intTypePromotion=3

Áp dụng hoạt động viết nhật ký trong dạy kỹ năng viết tiếng Anh tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội: Thực trạng và giải pháp

Chia sẻ: ViKakashi2711 ViKakashi2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
7
lượt xem
0
download

Áp dụng hoạt động viết nhật ký trong dạy kỹ năng viết tiếng Anh tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội: Thực trạng và giải pháp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu này tìm hiểu thực trạng việc áp dụng hoạt động viết nhật ký trong dạy kỹ năng viết cho sinh viên tiếng Anh tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Tham gia nghiên cứu là 119 sinh viên năm thứ nhất và bốn giảng viên dạy môn kỹ năng Viết tiếng Anh cho các sinh viên.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Áp dụng hoạt động viết nhật ký trong dạy kỹ năng viết tiếng Anh tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội: Thực trạng và giải pháp

  1. v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY ÁP DỤNG HOẠT ĐỘNG VIẾT NHẬT KÝ TRONG DẠY KỸ NĂNG VIẾT TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀNG NGỌC TUỆ*; TRẦN THỊ DUYÊN**; VŨ THỊ NHUNG***; NGUYỄN THỊ HUYỀN**** Đại học Công nghiệp Hà Nội,  tuehoang77@gmail.com * ** Đại học Công nghiệp Hà Nội, tranduyen1178@gmail.com *** Đại học Công nghiệp Hà Nội,  nhungvund330@gmail.com **** Đại học Công nghiệp Hà Nội,  huyennt154@gmail.com Ngày nhận bài: 29/3/2018; ngày sửa chữa: 21/5/2018; ngày duyệt đăng: 20/6/2018 TÓM TẮT Nghiên cứu này tìm hiểu thực trạng việc áp dụng hoạt động viết nhật ký trong dạy kỹ năng viết cho sinh viên tiếng Anh tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Tham gia nghiên cứu là 119 sinh viên năm thứ nhất và bốn giảng viên dạy môn kỹ năng Viết tiếng Anh cho các sinh viên. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ bảng khảo sát sinh viên, phỏng vấn cá nhân với đại diện sinh viên và các giảng viên, cùng với việc phân tích các tập nhật ký của sinh viên. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động viết nhật ký có tiềm năng hỗ trợ tốt cho việc học tiếng Anh của sinh viên, đặc biệt là phát triển kỹ năng viết và kỹ năng tự học. Tuy nhiên, một số chi tiết hiện tại giảng viên đang áp dụng có thể làm hạn chế hiệu quả của hoạt động. Do vậy, nghiên cứu đã đưa ra một số đề xuất nhằm cải tiến việc áp dụng hoạt động viết nhật ký hiện nay tại trường và giúp cho các giảng viên khác muốn áp dụng hoạt động viết nhật ký trong giảng dạy. Từ khóa: kỹ năng chiêm nghiệm, kỹ năng tự học, kỹ năng viết, tư duy phê phán, viết nhật ký 1. ĐẶT VẤN ĐỀ động viết nhật ký cũng có thể giúp cung cấp cho giảng viên thông tin về cuộc sống, tư duy, quan Viết nhật ký là một hoạt động được áp dụng điểm thái độ của của người học để giảng viên có khá phổ biến trong giảng dạy ngoại ngữ ở nhiều thể có những chỉ dẫn phù hợp, kịp thời nhằm hỗ nơi trên thế giới. Nghiên cứu chỉ ra rằng, viết nhật ký bằng ngôn ngữ đích có thể giúp người học phát trợ cho sinh viên học tập hiệu quả (Castellanos, triển các kỹ năng ngôn ngữ và kỹ năng học tập, 2008). Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, đặc biệt kỹ năng viết và kỹ năng tư duy phê phán, hiệu quả của hoạt động viết nhật ký có thể thay chiêm nghiệm và kiểm soát việc học của bản thân đổi phụ thuộc vào cách triển khai và bối cảnh giáo (Herrero, 2007; Lee, 2013; Walker, 2006). Hoạt dục tại nơi triển khai. Tại trường Đại học Công KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 46 Số 14 - 7/2018
  2. PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v nghiệp Hà Nội (ĐHCNHN), hoạt động viết Nhật chung, có bốn loại chính: Nhật ký cá nhân (personal ký bằng tiếng Anh (Journal Writing) đã được triển journals), Nhật ký chuyên môn (professional khai trong giảng dạy môn Viết 2 cho sinh viên năm journals), Nhật ký hội thoại (dialogues journals) thứ nhất - chuyên ngành ngôn ngữ Anh tại trường và Nhật ký phản ánh (reflective journals) (Lee, được hơn 3 năm, tuy nhiên chưa có nghiên cứu 2013). Trong đó, Nhật ký cá nhân và Nhật ký phản nào được thực hiện để tìm hiểu về việc áp dụng ánh là phù hợp để áp dụng trong chương trình này. Bởi vậy, nhóm nghiên cứu đã quyết định tiến giảng dạy kỹ năng viết tiếng Anh. Nhật ký cá nhân hành nghiên cứu để tìm hiểu về thực trạng việc áp ghi lại những cảm xúc, suy nghĩ và trải nghiệm dụng hoạt động viết Nhật ký trong dạy kỹ năng sống của người học. Loại Nhật ký này tạo điều viết tiếng Anh cho sinh viên năm thứ nhất chuyên kiện cho sinh viên có cơ hội học và thực hành viết ngành ngôn ngữ Anh, trường ĐHCNHN. Nghiên nhiều hơn, đối chiếu so sánh những kiến thức học cứu nhằm trả lời các câu hỏi sau: được với những trải nghiệm thực trong cuộc sống (Moon, 2006). Nhật ký phản ánh không chỉ ghi (1) Giảng viên triển khai hoạt động viết Nhật lại những sự vật, sự việc, hiện tượng diễn ra như ký tới sinh viên như thế nào? thế nào mà còn đan xen vào đó những phản ánh, cảm nhận mang tính chủ quan, qua đó nâng cao (2) Sinh viên thực hiện hoạt động viết Nhật ký kỹ năng phản ánh trong quá trình học (Lee, 2013). như thế nào? 2.3. Cách triển khai hoạt động viết Nhật ký (3) Giảng viên và sinh viên nhận định như thế trong dạy kỹ năng viết nào về hiệu quả của hoạt động viết Nhật ký? Quá trình triển khai hoạt động viết Nhật ký 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT trong dạy kỹ năng viết có thể chia thành ba giai đoạn: hướng dẫn, thực hiện và đánh giá. Ở giai 2.1. Định nghĩa viết Nhật ký đoạn hướng dẫn, giảng viên cần phổ biến cho sinh Cho tới nay, có rất nhiều nhà nghiên cứu và viên về mục đích viết, yêu cầu (về hình thức và học giả trên thế giới đã đưa ra định nghĩa viết Nhật nội dung, chủ đề, số lượng, hạn nộp), hướng dẫn ký. Graham (1991) định nghĩa viết Nhật ký là hình cách viết, cung cấp bài viết mẫu, làm rõ hình thức thức tự truyện và là cách để rèn tư duy, qua đó phản hồi của giảng viên, tiêu chí đánh giá và trọng người viết có thể nhìn lại cuộc đời theo từng giai số điểm của tập viết Nhật ký (Reid, 1993; Walker, đoạn, miêu tả các khía cạnh của cuộc sống cũng 2006). Ở giai đoạn thực hiện, giảng viên cần giám như bày tỏ quan điểm cá nhân đối với từng trường sát, khuyến khích và giúp đỡ sinh viên hoàn thành hợp cụ thể. Còn theo Dyment & O ‘Connell (2003) các bài viết. Đặc biệt, giảng viên cần chú ý tạo viết Nhật ký là hoạt động ghi chép lại các sự kiện dựng lòng tin đối với sinh viên, để sinh viên cảm diễn ra hàng ngày, những trải nghiệm, phản ánh cá thấy thoái mái chia sẻ những cảm xúc, suy nghĩ và nhân về các vấn đề về xã hội”. Chia sẻ quan điểm trải nghiệm thật của mình. Sau khi sinh viên hoàn với các tác giả trên, nghiên cứu này xác định viết thành xong bài viết đầu tiên, giảng viên nên đưa ra Nhật ký là một hình thức viết tự truyện, trong đó nhận xét phản hồi trước khi sinh viên viết bài tiếp người viết ghi lại suy nghĩ, cảm xúc, trải nghiệm theo. Đây là công việc khó khăn nhất của hoạt động và các phản ánh cá nhân. viết Nhật ký và giảng viên không nên đưa ra đánh giá theo hướng phê phán mà nên nhìn vào nỗ lực 2.2. Các kiểu viết Nhật ký hoàn thành bài viết của người học (Walker, 2006). Giảng viên nên đưa ra nhận xét và gợi ý cả về kiến Hoạt động viết Nhật ký thành nhiều dạng khác thức ngôn ngữ lẫn nội dung thông tin (Harmer, nhau tùy vào môi trường dạy và học, nhưng nhìn 2001). Ở giai đoạn đánh giá, tuy rằng việc đánh KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 14 - 7/2018 47
  3. v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY giá tập bài viết Nhật ký của sinh viên đến nay vẫn với đa số sinh viên khác để tìm hiểu rõ hơn quan là vấn đề gây nhiều tranh cãi, nhiều học giả cho điểm của các em. Đồng thời, nhóm nghiên cứu rằng nên đánh giá hoạt động này là một phần trong cũng phỏng vấn bốn giảng viên dạy môn Viết 2 chương trình học (Crème, 2005), và điểm đánh giá (mã hóa từ T#1đến T#4) về cách triển khai hoạt viết Nhật ký nên chiếm khoảng 10% điểm của toàn động viết nhật ký, hiểu biết và quan điểm về hoạt khóa học, điều này giúp khuyến khích sinh viên động viết nhật ký và các đề xuất cải tiến hiệu quả đầu tư chu đáo cho bài viết (Walker, 2006). Tập của hoạt động. Cuối cùng, nhóm nghiên cứu thu Nhật ký của sinh viên nên được đánh giá trên các thập 119 tập Nhật ký của sinh viên để phân tích về tiêu chí rõ ràng (Burton, 1999). hình thức, nội dung và phản hồi của giảng viên và sinh viên. Dữ liệu từ các nguồn khác nhau sau khi 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU được phân tích riêng lẻ được tổng hợp và thảo luận Nghiên cứu sử dụng phương pháp kết hợp định theo ba chủ đề: (i) việc triển khai hoạt động viết tính và định lượng, và được thực hiện tại trường Nhật ký của giảng viên, (ii) việc thực hiện hoạt ĐHCNHN vào ba tuần cuối của kỳ học khi sinh động viết Nhật ký của sinh viên, (iii) nhận định của viên gần kết thúc học phần Viết 2. Trước tiên, giảng viên và sinh viên về hoạt động viết Nhật ký. nhóm thực hiện khảo sát trên 119 sinh viên năm 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU thứ nhất, chuyên ngành Ngôn ngữ Anh của trường. Bảng câu hỏi khảo sát bao gồm 17 câu yêu cầu 4.1. Giảng viên triển khai hoạt động viết sinh viên cung cấp thông tin cá nhân, thông tin Nhật ký đến sinh viên như thế nào? về hoạt động viết nhật ký của bản thân, cách tiến hành và sự trợ giúp của giảng viên, thái độ và quan Kết quả khảo sát sinh viên và phỏng vấn với điểm của sinh viên về lợi ích của hoạt động viết giảng viên và sinh viên cho thấy, các giảng viên nhật ký và những đề xuất để hoạt động viết Nhật triển khai hoạt động viết Nhật ký theo ba giai đoạn. ký trở nên hiệu quả hơn. Cuối bảng khảo sát nhóm nghiên cứu mời những sinh viên muốn tham gia Giai đoạn 1: Hướng dẫn thực hiện hoạt động phỏng vấn sâu để lại thông tin liên lạc. Sau khi viết Nhật ký phân tích dữ liệu thu được từ phiếu khảo sát, nhóm nghiên cứu chọn mời 10 sinh viên (mã hóa từ S#1 Trước khi yêu cầu sinh viên viết Nhật ký, hầu đến S#10) để phỏng vấn sâu. Các sinh viên được hết các giảng viên đã hướng dẫn sinh viên về hình chọn phỏng vấn là những sinh viên để lại thông thức, mục đích, số lượng, chủ đề, cách viết, hạn tin liên lạc và có câu trả lời khảo sát đại diện cho nộp và trọng số điểm chấm tập viết Nhật ký như nhiều sinh viên khác hoặc có câu trả lời khác biệt thể hiện trên biểu đồ kết quả khảo sát sinh viên 1. Biểu đồ 1: Nội dung hướng dẫn sinh viên trước khi viết nhật ký KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 48 Số 14 - 7/2018
  4. PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v Hướng dẫn của các giảng viên khá thống nhất một hoạt động hoặc nội dung đã học trên lớp để tư về hình thức và mục đích của hoạt động viết Nhật duy sâu hơn và tìm hiểu thêm về các nội dung đã ký. Về hình thức, các giảng viên khuyến khích sinh học. Chủ đề viết Nhật ký cũng có thể gắn với các viên viết tay để tránh việc sao chép trên máy tính. sự kiện mới diễn ra hoặc kinh nghiệm sinh viên Về mục đích, các giảng viên đều nhấn mạnh mục mới trải qua để các em có những chiêm nghiệm và đích tạo thói quen viết và phát triển kỹ năng viết phản ánh lại những hoạt động mình đã làm, từ đó cho sinh viên. Đáng lưu ý là, không ai trong số bốn rút ra những bài học hoặc những kinh nghiệm cần giảng viên đề cập đến mục đích phát triển kỹ năng thiết để tiến bộ hơn trong học tập. Giảng viên có tư duy phê phán, hồi tưởng và tự đánh giá tiến bộ thể hướng dẫn về chủ đề hoặc cách viết thông qua bản thân. Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể trong các bài viết mẫu hoặc bài viết của sinh viên trong hướng dẫn của các giảng viên liên quan đến chủ đề lớp, vì có tới hơn 1/2 số sinh viên cho rằng chưa và cách viết. Hai giảng viên gợi ý chủ đề và đưa ra được hướng dẫn thông qua bài viết mẫu. yêu cầu về độ dài nhưng hai giảng viên còn lại cho phép sinh viên được tự chọn chủ đề và không yêu Giai đoạn 2: Quá trình thực hiện hoạt động cầu cụ thể về độ dài. Có giảng viên yêu cầu viết viết Nhật ký đoạn và có giảng viên cho phép sinh viên viết tự Trong quá trình sinh viên thực hiện hoạt động do như viết thơ, viết truyện: “Tôi không yêu cầu sinh viên bắt buộc phải viết đoạn, sinh viên có thể viết Nhật ký các giảng viên yêu cầu sinh viên trao sáng tác thơ, viết truyện hay viết bất cứ chủ đề nào đổi và chữa chéo bản thảo số 1, sau đó dựa trên các sinh viên thích” (T#3). Có giảng viên trình chiếu góp ý của sinh viên về viết lại sang bản thảo số 2. bài viết mẫu và phân tích nhưng cũng có giảng Hàng tuần, các giảng viên ký xác nhận sinh viên viên không làm vậy “vì muốn các em tự do sáng đã hoàn thành bài Nhật ký. Đôi khi giảng viên đọc tạo” (T#1). Đa số giảng viên (75%) yêu cầu sinh kỹ hơn và phản hồi hoặc chấm điểm bài Nhật ký viên bắt buộc viết một bài Nhật ký mỗi tuần nhưng của sinh viên. Tuy nhiên, do hạn chế về mặt thời có một giảng viên cho phép sinh viên không phải gian, các giảng viên chỉ có thể đọc kỹ và phản hồi viết Nhật ký vào những tuần mà sinh viên có cho một số sinh viên trong lớp. Chỉ khoảng 1/3 số quá nhiều bài tập. Điều này cũng được thể hiện sinh viên tham gia khảo sát trả lời được giảng viên trong kết quả phân tích tập Nhật ký của sinh viên. xem và phản hồi Nhật ký thường xuyên như thể hiện trên biểu đồ 2. Việc coi hoạt động viết Nhật ký là một dạng thức viết tự do và không cần hướng dẫn về chủ Như vậy ở giai đoạn thực hiện, các giảng viên đề, cách viết hoặc bài mẫu khiến cho sinh viên cũng đã rất sáng tạo trong việc hỗ trợ và khuyến gặp khó khăn trong quá trình thực hiện hoạt động khích sinh viên hoàn thành các bài viết. Các bài viết Nhật ký. Việc sinh viên viết đoạn thơ ngắn viết của sinh viên đã được ít nhất một bạn cùng hoặc viết về một chủ đề bất kỳ không liên quan gì lớp đọc và góp ý trước khi viết bài tiếp theo và việc đến những nội dung sinh viên đã học hoặc những kinh nghiệm hoặc sự kiện xảy ra về bản chất chỉ là luyện viết mà không phải là viết Nhật ký. Kết quả khảo sát và kết quả phỏng vấn sinh viên đều cho thấy, một trong những lĩnh vực mà sinh viên cần trợ giúp nhiều hơn là về chủ đề viết và cách viết. Việc cho sinh viên được tự chọn chủ đề viết là rất phù hợp, tuy nhiên, sinh viên cần được hướng dẫn Biểu đồ 2: Tần suất giảng viên xem và phản hồi bài cách chọn chủ đề viết sao cho có sự gắn kết với viết Nhật ký của sinh viên KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 14 - 7/2018 49
  5. v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY hoàn thành bài viết hàng tuần của sinh viên được chiêm nghiệm, phản ánh, ví dụ như trong trường giảng viên kiểm soát chặt chẽ. hợp sinh viên viết về cuốn sách làm thay đổi tư duy của em về cuộc sống hay viết về những thay Tuy nhiên kết quả phân tích các tập Nhật ký đổi của bản thân sau một năm học đại học. Điều của sinh viên cho thấy nội dung phản hồi bài viết này cho thấy, bản thân giảng viên cũng chưa nhận của cả sinh viên và giảng viên đều đặt trọng tâm định được đây là cách viết mà các sinh viên nên vào việc sửa lỗi ngữ pháp, từ vựng và cách diễn làm theo hoặc học tập. Rõ ràng rằng, bản thân đạt hơn là phản hồi về nội dung thông tin sinh viên giảng viên cũng cần được trợ giúp để hiểu về các trao đổi qua bài viết như thể hiện trên biểu đồ 3. cách áp dụng hoặc triển khai hoat động viết Nhật ký một cách hiệu quả. Việc yêu cầu sinh viên đọc và góp ý về bài Nhật ký của bạn tuy là cách làm khá sáng tạo của các giảng viên nhưng các sinh viên tham gia phỏng vấn và bản thân các giảng viên cũng đánh giá là hoạt động này chưa được hiệu quả do các sinh viên có học lực thấp thường không có những góp ý phù Biểu đồ 3: Nội dung phản hồi của giảng viên hợp để sửa bài cho bạn có học lực tốt hơn. Điều này chủ yếu là do nội dung góp ý của sinh viên tập Cả bốn giảng viên đều chia sẻ là việc tập trung trung vào việc tìm và sửa lỗi. Nếu nội dung góp vào sửa lỗi chiếm rất nhiều thời gian của giảng ý không bị bó hẹp vào việc sửa lỗi mà mở rộng viên và với khối lượng hơn 60 tập Nhật ký của hơn để bao hàm cả việc hồi đáp, đưa quan điểm về hai lớp trong một học kỳ thì giảng viên khó có thể những nội dung được chia sẻ hoặc bổ sung thêm xem và phản hồi hết. Do sinh viên rất coi trọng thông tin liên quan thì các sinh viên có thể trợ giúp các nhận xét góp ý của giảng viên, nên việc không nhau tốt hơn. Hơn nữa, do hoạt động viết Nhật ký nhận đựợc phản hồi của giảng viên thường xuyên có thể đã tốn khá nhiều thời gian của sinh viên cũng là một trong những lý do khiến một số sinh (Walker, 2006), nên việc đọc và góp ý bài viết cho viên không nhiệt tình viết Nhật ký. Việc giảng viên bạn ở nhà sẽ khiến sinh viên phải dành nhiều thời chú trọng vào việc sửa lỗi khiến sinh viên cũng chú gian hơn nữa, nên có thể khiến sinh viên không tập ý nhiều hơn đến tính chính xác trong việc sử dụng trung hoặc không nhiệt tình góp ý cho bạn mình. ngôn ngữ hơn là nội dung giao tiếp. Đây cũng là Nếu giảng viên dành 10 - 15 phút trên lớp để sinh lý do khiến 80% sinh viên phản ánh gặp khó khăn viên có thể đọc và góp ý cho nhau với sự trợ giúp trong việc tìm từ vựng và cấu trúc ngữ pháp phù của giảng viên thì hoạt động này có thể sẽ hiệu quả hợp để diễn đạt ý. Trong khi đó, nghiên cứu chỉ ra hơn. Những nội dung sinh viên góp ý cho nhau và rằng, các bài Nhật ký nên được góp ý cả về cấu cách góp ý cũng cần được giảng viên hướng dẫn trúc lẫn nội dung (Harmer, 2001), không nên chú chi tiết cụ thể sao cho toàn bộ hoạt động viết Nhật trọng vào cấu trúc ngữ pháp hoặc chữa lỗi trên ký cũng như hoạt động sinh viên đọc và đóng góp từng ý (Herrero, 2007; Reid, 1993) mà giảng viên ý kiến cho nhau tạo ra một môi trường học tập tích nên nhận xét về sự cố gắng, nỗ lực của người học cực, trong đó tri thức được chia sẻ, ý kiến cá nhân (Walker, 2006) và đánh giá về những cảm nhận được tôn trọng và mục đích trợ giúp nhau học tập của sinh viên (Paterson, 1995). được nhấn mạnh. Kết quả phân tích tập Nhật ký của sinh viên Giai đoạn 3: Đánh giá tập Nhật ký của sinh viên cũng cho thấy, giảng viên không có phản hồi gì đặc biệt với những bài sinh viên viết theo hướng Vào tuần cuối của kỳ học, các giảng viên đều KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 50 Số 14 - 7/2018
  6. PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v thu tập bài Nhật ký của sinh viên để đánh giá và những vấn đề đã học trong kỳ hoặc những kinh cho điểm. Tuy trong số không nhiều (khoảng 4% nghiệm hoặc sự kiện đã diễn ra. Nguyên nhân điểm học phần) nhưng việc các tập bài viết được chính của tình trạng này là do khi triển khai hoạt chấm điểm có ảnh hưởng tích cực, thúc đẩy sinh động, các giảng viên không chú trọng vào việc viên hoàn thiện tập Nhật ký của mình. Tuy nhiên, giúp sinh viên phát triển kỹ năng phản ánh, hồi 3/4 giảng viên không thể hiện tiêu chí chấm tập tưởng và tư duy về những vấn đề liên quan. Có thể Nhật ký một cách rõ ràng, điều này có thể dẫn thấy rằng, việc thực hiện hoạt động viết Nhật ký đến những khác biệt trong cách cho điểm giữa các của sinh viên phụ thuộc nhiều vào cách triển khai giảng viên gây ra sự thiếu công bằng và gây khó và hướng dẫn của giảng viên. Như đã phân tích khăn cho sinh viên trong khi thực hiện hoạt động. ở trên, do có những hạn chế nhất định trong cách Theo kết quả phân tích các tập Nhật ký, chỉ có một triển khai và hướng dẫn của giảng viên nên hoạt giảng viên sử dụng bảng tiêu chí chấm, tuy nhiên, động viết Nhật ký của sinh viên hiệu quả chưa cao. kết quả khảo sát và phỏng vấn các sinh viên trong lớp cho thấy, các em chưa nắm rõ được những tiêu 4.3. Giảng viên và sinh viên nhận định như chí mà giảng viên sử dụng. Điều này có thể là do thế nào về hiệu quả của hoạt động viết Nhật ký? việc hướng dẫn của giảng viên về tiêu chí đánh giá Kết quả khảo sát và phỏng vấn sinh viên thống tập nhật ký là chưa đủ rõ hoặc chưa đủ kỹ lưỡng. nhất cao với kết quả phỏng vấn giảng viên. Những Do đó, các tiêu chí chấm tập viết Nhật ký cần được kết quả này cho thấy, trên 80% sinh viên thích hoạt thống nhất giữa các giảng viên và thông báo chi động viết Nhật ký và tất cả các sinh viên tham gia tiết đến sinh viên để các em hiểu và thực hiện. nghiên cứu đều cho rằng hoạt động này là hữu ích. 4.2. Sinh viên thực hiện hoạt động viết Nhật Cả bốn giảng viên cũng cho rằng, hoạt động này là ký như thế nào? hữu ích và phù hợp với sinh viên ngành ngôn ngữ Anh trong trường. Cả sinh viên và giảng viên đều Kết quả thu được từ phiếu trả lời khảo sát của cho rằng hoạt động viết Nhật ký giúp rèn luyện sinh viên, phỏng vấn với sinh viên và giảng viên thói quen viết, phát triển kỹ năng viết tiếng Anh, cũng như kết quả phân tích các tập Nhật ký của giúp diễn đạt ý, nâng cao kỹ năng ngôn ngữ và sinh viên cho thấy, sinh viên tiến hành viết Nhật nâng cao ý thức tự học của sinh viên. Trước thực tế ký trung bình một lần mỗi tuần trong khoảng thời kỹ năng viết là một kỹ năng khó và thường không gian 30 phút và thường là viết tại nhà. Sinh viên đủ hấp dẫn để khuyến khích người học kiên trì thường tự lựa chọn chủ đề viết và hình thức viết. luyện viết thường xuyên (Hedge, 1991), kết quả Trên 90% các sinh viên đảm bảo yêu cầu của giảng tích cực của việc triển khai hoạt động viết Nhật ký viên về số lượng các bài viết và có nhận xét góp lên thói quen và kỹ năng học tập của sinh viên là ý của bạn trước khi viết phiên bản hai. Việc sinh rất đáng trân trọng và ghi nhận. Kết quả này khẳng viên nghiêm túc chấp hành yêu cầu của giảng viên định thêm nhận định của học giả Langan (2001) là do giảng viên có kiểm soát và ký tên xác nhận rằng, “hoạt động viết Nhật ký là một hoạt động hoàn thành theo tuần và kết quả đánh giá tập Nhật tuyệt vời để rèn luyện kỹ năng viết” và thống nhất ký chiếm một trọng số nhất định trong điểm tổng với kết quả nghiên cứu của tác giả Lưu (2010) tại kết học phần. trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, kết quả phân tích các tập Nhật ký của sinh viên cũng chỉ ra rằng, các bài viết thể hiện Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, có khoảng việc sinh viên chú trọng vào việc luyện viết tiếng 40% sinh viên không cho rằng hoạt động viết Nhật Anh và luyện thi nhiều hơn là viết để phản ánh ký có thể giúp “phát triển tư duy phê phán” hoặc tư duy, hồi tưởng hoặc quan điểm của cá nhân về “hiểu rõ hơn về kiến thức đã học” hay “đánh giá KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 14 - 7/2018 51
  7. v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY theo dõi tiến bộ của bản thân”. Hơn 1/2 số sinh sinh viên góp ý cho bài viết của nhau cũng là một viên không nhận thấy việc viết Nhật ký giúp “tạo gợi ý giúp giảm bớt áp lực này cho giảng viên; tuy hứng thú viết tiếng Anh” hoặc “tăng cơ hội giao nhiên, sinh viên cần nhận được hướng dẫn cụ thể tiếp” hoặc “giúp tự tin hơn khi giao tiếp với giảng về nội dung và cách góp ý. viên”. Kết quả phân tích tập Nhật ký cũng cho thấy, sinh viên chưa chia sẻ nhiều thông tin về suy 6. KẾT LUẬN nghĩ của bản thân, về quá trình học tập cũng như khó khăn gặp phải trong các bài Nhật ký. Như đã Nghiên cứu cho thấy, hoạt động viết nhật ký phân tích ở trên, nguyên nhân chính của tình trạng có tiềm năng hỗ trợ tốt cho việc học tiếng Anh của này là do có những hạn chế trong cách triển khai sinh viên tại Đại học Công nghiệp Hà Nội, đặc biệt và hướng dẫn của giảng viên về chủ đề, cách viết, là giúp phát triển kỹ năng viết và kỹ năng tự học. cách phản hồi và cách đánh giá bài viết nhật ký. Để Tuy nhiên, có một số chi tiết trong việc áp dụng hoạt động viết Nhật ký được hiệu quả hơn thì cần hiện tại của giảng viên có thể làm hạn chế hiệu quả có sự điều chỉnh trong cách triển khai hướng dẫn của hoạt động. Do vậy, nghiên cứu đã đưa ra một của giảng viên về những vấn đề này. số đề xuất nhằm cải tiến việc áp dụng hoạt động viết nhật ký hiện nay tại Trường. Với các đề xuất 5. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ trên, nhóm nghiên cứu hy vọng có thể đóng góp ÁP DỤNG HOẠT ĐỘNG VIẾT NHẬT KÝ một phần vào việc nâng cao hiệu quả áp dụng hoạt TRONG DẠY KỸ NĂNG VIẾT CHO SINH động viết Nhật ký trong giảng dạy kỹ năng viết và VIÊN TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC giúp cho các giảng viên khác muốn áp dụng hoạt CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI động viết nhật ký trong giảng dạy tiếng Anh tại cơ sở đào tạo của mình./. Từ kết quả nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đưa ra một số đề xuất tới các cấp quản lý, giảng viên và Tài liệu tham khảo: sinh viên. Thứ nhất, việc trợ giúp của các cấp quản Burton D. (1999). A service Learning rubric. VCU lý để duy trì và phát huy tối đa hiệu quả của hoạt Teaching. động viết Nhật ký là vô cùng cần thiết. Các lớp bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy mới nói chung, Castellanos J. (2008). Journal writing and đặc biệt là về việc áp dụng hoạt động viết Nhật its benefits in an upper intermediate EFL ký trong giảng dạy kỹ năng này nên được tổ chức class.  Profile Issues in Teachers Professional thường xuyên nhằm giúp giảng viên có cách nhìn Development, 9, 111-128. nhận đúng đắn và đầy đủ về bản chất, cũng như Crème P. (2005).  Should student learning quy trình triển khai hiệu quả để hoạt động đạt hiệu journals be assessed?  Assessment & quả cao nhất. Thứ hai, giảng viên nên đặc biệt chú Evaluation in Higher Education. trọng vào bước hướng dẫn sinh viên thực hiện viết nhật ký. Giảng viên nên nhấn mạnh cho sinh viên Dyment J.E. & O’Connell T.S. (2003). Journal về các lợi ích khác của viết Nhật ký ngoài mục writing in experiential education: Posibilities, đích rèn luyện kỹ năng viết, như phát triển tư duy, problems and recommendations. Charleston. chiêm nghiệm về nội dung đã học hay tăng cường Graham Robert J. (1991). Reading and Writing the cơ hội giao tiếp với giảng viên. Giảng viên cũng Self. New York: Teachers College, Columbia nên lưu tâm góp ý nhiều hơn về nội dung thông University. tin và không nên tập trung quá nhiều vào phần sửa Herrero A.H. (2007). Journal: A tool to improve lỗi. Bằng cách này, giảng viên có thể tăng cường students’ writing skills. Actualidates cơ hội trao đổi thông tin và hỗ trợ sinh viên, đồng Investigativas en Education. thời khắc phục được khó khăn hiện tại là tốn nhiều thời gian nhận xét bài cho sinh viên. Việc yêu cầu Harmer J. (2001). The Practice of English KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 52 Số 14 - 7/2018
  8. PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v Language Teaching. Essex: Pearson Education Luu T.T. (2010). Enhancing EFL learners’ writing Limited. skills via journal writing. English Language Hedge T. (1991). Writing. Hong Kong: Oxford Teahing. Vol 3 (3). University Press. Paterson BL. (1995). Developing and maintaining Herrero A.H. (2007). Journal: A tool to improve reflection in clinical journals. Nurse Educ students’ writing skills. Actualidates Today. 15(3), 211-220. Investigativas en Education. Reid J. M. (1993). Teaching ESL Writing. New Langan J. 2001. College Writing Skills. McGraw- Jersey: Prentice Hall Regents Hill College. Lee S. (2013). Effects of Reflective Journal Writing Walker E.S. (2006). Journal Writing as a teaching in Japanese Students’ Language Learning. technique to promote reflection. Journal of Indiana University of Pennsylvania. Athletic training. Vol 41 (2). EMPLOYMENT OF JOURNAL WRITING IN TEACHING WRITING FOR ENGLISH- MAJOR STUDENTS AT HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY: CURRENT SITUATIONS AND SOLUTIONS HOANG NGOC TUE, TRAN THI DUYEN, VU THI NHUNG, NGUYEN THI HUYEN Abstract: This study explores the current practices of employing journal writing activity in teaching English writing at Hanoi University of Industry. Participants are 119 first year English- major students and four English language teachers who taught writing skills to the students. Data were collected from questionnaires and individual interviews with students, individual interviews with teachers and analysis of students’ journal writings. Findings indicate that journal writing has the potential to facilitate students’ English language learning, especially English writing and self-study skills, and teachers and students demonstrated a positive attitude towards the activity. However, certain aspects of the teachers’ current practices could limit the effectiveness of the activity. Therefore, practical recommendations are made to improve the current practices, which could be useful for other EFL teachers who intend to employ the activity. Keywords: reflective skills, self-study skills, writing skills, critical thinking, journal writing Received: 29/3/2018; Revised: 21/5/2018; Accepted for publication: 20/6/2018 KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 14 - 7/2018 53

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản