay có nhiều cách
phân loại DN logistics tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu đề tài tác giả
phân loại theo hình thức logistics, gồm: DN logistics bên thứ nhất (1PL -
First Party Logistics); DN logistics bên thứ hai (2PL - Second Party
Logistics); DN logistics bên thứ ba (3PL hoặc TPL); DN logistics bên
thứ tư (4PL hay FPL); DN logistics bên thứ năm (5PL - Fifth Party
Logistics).
Trong 05 (năm) loại hình DN kinh doanh dịch vụ logistics nói trên,
các DN kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện nay đều lựa chọn
phát triển hoạt động kinh doanh logistics của DN mình theo chiến lược
DN 3PL là chiếm đa số và phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế cả
nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
2.2 Khái quát về HTTTKT tại các DN kinh doanh dịch vụ logistics
2.2.1. Khái niệm và đặc điểm của HTTTKT
a. Khái niệm về HTTTKT: Luận án luận giải các vấn đề liên quan
đến hệ thống, cấu trúc của hệ thống và từ đó đi vào nghiên cứu các khái
niệm liên quan đến HTTT và HTTTKT. Từ các quan điểm khác nhau,
theo tác giả, HTTTKT có thể được định nghĩa là “một tập hợp các thành
phần có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tác động chi phối lẫn nhau bao
gồm: (1) Con người, (2) Hệ thống chứng từ - Tài khoản - Sổ và Báo cáo
kế toán, (3) Các chu trình kế toán, (4) Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin
và (5) Công cụ kiểm soát nội bộ được tích hợp với nhau thành một thể
thống nhất, chặt chẽ và hài hòa để thực hiện việc thu thập, lưu trữ và xử
lý các dữ liệu tài chính thành các thông tin tài chính hữu ích trong việc
ra quyết định cho nhiều người sử dụng bên trong và ngoài DN”.
b. Đặc điểm của HTTTKT của các DN kinh doanh dịch vụ logistics:
Gắn với đặc điểm của DN logistics, HTTTKT tại các DN này cũng có
những đặc điểm gắn với đặc thù của các DN logistics, như: Thúc đẩy sự
hợp tác giữa các bộ phận và các DN; Đáp ứng tốt nhu cầu thông tin của
nhiều người sử dụng; Gia tăng giá trị của các thông tin kế toán; hoạt
động kiểm soát được thực hiện đáng tin cậy hơn. Ngoài ra, luận án đã hệ
thống hóa và đánh giá các cách tiếp cận nghiên cứu về HTTTKT trong
17
- Về các chu trình kế toán, nhiều DN chưa xây dựng các quy trình
luân chuyển chứng từ trong các chu trình một cách đầy đủ và hoàn chỉnh
bằng văn bản. Hầu hết các quy trình luân chuyển chứng từ của các chu
trình do các kế toán viên tự thực hiện mà chưa thông qua sự phê duyệt
của cấp có thẩm quyền hoặc có quy trình luân chuyển chứng từ nhưng
quy trình được thiết kế chưa hợp lý.
- Về cơ sở hạ tầng CNTT, cơ sở dữ liệu HTTT của ngành logistics còn
nhiều hạn chế. Trang web của các cơ quan chuyên ngành logistics chưa thực
sự mạnh, chưa thực sự hỗ trợ nhiều cho DN, dữ liệu thông tin còn chưa
phong phú, chưa thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.
- Về kiểm soát nội bộ, một số DN chưa nhận thức đầy đủ về phương
pháp tiến hành xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ, không hiểu rõ sự
tương quan của hệ thống kiểm soát nội bộ, hệ thống phòng ban chức
năng và quy trình hoạt động của tổ chức…
3.3.3. Về nguyên nhân của các hạn chế
- Do thiếu hệ thống đào tạo bài bản về HTTTKT và logistics ở Việt
Nam, tiếp đó là do phía các DN logistics Việt Nam. Các DN này thiếu
chủ động trong việc tiếp cận thị trường lao động
- Kiến thức về HTTTKT cũng như về hoạt động logistics của DN còn
nhiều hạn chế do vậy ảnh hưởng đến việc định hướng và tổ chức thực thi
công tác kế toán tại các DN
Biểu đồ 3.12. Ý kiến DN về mức độ hiểu biết về HTTTKT trong
các DN kinh doanh dịch vụ logistics
Chú thích: Thang đo Likert: 1 – không am hiểu
5 – am hiểu rất rõ
Nguồn: Khảo sát của tác giả luận án
- Hệ thống cơ sở hạ tầng CNTT vẫn chưa được đầu tư một cách có trọng điểm
và đồng bộ, nguyên nhân là do thiếu kinh phí đầu tư cho cơ sở hạ tầng CNTT
- Các quy định, chế độ của Nhà nước, Bộ Tài chính chỉ mới chú
trọng đến hệ thống kế toán tài chính, còn vấn đề hướng dẫn về nội dung
kế toán quản trị, tổ chức công tác quản lý ở các DN thì chưa có những
hướng dẫn cụ thể.

16
- Cùng với sự phát triển của tin học hóa, phần mềm tin học, các DN
đã tích hợp các chu trình kế toán với các chương trình phần mềm ứng
dụng để tạo thuận lợi trong công tác thu thập, xử lý, lưu trữ dữ liệu tài
chính kế toán hiệu quả, nhanh chóng và kịp thời.
- Hiện các nhân viên của các DN với ưu thế là đội ngũ lao động trẻ,
năng động đều sử dụng thành thạo, phổ biến HTTT giữa các DN để trao
đổi thông tin với khách hàng và phát hành các loại chứng từ, cập nhật,
lưu trữ các thông tin hàng hóa, phân tích và tổng hợp các số liệu để lập
các báo cáo thống kê một cách kịp thời
- Hệ thống kiểm soát nội bộ được các DN thiết lập trên cơ sở các
biện pháp, chính sách, thủ tục, tinh thần, giá trị, chức năng, thẩm quyền
của những người liên quan và trở thành phương tiện sống còn trong hoạt
động của mọi DN, giúp DN nâng cao năng lực cạnh tranh
3.3.2. Những hạn chế về HTTTKT tại các DN kinh doanh dịch vụ logistics
- Không ít DN vẫn còn xem nhẹ phát triển trình độ đội ngũ kế toán. Các
DN thừa nhận chỉ tập trung vào đào tạo phát triển đội ngũ cán bộ kỹ thuật,
công nghệ, kinh doanh. Vì vậy, khi quy mô kinh doanh ngày càng phát triển
và chiến lược đẩy mạnh hoạt động kinh doanh vươn ra thị trường quốc tế,
công tác quản lý tài chính, quản lý luồng tiền bộc lộ nhiều bất cập.
- Chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên của nhiều DN
còn quá trẻ và chưa có nhiều kinh nghiệm đào tạo nên việc sử dụng các
chương trình kế toán cũng như công tác tổ chức hạch toán kế toán còn
gặp khá nhiều khó khăn trong quá trình khai thác, sử dụng các tính năng
chương trình của nó.
- Hệ thống TKKT DN hiện nay được ban hành theo Thông tư
200/2014 vẫn còn một số tồn tại cần được hoàn thiện như : (1) về tên gọi
TKKT hiện nay còn chưa phù hợp với nội dung kinh tế mà nó phản ánh,
đặc biệt là một số tài khoản phản ánh tình hình thanh toán thuộc loại 1
và loại 3, như tài khoản 131 - Phải thu của khách hàng, tài khoản 331 -
phải trả cho người bán… cần thiết phải sửa lại tên cho đúng với bản chất
kinh tế mà nó phản ánh; (2) về số hiệu và nội dung phản ánh của TKKT
thiếu thống nhất nội dung phản ánh.
- Các DN, báo cáo kế toán phục vụ quản lý chưa đầy đủ, nội dung
còn đơn giản, còn rời rạc, chưa có sự thống nhất và phân tích sâu sắc về
tình hình kinh doanh cho các DN
- Phần mềm kế toán đã góp phần tích cực nâng cao chất lượng của
công tác hạch toán kế toán song phần mềm kế toán hiện tại đang được sử
dụng tại các đơn vị vẫn chưa hỗ trợ hết được các chức năng cần có của
bộ máy kế toán.
9
DN [11] như tiếp cận với tư cách là một HTTT; tiếp cận theo hướng tổ
chức công tác kế toán và bộ máy kế toán; tiếp cận theo phần hành kế
toán; tiếp cận theo chu trình kế toán, tiếp cận theo các yếu tố cấu thành
HTTTKT
2.2.2. Vai trò và chức năng của HTTTKT tại các DN kinh doanh
dịch vụ logistics
a.Vai trò của HTTTKT tại các DN kinh doanh dịch vụ logistics
Vai trò cơ bản của HTTTKT trong một DN là để tạo ra các thông tin
kế toán có chất lượng nhằm mục đích sử dụng trong các quá trình ra quyết
định. Song, chất lượng của thông tin kế toán phụ thuộc rất lớn bởi chất
lượng của HTTTKT, vì vậy, để thực hiện hiệu quả các hoạt động của
mình, các DN cần thiết lập được cho mình một HTTTKT có chất lượng:
Lập kế hoạch chiến lược; kiểm soát quản lý; kiểm soát hoạt động
b. Chức năng của HTTTKT tại các DN kinh doanh dịch vụ logistics
- Thu thập và lưu trữ các dữ liệu và các giao dịch kinh tế diễn ra để
DN có thể giám sát được những sự việc đã xảy ra trong quá trình hoạt
động kinh doanh của mình
- Xử lý số liệu thành các thông tin hữu ích cho việc quyết định nhằm
hỗ trợ các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát
việc thực hiện các kế hoạch đã đặt ra.
- Cung cấp các công cụ kiểm soát để bảo vệ tài sản của DN bao gồm
cả dữ liệu.
2.3. Các yếu tố cấu thành HTTTKT trong các DN kinh doanh
dịch vụ logistics
Tùy thuộc vào mục tiêu và phạm vi nghiên cứu cụ thể mà HTTTKT có
thể được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác. Tương ứng với mỗi cách tiếp
cận thì HTTTKT sẽ được chú trọng đến một hoặc một vài khía cạnh của
hệ thống mà chưa có nghiên cứu nào khái quát một cách đầy đủ, toàn diện
về tất cả các yếu tố cấu thành HTTTKT. Xuất phát từ thực tiễn đó và trong
giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả lựa chọn nghiên cứu
HTTTKT theo cách tiếp cận các yếu tố cấu thành. Theo đó, HTTTKT là
một hệ thống gồm nhiều yếu tố cấu thành có mối liên hệ rất chặt chẽ và
mật thiết, HTTTKT bao gồm các thành phần chính sau đây: (1) con người,
(2) hệ thống chứng từ - tài khoản - sổ và báo cáo kế toán, (3) các chu trình
10
kinh doanh, (4) cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và (5) kiểm soát nội bộ.
Những thành phần này ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lẫn nhau một
cách liên tục để duy trì hoạt động và sự tồn tại cũng như để đạt được các
mục tiêu chung của hệ thống. Trong luận án tác giả cũng đã luận giải hệ
thống các yếu tố cấu thành này của HTTTKT
2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến HTTTKT trong các DN kinh
doanh dịch vụ logistics
HTTTKT liên tục thay đổi cùng với sự thay đổi của môi trường xung
quanh, vì vậy nó được coi là một hệ thống động khi sự phát triển của nó
là nhằm mục tiêu phản ứng lại với những thay đổi của môi trường. Các
nhân tố ảnh hưởng đến HTTTKT của các DN kinh doanh dịch vụ
logistics là điều kiện tiên quyết quyết định sự tồn tại của các DN trên thị
trường. Việc tạo dựng môi trường bên trong và thích ứng với môi trường
bên ngoài tốt sẽ làm cơ sở vững chắc cho các DN cạnh tranh thành công
để tồn tại và phát triển. Các nhân tố ảnh hưởng đến HTTTKT của các
DN kinh doanh dịch vụ logistics có thể được chia làm hai nhóm:
- Nhóm các nhân tố bên trong DN: nguồn lực tài chính; nguồn nhân
lực; nguồn lực cơ sở hạ tầng CNTT; văn hóa doanh nghiệp
- Các nhân tố bên ngoài DN: môi trường kinh tế; môi trường pháp lý;
môi trường CNTT
15
tiền đã thu hoặc sẽ thu được phát sinh từ việc bán hàng hóa hoặc cung
ứng dịch vụ trong kỳ của DN, bao gồm các các khoản phụ thu và phí
thu thêm. Vì thế, chu trình doanh thu đóng vai trò rất quan trọng quyết
định đến sự tồn tại và phát triển của DN kinh doanh dịch vụ logistics.
Chu trình doanh thu của DN cung cấp dịch vụ logistics thường xử lý
nghiệp vụ bằng máy tính tại phòng kế toán.
b. Chu trình chi phí: Tại các DN kinh doanh dịch vụ logistics, chu trình
chi phí gồm các hoạt động cơ bản được thực hiện theo tuần tự của quá
trình mua hàng, dịch vụ và thanh toán tiền hàng cho nhà cung cấp, gồm:
(i) hoạt động đặt hàng, hoạt động nhận hàng, (ii) hoạt động nhận hóa
đơn/ghi nhận công nợ phải trả, (iii) hoạt động thanh toán công nợ phải trả
và kết thúc chu trình là kết xuất các báo cáo phục vụ nhà quản lý (báo cáo
tổng hợp hàng mua/ hàng nhập kho, báo cáo tổng hợp hàng tồn kho, báo
cáo tổng hợp công nợ phải trả theo từng nhà cung cấp/ mặt hàng…).
Ngoài ra, luận án còn tập trung cả chu trình nhân sự, chu trình tài chính…
3.2.4. Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin
Hạ tầng CNTT được xây dựng phù hợp, đồng bộ và hiện đại sẽ đóng
vai trò hết sức quan trọng trong việc giảm chi phí hoạt động, gia tăng
hiệu quả và thúc đẩy sự phát triển của DN. Vì thế, trong những năm gần
đây, việc cải thiện cơ sở hạ tầng CNTT đã được Nhà nước, các ngành
cũng như các DN hoạt động trong lĩnh vực logistics ở Việt Nam hết sức
quan tâm và chú trọng đẩy mạnh phát triển.
3.2.5. Kiểm soát nội bộ
Tại các DN kinh doanh dịch vụ logistics, việc xây dựng hệ thống
kiểm soát nội bộ thường chỉ tập trung vào các chỉ số kinh tế - tài chính
và kết quả cuối cùng với thói quen tìm lỗi, đổ trách nhiệm chứ ít chú
trọng kiểm tra, kiểm soát toàn bộ hoạt động của tổ chức, lấy ngăn chặn,
phòng ngừa là chính. Đây chính là một trong các điểm yếu mà các DN
cần khắc phục để nâng cao sức cạnh tranh khi hội nhập quốc tế.
3.3. Đánh giá khái quát thực trạng HTTTKT tại các DN kinh
doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam
3.3.1. Những kết quả đạt được về HTTTKT tại các DN kinh doanh
dịch vụ logistics
- Các DN kinh doanh dịch vụ logistics đã nhận thức rõ tầm quan trọng của bộ
máy kế toán với tác dụng huy động, khai thác nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu
cầu kinh doanh, tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả cho DN.
- Nhiều DN đã nhanh chóng áp dụng phần mềm kế toán, nhờ đó tốc độ
thực hiện các nghiệp vụ kế toán được đẩy nhanh, số liệu từ các chứng từ sổ
kế toán được tập hợp và quản lý một cách thống nhất.

