Xem lại ý kiến của Lỗ Tấn đối với Đào Tiềm (qua phân tích vài thiên tạp văn của tác giả)

Chia sẻ: Vixyliton Vixyliton | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
11
lượt xem
1
download

Xem lại ý kiến của Lỗ Tấn đối với Đào Tiềm (qua phân tích vài thiên tạp văn của tác giả)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đại văn hào Lỗ Tấn (1881 - 1936) từng có bài đánh giá cao phong cách tự nhiên, trọng yên bình của thi nhân thời Đông Tấn và nhắc nhở các nhà phê bình nên chú ý thích đáng tới tinh thần quan tâm chính sự, xã hội trong thơ Đào Tiềm. Bài viết qua việc phân tích các thiên tạp văn của Lỗ Tấn để nhận thức lại chân tinh thần của tác giả bài ca Quy Khứ - Đào Tiềm.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Xem lại ý kiến của Lỗ Tấn đối với Đào Tiềm (qua phân tích vài thiên tạp văn của tác giả)

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE<br /> Social Sci., 2017, Vol. 62, No. 2, pp. 82-87<br /> This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn<br /> <br /> DOI: 10.18173/2354-1067.2017-0013<br /> <br /> XEM LẠI Ý KIẾN CỦA LỖ TẤN ĐỐI VỚI ĐÀO TIỀM<br /> (QUA PHÂN TÍCH VÀI THIÊN TẠP VĂN CỦA TÁC GIẢ)<br /> 1<br /> <br /> Nguyễn Thị Mai Chanh và 2 Lê Thời Tân<br /> <br /> 1 Khoa<br /> <br /> Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội<br /> Xã hội, Trường Đại học Thủ đô<br /> <br /> 2 Khoa<br /> <br /> Tóm tắt. Đào Uyên Minh (365 - 427) được coi là “ông tổ” trong hàng các thi nhân ẩn<br /> dật, là người mở đầu của thơ điền viên Trung Hoa. Với phong cách tự nhiên, giản phác,<br /> thơ ca cũng như nhân cách của ông có ảnh hưởng sâu sắc tới nhiều thế hệ văn nhân Trung<br /> Quốc đời sau. Đại văn hào Lỗ Tấn (1881 - 1936) từng có bài đánh giá cao phong cách tự<br /> nhiên, trọng yên bình của thi nhân thời Đông Tấn và nhắc nhở các nhà phê bình nên chú<br /> ý thích đáng tới tinh thần quan tâm chính sự, xã hội trong thơ Đào Tiềm. Theo Lỗ Tấn,<br /> chính khuynh hướng “tầm chương trích cú” phiến diện của một số nhà phê bình đã khiến<br /> cho người đời có ấn tượng sai lạc rằng Đào Tiềm là thi nhân “siêu thoát” yêu chuộng nhàn<br /> tĩnh, mà quên đi rằng Đào Tiềm cũng bộc lộ trong thơ tâm tư ưu thời và phê phán thế cuộc<br /> tích cực. Và đó cũng là điều khiến cho Đào Tiềm trở nên vĩ đại. Song một vài thiên tạp văn<br /> của Lỗ Tấn lại cho thấy văn hào không mấy cảm tình với thi nhân Đào Tiềm. Bài viết qua<br /> việc phân tích các thiên tạp văn của Lỗ Tấn để nhận thức lại chân tinh thần của tác giả bài<br /> ca Quy Khứ - Đào Tiềm.<br /> Từ khóa: Lỗ Tấn, Đào Tiềm, thơ điền viên, ẩn dật, Gào Thét, Quy Khứ.<br /> <br /> 1.<br /> <br /> Mở đầu<br /> <br /> Có xu hướng cho rằng, Đào Tiềm ngay từ đầu đã muốn lánh đời và diễn tả việc ông quy<br /> điền như là hành động ẩn dật khí tiết. Trong khi không ít người đọc thơ ông như là một thứ thơ<br /> điền viên tùng cúc sương mai ráng chiều “ưu tai du tai” - an nhàn thảnh thơi. Cách hiểu ấy nếu<br /> không nói là hời hợt thì cũng là một lối “mĩ miều hóa” dễ dãi. Một cuốn từ điển thành ngữ tiếng<br /> Hán sau khi giải thích thành ngữ “ưu tai du tai” là “an nhàn thảnh thơi”, đã đặt câu minh họa: “Đào<br /> Uyên Minh nửa đời còn lại ẩn cư chốn sơn dã, an nhàn thảnh thơi, sống cuộc sống điền viên bay<br /> bổng tựa thần tiên”. Cụm từ đó cũng từng được Lỗ Tấn dùng đến khi miêu tả cuộc sống của ẩn<br /> sĩ trong thiên tạp văn cùng tên Ẩn Sĩ (đăng lần đầu trên quyển 1 kì 10 bán nguyệt san Thái Bạch,<br /> Thượng Hải, 20/2/1935). Trong hoàn cảnh cổ súy hành động cho phong trào Ngũ Tứ đương thời,<br /> việc đả kích bộ phận trí thức chọn đường ẩn dật “trùm mền” có thể đã khơi gợi được những đồng<br /> tình nhất định. Tuy vậy, việc Lỗ Tấn hướng ngòi bút phê phán vào cả Đào Uyên Minh, chúng tôi<br /> không hoàn toàn nhất trí. Bài viết này qua phân tích một số thiên tạp văn của Lỗ Tấn để nhận thức<br /> lại chân tinh thần của tác giả bài ca Quy Khứ.<br /> Ngày nhận bài: 11/11/2016. Ngày nhận đăng: 20/2/2017<br /> Liên hệ: Nguyễn Thị Mai Chanh, e-mail: maichanhnguyen@gmail.com<br /> <br /> 82<br /> <br /> Xem lại ý kiến của Lỗ Tấn đối với Đào Tiềm (qua phân tích vài thiên tạp văn của tác giả)<br /> <br /> 2.<br /> 2.1.<br /> <br /> Nội dung nghiên cứu<br /> Nông phu đâu có người hầu<br /> <br /> Lỗ Tấn, trong Thả Giới Đình Tạp Văn viết: “Phàm là ẩn sĩ có tiếng tăm, anh ta vốn đã có<br /> cái hạnh phúc “Gượm sống hết đời trong an nhàn thảnh thơi”. Nếu không thế, sáng đốn củi, ngày<br /> cày ruộng, chiều tối nấu nướng, đêm khâu giày thì còn đâu nhàn rỗi để hút thuốc uống trà, ngâm<br /> thơ viết văn. Đào Uyên Minh là một bậc đại ẩn danh tiếng vang lừng, một “thi nhân điền viên”.<br /> Đương nhiên ông không ra báo, mà cũng làm gì được tiền “Quỹ tài trợ học bổng”, nhưng ông lại<br /> có nô bộc (nguyên văn nô tử). Nô bộc thời Hán - Tấn không chỉ hầu hạ chủ đồng thời cũng cấy cày,<br /> buôn bán cho chủ. Đó là công cụ kiếm tiền của chủ. Cho nên dù là Uyên Minh, tiên sinh cũng có<br /> chút sinh tài kiếm lợi. Nếu không ông cụ nhà ta không những không có rượu uống mà cũng chẳng<br /> có cả cơm mà ăn, chết đói bên bờ dậu phía đông từ lâu rồi” [1].<br /> Việc Lỗ Tấn mỉa mai hạng “ẩn sĩ” chỉ “đốn củi”, “câu cá” trong thơ không phải là không<br /> đúng. Vấn đề là Đào Tiềm có đúng thuộc hạng đó không. Lỗ Tấn có ý cho rằng “ẩn” chẳng qua<br /> cũng chỉ là một cách kiếm cơm mà thôi. Và ông dường như không tin là Đào Tiềm có cày ruộng<br /> cuốc vườn thật sự. Chẳng cần chỉ ra việc Lỗ Tấn đã tầm chương trích cú những câu viết về đề tài<br /> ẩm tửu trong thơ Đào Uyên Minh nhằm mục đích phê phán đời sống ẩn dật an nhàn hưởng thụ ra<br /> sao. Học giả có người từng chỉ ra Lỗ Tấn khi viết như thế đã căn cứ vào một chi tiết trong Đào<br /> Tiềm Truyện của Tiêu Thống đời Lương thời Nam triều. Truyện kể, Đào Tiềm nhà nghèo; ban đầu<br /> làm Tế Tửu (chức quan trông coi giáo dục hàng tỉnh ngày nay), song không kham được, nên chẳng<br /> bao lâu bỏ việc về nhà. Được châu quận vời làm Chủ Bạ (công việc tương tự như văn phòng hoặc<br /> văn thư ủy ban tỉnh ngày nay), nhưng ông không ra, ngày ngày tự cày cuốc nuôi nhà nuôi mình,<br /> trong khi thân mắc tật bệnh. Thứ Sử Giang Châu là Đàm Đạo Tế đến thăm, thấy Đào già cả ốm<br /> đói nằm bệt giường đã mấy ngày, nói: “Hiền nhân xử thế, thiên hạ vô đạo thì ẩn cư, hữu đạo thì ra<br /> làm quan. Nay ông sống thời thịnh trị làm sao lại tự làm khổ mình như vậy?”. Đào đáp: “Tiềm tôi<br /> sao dám làm người hiền, chỉ là chí hướng không theo kịp vậy”. Đạo Tế biếu tặng lương thực thịt<br /> thà. Đào Tiềm khoát tay chối từ. Sau Đào Tiềm làm Chấn Quân, Kiến Uy Tham Quân (chức quan<br /> tham nghị luận định việc quân cơ). Ông nói với bạn: “Những muốn đàn ca dành tiền cất ngôi nhà<br /> ẩn thân có nên không?”. Quan phương có người nghe vậy cử ông làm Bành Trạch Lệnh (Huyện<br /> Lệnh tương đương Tri Huyện về sau). Ông đến huyện nhậm chức không mang gia quyến đi theo.<br /> Đào Tiềm gửi một lực điền (nguyên văn “lực tử” - áng chừng chỉ một người lao động chân tay được<br /> thuê mướn) cầm theo thư về cho người con trai cả. Thư viết: “Chi phí tiêu pha hàng ngày tự con<br /> khó mà bảo đảm. Nay sai về một kẻ giúp việc, đỡ đần vào việc đốn củi gánh nước. Anh ta cũng là<br /> con nhà người ta, con nên đối đãi tử tế”. Công điền trong huyện, Đào Tiềm lệnh trồng cao lương,<br /> nói: “Để đủ nấu rượu uống vậy”. Vợ con cố xin cho trồng lúa nên ông mới ra lệnh để hai khoảnh<br /> năm mươi mẫu trồng cao lương, năm mươi mẫu trồng lúa (có chênh sai về số công điền trồng cao<br /> lương hay trồng lúa trong các thuật kể về Đào Tiềm trong sử truyện). Năm hết, gặp lúc châu quận<br /> phái Đốc Bưu (có học giả cho đây là chức quan trợ lí trực tiếp cho Quận Thú - Thái Thú của quận,<br /> cấp hành chính trên huyện. Đốc Bưu đại để phụ trách truyền đạt chỉ thị cấp trên, giám sát thanh<br /> tra cấp dưới) xuống huyện. Sai nha khuyên ông áo mũ cân đai ra đón. Ông than: “Ta há lại vì năm<br /> đấu gạo mà khom lưng khúm núm trước đứa trẻ con nhà quê?”. Ngay hôm đó ông treo ấn từ quan,<br /> viết bài Quy Khứ lai từ. Triều đình vời làm Trước Tác Lang nhưng ông không nhận. Giang Châu<br /> Thứ Sử Vương Hồng muốn gặp nhưng không mời được ông [2].<br /> Như ta đọc thấy, Đào Tiềm một mình đến nhận chức Bành Trạch Huyện Lệnh, không mang<br /> theo gia quyến. Rất có thể trong lần ra làm quan này, ngay lúc lên đường, ông đã nghĩ đến chuyện<br /> sớm về. Rằng phen này cũng chỉ là thử một chuyến nữa xem sao mà thôi. Và sự thực là không đầy<br /> 83<br /> <br /> Nguyễn Thị Mai Chanh và Lê Thời Tân<br /> <br /> ba tháng sau, ông quả đã quay về với tùng cúc vườn nhà. Cầm ấn quan huyện thời gian 80 ngày,<br /> không biết công điền lúa đã gặt về đến sân chưa? Còn kẻ “lực tử” kia rất có thể cũng chỉ là một<br /> công bộc ở nha môn huyện lệnh. Đào Tiềm lúc đó nhà thiếu người làm (con cả tên Nghiễm bấy<br /> giờ mới 13 tuổi), nên mới sai người này về nhà đỡ đần việc nặng nhọc giúp vợ con. Nếu đúng vậy<br /> thì khi ông bỏ chức huyện lệnh, người này đương nhiên cũng phải được trả về nha môn. Đọc thư<br /> ông gửi các con, ta có thể phỏng đoán nếu người giúp việc đó là người hầu vốn có trong nhà thì<br /> ông việc gì phải dặn con như vậy. Mười năm sau khi tuổi qua năm mươi, con cái cũng đã có đứa<br /> lớn khôn, ông lại nhắc lại chuyện xưa. Xin đọc một đoạn trong bài Viết dặn các con viết năm ông<br /> 51 tuổi:<br /> “Bảo với các con Nghiễm, Sĩ, Phần, Dật, Đồng: Trời đất cho ta sinh mệnh, có sinh ắt có tử.<br /> Bậc thánh hiền tự cổ có ai tránh được lẽ này. Tử Hạ nói: “Sống chết có số, phú quý tại trời”. Bốn<br /> đồ đệ của Khổng Tử được người dạy bảo trực tiếp cũng đều nói vậy, đủ thấy bần cùng hay hiển đạt,<br /> trường thọ hay đoản mệnh đều không phải mình muốn mà được vậy. Cha tuổi đã qua năm mươi.<br /> Hồi nhỏ nghèo khổ, cứ khi trong nhà túng bấn thường phải đôn đáo ngược xuôi. Tính khí cương<br /> trực mà tài ứng phó kém vụng, ra đời giao thiệp thường va vấp, bất hòa. Tự nghĩ cứ đà đó nhất định<br /> để lại tai vạ ở đời, thế nên gắng gỏi từ quan lánh thân về vườn. Việc đó khiến các con còn nhỏ đã<br /> gặp cảnh cơ hàn. Cha thường nghĩ ngợi câu nói vợ ông Nhữ Trọng: “Mình mặc áo bông rách, còn<br /> thẹn được gì với con cái nữa?”. Đấy là một chuyện. Chỉ tiếc láng giềng không có người như anh<br /> em Cầu Trọng Dương Trọng, trong nhà không có vợ hiền như vợ Lão Lai Tử. Ôm nỗi khổ tâm,<br /> trong lòng rất thẹn. Tuổi nhỏ học đàn xem sách, tính thích nhàn tĩnh. Mở sách đọc gặp điều tâm<br /> đắc phấn khích đến quên ăn. Nhìn thấy cây cối đan cành chung bóng, nghe tiếng chim các loại mỗi<br /> mùa mỗi khác mà lòng vui tươi. Ta thường nói: “Tháng năm, tháng sáu nằm bên cửa sổ phía bắc,<br /> thỉnh thoảng có cơn gió mát thổi qua cảm thấy mình như dân đời Phục Hy vậy”. Nghĩ nông tính<br /> cạn, tưởng đời có thể giữ được thế mãi. Năm tháng dần qua, mà mình thì lại xa lạ với chuyện bợ<br /> đợ khéo khôn. Mong ước được như thưở cũ đã trở nên xa xôi mờ mịt. Từ ngày ta đau ốm đến giờ,<br /> người ngày một yếu. Thân thích bạn bè không quên ta, thường vẫn cho thuốc chạy chữa. Nhưng ta<br /> lo mình chẳng sống được bao lâu. Các con từ nhỏ cảnh nhà khốn khó, chặt củi gánh nước có lúc<br /> nào được ngơi. Những chuyện đó ta nhớ nghĩ trong lòng mà cũng chẳng biết nói sao ra lời” [3].<br /> Quy Khứ lai từ hề của Đào Tiềm tả cảnh người nhà đón đợi ông quan từ chức về vườn:<br /> “Chạy đón chủ năm ba đầy tớ, Đứng chờ ông mấy đứa trẻ con” (Bản dịch Từ Long). Đọc những<br /> câu ông miêu tả cảnh vườn lúc về mà cứ tưởng như chủ nhân đã xa nhà làm quan cả chục năm<br /> trời: “Đi về sao chẳng về đi? Ruộng hoang vườn rậm còn chi không về?. . . Rầm rì mấy khóm con<br /> con, Mấy cây tùng cúc hãy còn như xưa”. Tám mươi ngày làm quan xa nhà đâu đến nỗi vườn tược<br /> hoang tàn được đến thế. Chẳng qua vẫn là cái tinh thần quy khứ. Có người nói, đọc khắp thơ văn<br /> ông đến đây mới thấy câu có chữ “đồng bộc” (đứa hầu). Mà thực ra thì đó chẳng qua rất có thể<br /> cũng chỉ là một cách nói cao nhã trong văn chương mà thôi. Như bạn thân của ông là Nhan Đình<br /> Chi cũng từng nói rõ trong Đào Trưng Sĩ lỗi: “Đào Tiềm thuở nhỏ nghèo khổ, cuộc sống không có<br /> thê thiếp hay kẻ hầu hạ”. Xin lưu ý bài văn điếu bạn này (lỗi là một thể văn kiểu văn tế, điếu văn)<br /> là tài liệu duy nhất được viết bởi một người có đi lại giao du với Đào Tiềm còn lưu lại đến ngày<br /> nay. Thử đọc một đoạn trong tác phẩm của Nhan Đình Chi:<br /> “Kẻ sĩ từng được vời ra làm quan dưới đời Tấn người đất Tầm Dương - Đào Uyên Minh ấy<br /> chính là người ẩn thân nơi vắng lặng dưới chân Nam Nhạc. Tuổi nhỏ không ham chơi đùa, lớn lên<br /> một tấm lòng thành thực. Đi học cũng chẳng được thầy ưng ý nhưng văn chương viết ra ý chỉ rất<br /> là thông đạt. Giữa đông người mà vẫn không mất dáng cô đơn, nói năng khiêm nhường càng lộ<br /> vẻ trầm mặc. Tuổi thiếu niên nhà nghèo lắm bệnh, không thê thiếp người hầu. Gánh nước giã gạo<br /> việc nặng sức khó kham, rau cỏ hoa màu cũng chẳng phải là luôn đủ. Mẹ già con nhỏ, dưỡng nuôi<br /> 84<br /> <br /> Xem lại ý kiến của Lỗ Tấn đối với Đào Tiềm (qua phân tích vài thiên tạp văn của tác giả)<br /> <br /> thường thiếu. . . Về sau làm huyện lệnh Bành Trạch. Đạo và đời không hòa hợp, bỏ quan để theo<br /> việc mình thích. Gỡ bỏ ràng buộc với thế nhân, nuôi chí gác thân ngoài cục thế. Ẩn tích nơi sâu<br /> vắng, cách trần ai càng xa. Tưới vườn bán rau lo việc giỗ chạp tế đám; Đan giày dệt chiếu đỡ đần<br /> chuyện thóc gạo tiêu pha” [2].<br /> Không phải ngẫu nhiên mà Tiêu Thống đã đưa thêm bài văn tế này vào bộ Chiêu Minh Văn<br /> Tuyển (ở quyển 57) như là để dẫn giải thuyết minh thêm về Đào Tiềm - một tác gia đã được ông<br /> chọn đưa vào công trình sưu biên danh tiếng của mình. Một điều không khó thấy là toàn bộ các<br /> văn bản trần thuật về Đào Tiềm, từ Nhan Đình Chi đến Tống Thư, Tấn Thư, Nam Sử, cũng như<br /> trần thuật của chính Đào Tiềm về bản thân (tác phẩm có tính cách tự truyện Ngũ Liễu Tiên Sinh,<br /> bài Tựa của Quy Khứ lai hề, rồi cả bài Dữ tử Nghiễm đẳng sớ - Viết dặn các con) cho tới bài văn<br /> tế tự viết lấy (Tự Tế Văn) đều thống nhất với nhau trên những nội dung cơ bản về đời sống, tính<br /> cách của Đào Tiềm. Tất cả các trần thuật đó cùng với bản thân thơ ông hoàn toàn đã cung cấp đủ<br /> chất liệu để vẽ lên một bức chân dung Đào Uyên Minh với những gam màu cơ bản, hài hòa. Vì<br /> vậy, chúng ta có quyền băn khoăn muốn biết Lỗ Tấn rốt cuộc đã căn cứ vào đâu để phán định Đào<br /> Tiềm sống cuộc sống ẩn dật thanh nhàn là dựa vào sức lao động của nô bộc?<br /> <br /> 2.2.<br /> <br /> Ai cấm kẻ nghèo làm thơ<br /> <br /> Lỗ Tấn dường như cũng không tin trong cảnh bần hàn mà lại có thể sáng tác văn chương.<br /> Trong một thiên tạp văn nhan đề “Bàng bích” chi hậu (đăng lần đầu trên tuần báo Ngữ Ti, kì 29,<br /> ngày 1/6/1925, sau in gom vào Hoa Cái Tập), ông lại nhắc đến Đào Tiềm:<br /> “Tôi ngày thường vẫn hay nói với các bạn sinh viên trẻ: Lời của cổ nhân “cùng sầu tác thư”<br /> (sầu muộn bần cùng ngồi viết sách) thực không đáng tin. Nghèo rớt mồng tơi, sầu đến chết người,<br /> còn đâu nhàn tình dật chí mà viết văn? Chúng tôi chưa từng thấy một kẻ chết đói chờ việc nào<br /> ngâm thơ bên khe núi. Tiếng nói phát ra dưới roi vọt của kẻ tù đày chẳng qua chỉ là tiếng la hét. . .<br /> Cao giọng ngâm nga “Đói khát xô xui ta ra khỏi nhà” như ông Đào Trưng Sĩ chắc lúc đó hoặc là<br /> đã có ý say rồi!” [4].<br /> Lỗ Tấn dẫn câu thơ “Đói khát xô xui ta ra khỏi nhà” của Đào Tiềm và phỏng chừng tác giả<br /> của nó đã say rượu. Mười năm sau, trong một bài tạp văn nhan đề Bệnh hậu Tạp đàm, đăng Nguyệt<br /> San Văn học số 2 quyển 4 tháng 2/1935 (gần như cùng một thời gian với bài Ẩn Sĩ đề cập trên),<br /> Lỗ Tấn lần nữa dẫn lại câu này. Thiên tạp văn mỉa mai hạng người mà nhà văn gọi là “nhã sĩ”. Lỗ<br /> Tấn nói đại ý, muốn “nhã” thì cũng phải có địa vị và tiền bạc, chẳng hạn như Đào Uyên Minh có<br /> chút chức quan huyện lệnh thì mới “nhã” được.<br /> Liền đó, tác giả AQ Chính Truyện ngồi đặt tình huống Đào Tiềm giả sử ngày nay sống lại,<br /> nhận nhuận bút bèo bọt hiện thời mà thuê nhà có hàng rào hoa cúc để dạo hái thì mỗi tháng cần<br /> phải viết bao nhiêu trang? Đấy là chuyện ở, còn cơm ăn thì - xin dẫn nguyên văn Lỗ Tấn: “còn phải<br /> nghĩ thêm cách khác nữa. Nếu không thì ông ta đành chỉ biết “Cơ lai khu ngã khứ, Bất tri cánh hà<br /> chi” (Đói khát xô xui ta ra khỏi nhà, Không biết đến đâu đã là đâu - hai câu mở đầu của bài thơ<br /> Xin ăn).<br /> Lỗ Tấn chắc phải biết Đào Uyên Minh ghế quan huyện ngồi không đến ba tháng và ngôi<br /> nhà có hàng rào trồng cúc của họ Đào không phải là được tậu hay thuê từ “thu nhập” nghề quan.<br /> Mà thực ra, kẻ bỏ huyện đường về vườn đó cũng không tự xem việc nhẩn nha hái cúc bên rào (thái<br /> cúc đông lí hạ) ngôi nhà nhà mình là cao nhã. Đọc thiên tạp văn của Lỗ Tấn, độc giả không hiểu<br /> vì sao nhà văn đang từ chuyện nhà ông ông ở, vườn ông ông cuốc lại kéo nhập vào chuyện thuê<br /> nhà có hàng rào trồng hoa cúc? [1].<br /> Độc giả đều biết câu thơ của Đào Tiềm mà Lỗ Tấn dẫn trên chính là câu mở đầu của bài<br /> 85<br /> <br /> Nguyễn Thị Mai Chanh và Lê Thời Tân<br /> <br /> Khất Thực nổi tiếng. Đọc một lượt bài thơ này, ta thấy khó mà nói đó là lời của một “người say”:<br /> “Cơ lai khu ngã khứ, Bất tri cánh hà chi; Hành hành chí tư lí, Khấu môn chuyết ngôn từ; Chủ nhân<br /> giải dư ý, Di tặng khỉ hư lại; Đàm hài chung nhật tịch, Thương chí triết khuynh bôi; Tình hân tân<br /> tri hoan, Ngôn vịnh toại phú thi; Cảm tử Phiếu Mẫu ý, Quý ngã phi Hàn tài; Hàm trấp tri hà tạ,<br /> Minh báo dĩ tương di” (Đói khát xô xui ta ra khỏi nhà, Không biết đến đâu đã là đâu; Bước lần tới<br /> ngôi làng, Gõ cửa rồi mà không biết nói sao; Chủ nhân biết ý ta, Mang đồ ra cho khiến việc đến<br /> xin không uổng công; Nói chuyện tương đắc quên ngày sắp tối, Rượu rót đầy cốc cốc liền vơi; Vui<br /> mừng vì thêm người bạn mới, Tức cảnh viết thành bài thơ; Cảm cái ý Phiếu Mẫu cứu khốn của<br /> người mà thẹn ta không có cái tài của Hàn Tín; Mang ơn không biết cảm tạ ra sao, Chỉ biết cầu<br /> quỷ thần báo đáp!) [3].<br /> Huống nữa, thực tế là không cứ “cùng đáo thấu đỉnh, sầu đắc yếu tử đích nhân” (nghèo rớt<br /> mồng tơi, sầu đến chết người) thì chắc chắn không còn “nhàn tình dật chí lai trước thư” (có nhã<br /> hứng sáng tác). Sự thực thì bao kẻ nhàn tình dật chí mà không hẳn đã muốn cầm đến cây bút.<br /> Ngược lại, biết bao trước tác để đời lại thường được viết ra trong cảnh “cùng đáo thấu đỉnh, sầu<br /> đắc yếu tử”. Hàn Dũ trải cảnh cùng, viết văn làm thơ và nói “bất bình tắc minh”; Tư Mã Thiên gặp<br /> cảnh sầu muộn soạn Sử kí để đời. Lỗ Tấn há chẳng biết đó chính là những điều mà tiền nhân gọi<br /> là “bất bình tắc minh”, “tàng chi danh sơn,... truyền chi kì nhân”. Tô Đông Pha đi đày nói thơ văn<br /> “cùng tắc hậu công”. Có thể nói, hàng loạt tác phẩm lớn của tác gia Trung Hoa từ Sử kí (Tư Mã<br /> Thiên), Nho lâm ngoại sử (Ngô Kính Tử), Hồng lâu mộng (Tào Tuyết Cần). . . đều là tác phẩm của<br /> những kẻ lâm cảnh cùng quẫn sầu đau cả. Gào thét và Bàng hoàng của chính Lỗ Tấn cũng là sản<br /> phẩm của cảnh huống tương tự.<br /> Thực ra, việc Đào Tiềm cày lấy thóc ăn khác chi việc Lỗ Tấn sống bằng ngòi bút. Khi cuộc<br /> vận động Ngũ Tứ bắt đầu cũng là lúc văn hào từ biệt thôn trấn, chuyển cả đại gia đình lên Bắc Kinh<br /> sống đời công chức. Kể từ đó, quê nhà của ông, dùng đúng đầu đề một thiên truyện nổi tiếng của<br /> nhà văn, đã trở thành Cố hương. Chỉ đến mười năm cuối đời, Lỗ Tấn mới không còn thu nhập từ<br /> tiền đi dạy hay lương công chức (Lỗ Tấn từng đảm nhận một số chức vụ quan trọng - không muốn<br /> gọi ông là “quan” thì cũng phải thừa nhận ông từng là viên chức cao cấp của chính quyền thời<br /> Dân Quốc) hoàn toàn sống bằng ngòi bút. Mười năm cuối đời (1926 - 1936), Lỗ Tấn chuyển tới<br /> Thượng Hải và sống trong một tô giới lớn (Shanghai International Settlement, thành lập khoảng<br /> những năm 40 thế kỉ XIX). Môi trường hành chính - chính trị đặc thù của tô giới bảo hộ việc viết<br /> lách cũng như an toàn nhân thân cho Lỗ Tấn. Từ một góc độ nào đó mà nói, ấy cũng là “ẩn cư” và<br /> cuộc sống của ông lúc đó khá phong lưu. Thực tế cho thấy, đời ông là một cuộc tị nạn từng chặng<br /> một: bỏ Thiệu Hưng đi Nam Kinh, Bắc Kinh; rời Bắc Kinh đi Quảng Châu; rồi bỏ ra Thượng Hải.<br /> Rốt cuộc, Lỗ Tấn đâu có trụ lại ở Bắc Kinh hay Quảng Châu - những nơi được xem là đầu sóng<br /> ngọn gió của phong trào hành động lúc bấy giờ.<br /> Tất nhiên, hai thiên tạp văn thể hiện tập trung hai nhận xét của Lỗ Tấn về Đào Tiềm mà bài<br /> viết đã tập trung phân tích trên đây viết cách nhau cả mười năm trời (1925 - 1935). Và dĩ nhiên<br /> đó không phải là toàn bộ ý kiến của Lỗ Tấn về Đào Tiềm. Trong quãng thời gian ấy, ông còn nhắc<br /> đến Đào Tiềm trong vài ba lần khác. Chẳng hạn, trong bài nói chuyện học thuật tại Quảng Châu<br /> (tháng 9/1927) nhan đề “Mối quan hệ giữa dược liệu, rượu và văn chương cùng phong độ Ngụy Tấn” [5], Lỗ Tấn cho rằng, Đào Tiềm có phong cách tự nhiên, trọng yên bình. Đồng thời Lỗ Tấn<br /> cũng nhắc nhở các nhà phê bình nên chú ý thích đáng tới tinh thần quan tâm chính sự, xã hội trong<br /> thơ Đào Tiềm. Theo ông, chính khuynh hướng “tầm chương trích cú” phiến diện của các nhà phê<br /> bình đã khiến cho người đời có ấn tượng sai lạc rằng Đào Tiềm là thi nhân “siêu thoát” yêu chuộng<br /> nhàn tĩnh, mà quên đi rằng Đào Tiềm cũng bộc lộc trong thơ tâm tư ưu thời và phê phán thế cuộc<br /> tích cực [1]. Chúng ta dễ dàng đồng ý với Lỗ Tấn về điểm này. Và chúng ta cũng có thể cho rằng,<br /> 86<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản