intTypePromotion=1

Bài giảng Kiểm toán - Bài 1: Tổng quan về kiểm toán tài chính

Chia sẻ: Kim Cương KC | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:16

0
11
lượt xem
0
download

Bài giảng Kiểm toán - Bài 1: Tổng quan về kiểm toán tài chính

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

"Bài giảng Kiểm toán - Bài 1: Tổng quan về kiểm toán tài chính" thông qua bài học này các bạn sẽ nắm được bản chất và đặc trưng của kiểm toán tài chính; phương pháp của kiểm toán tài chính; cơ sở dẫn liệu và mục tiêu kiểm toán.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài giảng Kiểm toán - Bài 1: Tổng quan về kiểm toán tài chính

  1. Bài 1: Tổng quan về kiểm toán tài chính BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH Nội dung  Bản chất và đặc trưng của kiểm toán tài chính.  Phương pháp của kiểm toán tài chính.  Cơ sở dẫn liệu và mục tiêu kiểm toán. Mục tiêu Thời lượng học Sau khi học bài này, học viên sẽ:  8 tiết.  Hiểu được bản chất của kiểm toán tài chính.  Nắm được đối tượng của kiểm toán tài chính từ đó hiểu được những đặc trưng cơ bản của kiểm toán tài chính.  Hiểu cách thức tiếp cận đối tượng trong kiểm toán tài chính từ đó nắm được phương pháp của kiểm toán tài chính.  Hiểu được cơ sở dẫn liệu trong kiểm toán tài chính.  Nắm được mục tiêu kiểm toán. ACC509_Bai 1_v1.0011105219 1
  2. Bài 1: Tổng quan về kiểm toán tài chính TÌNH HUỐNG KHỞI ĐỘNG BÀI Tình huống dẫn nhập Việt là chủ một công ty chuyên kinh doanh các mặt hàng văn phòng phẩm. Khi bắt đầu kinh doanh, anh thấy hài lòng với lợi nhuận của công ty vì quy mô công ty nhỏ nhưng tỷ suất lợi nhuận tương đối cao. Tuy nhiên thời gian gần đây, nhiều công ty có vốn đầu tư nước ngoài kinh doanh mặt hàng văn phòng phẩm kết hợp với kinh doanh thiết bị nội thất và thiết bị văn phòng đã bắt đầu chiếm lĩnh thị trường. Việt nhận thấy với số vốn nhỏ và quy mô kinh doanh như hiện nay, công ty của anh có nguy cơ sụt giảm nghiêm trọng thị phần và lợi nhuận. Chính vì vậy, anh quyết định chuyển hình thức hoạt động của công ty từ công ty trách nhiệm hữu hạn sang công ty cổ phần để kêu gọi thêm cổ đông nhằm tăng cường sức mạnh tài chính cho công ty. Một trong các cổ đông tiềm năng của công ty yêu cầu anh phải kiểm toán báo cáo tài chính trước khi họ đưa ra quyết định góp vốn. Việt cho rằng việc này là không cần thiết vì trước khi mở công ty anh cũng từng làm kế toán và đã tự lập báo cáo tài chính cho chính công ty của mình. Anh cho rằng việc thuê ngoài kiểm toán báo cáo tài chính là không cần thiết vì anh tin vào khả năng của mình và của các nhân viên trong phòng tài chính kế toán. Câu hỏi Theo anh chị, Công ty của anh Việt có cần thuê kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán không? Tại sao? 2 ACC509_Bai 1_v1.0011105219
  3. Bài 1: Tổng quan về kiểm toán tài chính 1.1. Bản chất và đặc trưng của kiểm toán tài chính 1.1.1. Bản chất của kiểm toán tài chính Thuật ngữ tính minh bạch (transparency) ngày nay được biết đến nhiều hơn và được quan tâm đến nhiều hơn cả ở khu vực tài chính công và khu vực kinh tế tư nhân. Nền kinh tế ngày càng phát triển, đòi hỏi về tính minh bạch của thông tin ngày càng được đề cao. Kiểm toán nói chung và kiểm toán tài chính nói riêng đóng vai trò không thể thiếu để tạo được tính minh bạch của thông tin trong nền kinh tế. Kiểm toán tài chính là hoạt động đặc trưng của kiểm toán và chứa đựng các sắc thái khác nhau của kiểm toán. Câu hỏi 1.1: Khi đề cập đến kiểm toán tài chính, người ta sử dụng tiêu thức gì để phân loại? Còn có những loại hình kiểm toán nào khác khi phân biệt theo tiêu thức này? Trả lời: Thực chất kiểm toán tài chính được gọi tên một cách đầy đủ là kiểm toán bảng khai tài chính. Cách gọi tên này chỉ rõ đối tượng của kiểm toán tài chính là các bảng khai tài chính. Cũng cần lưu ý là không thể đồng nhất bảng khai tài chính với báo cáo tài chính. Bảng khai tài chính mang nghĩa rộng hơn và bao hàm cả báo cáo tài chính. Hệ thống bảng khai tài chính bao gồm hai phân hệ: phân hệ thứ nhất là các báo cáo tài chính và phân hệ thứ hai là các bảng khai khác theo luật định. Câu hỏi 1.2: Có những loại báo cáo tài chính nào doanh nghiệp bắt buộc phải lập khi kết thúc kỳ kế toán? Anh chị hãy nêu những đòi hỏi quan trọng đối với báo cáo tài chính. Trả lời: Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200: “Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận phản ánh các thông tin kinh tế chủ yếu của đơn vị”. Báo cáo tài chính có thể bao gồm nhiều loại theo quy định của các quốc gia khác nhau. Theo Luật Kế toán của Việt Nam, các báo cáo tài chính bắt buộc của đơn vị bao gồm 4 loại là Bảng Cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh báo cáo tài chính. Các báo cáo này được lập cho những thời điểm nhất định như cuối mỗi kỳ kinh doanh (quý, năm). Thông tin trên các báo cáo này thường mang tính thời điểm và bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các yếu tố khách quan và chủ quan. Chính vì vậy, đòi hỏi về tính thích hợp (relevant) và tin cậy (relibility) là hai yếu tố chất lượng cơ bản được người sử dụng thông tin kế toán quan tâm nhằm có được cơ sở vững chắc cho các quyết định của mình. Ngoài các báo cáo tài chính, đối tượng của kiểm toán tài chính còn bao gồm những bảng khai có tính pháp lý khác như Bảng dự toán các công trình xây dựng cơ bản; Bảng kê khai tài sản của các doanh nghiệp làm thủ tục cổ phần hóa hoặc làm thủ tục phá sản, thay đổi hình thức sở hữu; các bảng kê khai theo yêu cầu của ngân hàng hay chủ đầu tư. ACC509_Bai 1_v1.0011105219 3
  4. Bài 1: Tổng quan về kiểm toán tài chính 1.1.2. Đặc trưng của kiểm toán tài chính Kiểm toán tài chính là hoạt động cơ bản và ra đời sớm nhất của kiểm toán do đó loại hình này khắc họa rõ nét những đặc trưng của hoạt động kiểm toán. Có thể xem xét các đặc trưng cơ bản của kiểm toán tài chính dựa trên các khía cạnh sau:  Kiểm toán tài chính cũng hướng đến chức năng chung của kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến. Tuy nhiên, chức năng này được cụ thể hóa trong từng điều kiện và mục đích quản lý cụ thể. Kiểm toán báo cáo tài chính hướng đến mục đích lớn nhất là đưa ra ý kiến về sự trình bày trung thực và hợp lý của các báo cáo tài chính và sự tuân thủ các chuẩn mực và chế độ kế toán có liên quan.  Kiểm toán tài chính hướng đến tính trung thực, hợp lý và hợp pháp của bảng khai tài chính. Do đó, thước đo của bảng khai tài chính là các chuẩn mực kế toán được chấp nhận và chế độ kế toán hiện hành. Các chuẩn mực này có thể bao gồm cả chuẩn mực quốc tế được công nhận và chấp nhận phổ biến và chuẩn mực quốc gia. Việc lựa chọn cơ sở pháp lý cho kiểm toán báo cáo tài chính hoàn toàn phụ thuộc vào mục tiêu và phạm vi của cuộc kiểm toán.  Kết quả kiểm toán báo cáo tài chính phục vụ cho cả đối tượng bên trong và bên ngoài đơn vị. Các đối tượng quan tâm đến kết quả của kiểm toán tài chính bao gồm: o Nhà quản lý. o Nhà nước. o Bên thứ ba: được hiểu là các nhà đầu tư, cổ đông, các định chế tài chính. Tuy nhiên, đối tượng sử dụng thông tin chủ yếu của kiểm toán tài chính lại ở bên ngoài doanh nghiệp. Sự “hướng ngoại” của kết quả kiểm toán đã ràng buộc kiểm toán tài chính vào khuôn mẫu nhất định trong việc trình bày kết quả kiểm toán. Kết quả của kiểm toán tài chính thường được trình bày bằng báo cáo kiểm toán và được quy định rõ về nội dung và hình thức trong chuẩn mực kiểm toán. Sự quy chuẩn về nội dung và hình thức đối với báo cáo kiểm toán của kiểm toán tài chính giúp người sử dụng đánh giá được mức độ tin cậy của thông tin từ đó đưa ra ứng xử phù hợp. Cũng chính vì đối tượng sử dụng thông tin của kiểm toán tài chính chủ yếu ở bên ngoài doanh nghiệp nên loại hình này đòi hỏi chủ thể thực hiện phải đảm bảo được tính khách quan. Điều này dẫn đến chủ thể chủ yếu thực hiện kiểm toán tài chính thường chỉ có kiểm toán viên nhà nước và kiểm toán viên độc lập. Kiểm toán nội bộ chỉ thực hiện kiểm toán tài chính theo các yêu cầu đặc biệt từ nhà quản lý của doanh nghiệp khi cần thiết. Kiểm toán tài chính thường được cân đối trong mối quan hệ giữa kết quả kiểm toán và chi phí thực hiện. Chính vì vậy, kết quả kiểm toán của cùng một đối tượng và khách thể do các chủ thể khác nhau thực hiện có thể sẽ có nhiều khác biệt. Điều này đòi hỏi các chủ thể thực hiện phải tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán như một đòi hỏi tối thiểu trong quá trình thực hiện. Lịch sử kinh tế thế giới đã trải qua nhiều cuộc khủng hoảng lớn nhỏ khác nhau ở nhiều khu vực khác nhau. Sau nhiều cuộc khủng hoảng, người ta đã khẳng định tính 4 ACC509_Bai 1_v1.0011105219
  5. Bài 1: Tổng quan về kiểm toán tài chính thiết yếu của hoạt động kiểm toán tài chính, đặc biệt là ở thị trường chứng khoán và các định chế tài chính. Đó là những nơi có số lượng người quan tâm đến thông tin ở diện rộng. Kiểm toán tài chính sẽ trở thành một công cụ bảo vệ hữu hiệu sự ổn định của nền kinh tế. Hơn thế nữa, kiểm toán tài chính sẽ giúp các đơn vị được kiểm toán cải thiện hoạt động từ những đề xuất của kiểm toán viên. Điều này làm cho kiểm toán tài chính có thể làm gia tăng giá trị cho đơn vị được kiểm toán chứ không chỉ thuần túy là hoạt động kiểm tra, kiểm soát. Câu hỏi 1.3: Hãy phân biệt kiểm toán tài chính và kiểm toán hoạt động? Trả lời: Mục tiêu  Kiểm toán tài chính: Đánh giá tính trung thực, hợp pháp và hợp lý của bảng khai tài chính.  Kiểm toán hoạt động: Đánh giá tính hiệu lực của quản trị nội bộ, tính hiệu quả của hoạt động kinh doanh và hiệu năng của quản lý. Trình tự khái quát thực hiện  Kiểm toán tài chính: Xuôi với trình tự của kế toán và quản lý.  Kiểm toán hoạt động: Ngược với trình tự kế toán và quản lý. Kết luận kiểm toán  Kiểm toán tài chính: Theo chuẩn mực quy định có 4 loại ý kiến: Chấp nhận toàn bộ, chấp nhận từng phần, bác bỏ và từ chối cho ý kiến.  Kiểm toán hoạt động: Không có chuẩn mực về hình thức và nội dung của kết luận kiểm toán. 1.2. Phương pháp của kiểm toán tài chính 1.2.1. Đặc điểm phương pháp tiếp cận trong kiểm toán tài chính Kiểm toán tài chính là loại hình mang nhiều đặc trưng nhất của kiểm toán, do đó loại hình này cũng sử dụng những kỹ thuật của kiểm toán theo ba giai đoạn cơ bản: Chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán. Trong kiểm toán, đối tượng chủ yếu của loại hình này là các bảng khai tài chính. Kiểm toán viên khi tiến hành kiểm toán với các bảng khai tài chính này phải chia nhỏ đối tượng thành các phần hành kiểm toán. Có hai cách chia nhỏ đối tượng kiểm toán tài chính (phân đoạn đối tượng): Chia theo khoản mục hoặc chia theo chu kỳ (cycle). Cách thứ nhất phân chia theo khoản mục được hiểu là việc thực hiện kiểm toán được tiến hành theo từng khoản mục (item) hoặc nhóm các khoản mục vào một phần hành kiểm toán. Ví dụ như kiểm toán khoản mục tiền, kiểm toán khoản mục khoản phải thu, kiểm toán khoản mục tài sản cố định. Cách này tương đối đơn giản trong phân chia phần hành nhưng lại gây khó khăn trong tổng hợp thông tin và xem xét mối liên hệ của các khoản mục ở các vị trí khác nhau trên một bảng khai hoặc các khoản mục trên các bảng khai khác nhau. Để khắc phục nhược điểm này, kiểm toán hiện đại có xu hướng thực hiện phân chia theo chu kỳ. Các phần hành được phân chia theo chu kỳ thường bao gồm: ACC509_Bai 1_v1.0011105219 5
  6. Bài 1: Tổng quan về kiểm toán tài chính  Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền.  Kiểm toán chu kỳ mua hàng và thanh toán.  Kiểm toán chu kỳ tiền lương và nhân sự.  Kiểm toán chu kỳ huy động và hoàn trả.  Kiểm toán chu kỳ hàng tồn kho và giá vốn.  Kiểm toán chu kỳ vốn bằng tiền. Cách phân chia này căn cứ chủ yếu vào các mối quan hệ tài chính dựa trên chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp được xây dựng theo mô hình T-H-T’ (tiền – hàng – tiền) hoặc T-H-H’-T’ (tiền – hàng – hàng – tiền)… Bản thân các chu kỳ kiểm toán này có mối quan hệ qua lại lẫn nhau do đó cách thức phân chia ranh giới từng phần hành lại phụ thuộc vào đặc điểm của từng cuộc kiểm toán cụ thể. Trong từng cuộc kiểm toán cụ thể có thể tách nhỏ hoặc gộp các phần hành được đề cập ở trên để phù hợp với nhân sự và các điều kiện cần thiết khác của cuộc kiểm toán. Câu hỏi 1.4: Nêu ưu, nhược điểm của cách phân đoạn đối tượng kiểm toán theo chu kỳ. Trả lời: Ưu điểm:  Tổng hợp thông tin dễ dàng hơn.  Thể hiện được mối liên hệ giữa các khoản mục trên báo cáo tài chính. Nhược điểm: Không dễ làm, khó để phân chia công việc, đặc biệt khi bị giới hạn bởi chi phí, nhân sự kiểm toán. Một vấn đề quan trọng của kiểm toán tài chính là cách thức tiếp cận đối tượng kiểm toán. Khi bắt đầu hình thành và phát triển, kiểm toán tài chính thường sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống. Cách thức tiếp cận này được hiểu là thông qua việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên sẽ đưa ra quyết định lựa chọn các thử nghiệm trong kiểm toán, tương ứng với việc đánh giá hiệu lực của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ. Tuy nhiên, trong quá trình kinh doanh, các công ty phải đối mặt với nhiều loại rủi ro nhất định. Các rủi ro này có thể ảnh hưởng đến độ tin cậy của thông tin do công ty cung cấp. Vì vậy, kiểm toán viên có thể nâng cao hiệu quả của cuộc kiểm toán bằng cách quan tâm nhiều hơn đến rủi ro kinh doanh của công ty khách hàng và cách thức quản lý rủi ro của công ty khách hàng. Cách tiếp cận này giúp cho kiểm toán viên: Có cái nhìn rộng hơn về báo cáo tài chính, đánh giá được khu vực gây ra rủi ro. Đưa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm cải thiện hoạt động của công ty khách hàng với nhiều hoạt động khác nhau chứ không chỉ riêng hoạt động kế toán. 6 ACC509_Bai 1_v1.0011105219
  7. Bài 1: Tổng quan về kiểm toán tài chính 1.2.2. Các trắc nghiệm áp dụng trong kiểm toán tài chính Trong kiểm toán tài chính, trắc nghiệm (test) là việc vận dụng các kỹ thuật của kiểm toán đối với các nghiệp vụ, số dư của tài khoản hoặc khoản mục cấu thành bảng khai tài chính. Thông thường, trong kiểm toán tài chính có ba loại trắc nghiệm: Trắc nghiệm nghiệp vụ (test of transaction), trắc nghiệm phân tích (analytical test) và trắc nghiệm số dư (test of balance). Trắc nghiệm nghiệp vụ Là cách thức rà soát các nghiệp vụ hay hoạt động cụ thể. Trắc nghiệm này thường được sử dụng để xác định tính đúng đắn trong tổ chức hệ thống kế toán. Nó được thực hiện theo hai hướng: Thứ nhất là mức đạt yêu cầu của thủ tục; thứ hai là độ tin cậy của các thông tin và con số. Ở hướng thứ nhất, trắc nghiệm này hướng chủ yếu đến việc tuân thủ các quy định về lập, xét duyệt và kiểm tra sử dụng chứng từ kế toán. Trắc nghiệm này có thể thực hiện thông qua nhiều kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán khác nhau tùy thuộc thủ tục kiểm soát của doanh nghiệp có để lại dấu vết hay không.  Trong trường hợp có để lại dấu vết (chữ ký, đóng dấu kiểm tra…) kiểm toán viên có thể kiểm tra lại dấu vết trên chứng từ. Ví dụ, trong nghiệp vụ xuất kho, thủ kho phải thực hiện kiểm soát về số lượng chủng loại hàng hóa xuất. Sau khi kiểm soát, anh ta sẽ xác nhận sự kiểm soát của mình bằng chữ ký trên phiếu xuất kho. Chữ ký này được hiểu là dấu vết của thủ tục kiểm soát. Để rà soát thủ tục này, kiểm toán viên có thể tiến hành kiểm tra chữ ký trên phiếu xuất kho hoặc kiểm tra chức trách và nhiệm vụ của những người ký trên phiếu xuất kho. Những trình tự rà soát này được gọi là trắc nghiệm tuân thủ của nghiệp vụ.  Trong trường hợp thủ tục kiểm soát không để lại dấu vết, kiểm toán viên có thể quan sát hoặc phỏng vấn công việc của những người có liên quan đến nghiệp vụ. Ví dụ, trong nghiệp vụ xuất kho kể trên, khi hàng hóa xuất khỏi kho phải có sự kiểm soát của thủ kho. Tuy nhiên, sự kiểm soát của thủ kho là chưa đủ mà cần có sự kiểm soát của bảo vệ doanh nghiệp khi hàng hóa qua cổng doanh nghiệp. Thủ tục kiểm soát này đôi khi không để lại dấu về việc ghi chép hay ký nhận vào các chứng từ. Trường hợp này đòi hỏi kiểm toán viên phải quan sát quá trình xuất hàng hoặc phỏng vấn những người liên quan đến nghiệp vụ như bảo vệ doanh nghiệp hay người áp tải hàng hóa. Ở hướng thứ hai, kiểm toán tiến hành rà soát các thông tin về giá trị trên chứng từ và sổ sách kế toán. Kiểm toán viên phải tính toán lại, đối chiếu số liệu, gửi thư xác nhận để khẳng định mức độ tin cậy của thông tin. Trắc nghiệm này được gọi là trắc nghiệp cơ bản của nghiệp vụ (substantive test of transaction). Ví dụ kiểm toán viên có thể gửi thư xác nhận cho ngân hàng để kiểm chứng số dư tài khoản tiền gửi ngân hàng. ACC509_Bai 1_v1.0011105219 7
  8. Bài 1: Tổng quan về kiểm toán tài chính Trắc nghiệm số dư Là việc kiểm tra và rà soát độ tin cậy của số dư cuối kỳ hoặc số phát sinh của các tài khoản. Kiểm toán viên có thể thực hiện gửi thư xác nhận hoặc quan sát kiểm kê và đối chiếu sổ sách để thực hiện trắc nghiệm này. Trắc nghiệm này thường đòi hỏi chi phí kiểm toán lớn do đó, trắc nghiệm này thường được áp dụng kết hợp với các trắc nghiệm khác của kiểm toán để đảm bảo tính hiệu quả của cuộc kiểm toán. Trắc nghiệm phân tích Là việc so sánh các thông tin trong đó chủ yếu là các thông tin tài chính để xem xét mối quan hệ kinh tế và xu hướng biến động từ đó nghiên cứu phát hiện các bất thường. Trắc nghiệm phân tích có thể được thực hiện thông qua:  So sánh thông tin tài chính bao gồm các số dư, số phát sinh, các tỷ lệ giữa các kỳ, các niên độ tài chính hoặc so sánh thông tin tài chính của đơn vị với các đơn vị khác trong cùng ngành. Ví dụ, so sánh tỷ lệ chi phí quảng cáo trong doanh thu giữa đơn vị khách hàng với các đơn vị khác cùng ngành.  Nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin tài chính và thông tin phi tài chính hay mối quan hệ giữa các yếu tố của thông tin tài chính hay thông tin phi tài chính. Ví dụ, nghiên cứu mối quan hệ giữa chi phí tiền lương, số lượng lao động và trình độ học vấn của người lao động trong doanh nghiệp khách hàng.  Trắc nghiệm này chủ yếu hướng tới việc nghiên cứu và so sánh các mối quan hệ để giúp kiểm toán viên thu thập bằng chứng kiểm toán về tính hợp lý chung của số liệu và dữ liệu từ đó phát hiện các khả năng sai lệch thông tin. Trắc nghiệm phân tích được sử dụng trong cả ba giai đoạn của cuộc kiểm toán tài chính: chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán. Câu hỏi 1.5: Hãy nêu những tỷ suất thường sử dụng để đánh giá khả năng thanh toán. Hãy nêu những tỷ suất thường sử dụng để đánh giá cấu trúc tài chính. Trả lời: Nhóm tỷ suất thường được sử dụng để đánh giá khả năng thanh toán:  Khả năng thanh toán hiện thời.  Khả năng thanh toán nhanh.  Khả năng thanh toán tức thời. Nhóm tỷ suất thường được sử dụng để đánh giá cấu trúc tài chính:  Tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn.  Tỷ suất tài trợ.  Tỷ suất nợ.  Tỷ suất lợi nhuận vốn trên chủ sở hữu… Cả ba trắc nghiệm đề cập ở trên có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Việc sử dụng kết hợp các trắc nghiệm này trong cuộc kiểm toán tài chính theo hướng nào hoàn toàn phụ thuộc vào đánh giá ban đầu của kiểm toán viên về rủi ro kinh doanh, hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ. 8 ACC509_Bai 1_v1.0011105219
  9. Bài 1: Tổng quan về kiểm toán tài chính 1.3. Cơ sở dẫn liệu và mục tiêu kiểm toán 1.3.1. Cơ sở dẫn liệu Cơ sở dẫn liệu quản lý (management assertions) là sự giải trình hoặc khẳng định một cách công khai hoặc ngầm định của nhà quản lý về việc trình bày dữ liệu trên báo cáo tài chính. Cơ sở dẫn liệu được hình thành xuất phát từ trách nhiệm của nhà quản lý đối với việc soạn thảo, trình bày và công bố báo cáo tài chính theo đúng các chuẩn mực và chế độ kế toán. Chính vì vậy, cơ sở dẫn liệu sẽ liên quan trực tiếp đến việc trình bày các khoản mục trên bảng khai tài chính. Hơn nữa, cơ sở dẫn liệu cũng có liên quan đến các vấn đề khác như trạng thái của các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ. Ví dụ về bản giải trình của ban giám đốc (cơ sở dẫn liệu về quyền và nghĩa vụ đối với tài sản của doanh nghiệp). CÔNG TY ABC Địa chỉ, điện thoại, fax Ngày… tháng … năm Kính gửi: Ông (bà)………………………………………….… Kiểm toán viên công ty Kiểm toán AVG Bản giải trình này được lập ra trong phạm vi công tác kiểm toán của ông (bà) cho báo cáo tài chính năm tài chính kết thúc ngày 31/12/200N của công ty chúng tôi - công ty ABC. Chúng tôi chịu trách nhiệm lập và trình bày trung thực và hợp lý các báo cáo tài chính của đơn vị phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận theo Quyết định số…ngày … tháng … năm của Bộ Tài chính. Trong pháp vi trách nhiệm và sự hiểu biết của mình chúng tôi xin xác nhận các giải trình sau:  Công ty là chủ sở hữu tất cả các tài sản trên báo cáo tài chính và không có bất kỳ một tài sản nào đang được cầm cố, thế chấp hoặc bị cầm giữ, ngoại trừ những tài sản được nêu trong trang … của phần thuyết minh báo cáo tài chính.  Tất cả các khoản nợ, cam kết vay và các khoản bảo lãnh của công ty với bên thứ ba được công ty hạch toán hoặc giải trình trong phần thuyết minh báo cáo tài chính trang số…  Hiện tại công ty không có vụ kiện nào phát sinh sau ngày kết thúc niên độ có ảnh hưởng tới báo cáo tài chính hoặc phải giải trình trong phần thuyết minh. ....................................... Giám đốc (Chữ ký, họ và tên, đóng dấu) Ví dụ trên chỉ rõ cơ sở dẫn liệu báo cáo tài chính chính là nguồn giúp kiểm toán viên thu thập bằng chứng kiểm toán đối với các khoản mục nghiệp vụ liên quan đến báo cáo tài chính. Các cơ sở dẫn liệu thường bao gồm 5 nhóm:  Sự hiện hữu hoặc phát sinh (Existence or Occurrence) Cơ sở dẫn liệu này là sự khẳng định về tính có thật của các con số trình bày trên bảng khai tài chính. Nghĩa là mọi tài sản và công nợ tồn tại thực tế tại ngày lập Bảng cân đối kế toán, mọi nghiệp vụ kinh tế được phản ánh đều phát sinh thực tế. Về mặt bản chất, đây chính là sự khẳng định về việc không khai khống của nhà quản trị đối với thông tin trình bày trên Bảng khai tài chính. Khi thực hiện kiểm tra cơ sở dẫn liệu về sự hiện hữu hoặc phát sinh, kiểm toán viên cần thu thập bằng chứng kiểm toán để khẳng định tài sản và công nợ thực sự tồn tại, nghiệp vụ thực sự phát sinh. ACC509_Bai 1_v1.0011105219 9
  10. Bài 1: Tổng quan về kiểm toán tài chính Ví dụ, kiểm toán viên có thể quan sát kiểm kê hàng tồn kho nhằm thu được bằng chứng về sự hiện hữu của hàng tồn kho.  Cơ sở dẫn liệu về tính trọn vẹn Cơ sở dẫn liệu này nhằm đưa ra khẳng định mọi tài sản và nghiệp vụ cần phải được khai báo đều đã bao hàm trong bảng khai tài chính. Kiểm toán viên kiểm toán trên cơ sở dẫn liệu này nhằm hướng đến khẳng định đơn vị đã không bỏ sót bất kỳ khoản mục hay nghiệp vụ nào. Ví dụ kiểm toán viên kiểm tra xem mọi hàng mua đang đi đường và hàng gửi bán đã được phản ánh đầy đủ trong số dư của hàng tồn kho sẽ liên quan đến cơ sở dẫn liệu này.  Cơ sở dẫn liệu về quyền và nghĩa vụ (right and obligation) Cơ sở dẫn liệu này nhằm khẳng định đơn vị có quyền đối với tài sản và nghĩa vụ đối với nguồn vốn. Quyền đối với tài sản được hiểu là quyền sở hữu hoặc quyền định đoạt lâu dài, nghĩa vụ đối với nguồn vốn được hiểu là nghĩa vụ phải thanh toán đối với nợ phải trả và nghĩa vụ bảo toàn, sử dụng hợp lý và phát triển đối với nguồn vốn chủ sở hữu. Khi tiến hành kiểm toán liên quan đến cơ sở dẫn liệu này, kiểm toán viên phải lưu ý đến các trường hợp tài sản tồn tại tại doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp không có quyền sở hữu (ví dụ như các tài sản doanh nghiệp thuê ngắn hạn…) hoặc tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp nhưng được đặt tại các đơn vị khác (ví dụ như hàng gửi bán, tài sản cố định cho thuê ngắn hạn…). Ví dụ về cơ sở dẫn liệu về quyền và nghĩa vụ: “Công ty là chủ sở hữu tất cả các tài sản trên báo cáo tài chính và không có bất kỳ tài sản nào đang được cầm cố thế chấp ngoại trừ những tài sản được nêu trong phần thuyết minh báo cáo tài chính của công ty”.  Cơ sở dẫn liệu về tính giá và đo lường Cơ sở dẫn liệu này nhằm khẳng định mọi tài sản, giá phí được phản ánh đúng và đầy đủ theo nguyên tắc hoạt động liên tục. Đây là cam kết của nhà quản lý về số tiền phản ánh tài sản và nghiệp vụ được tính toán đúng cả về nội dung, phương pháp và kỹ thuật tính toán. Ví dụ nhà quản lý đưa ra xác nhận tài sản của doanh nghiệp được ghi nhận theo giá phí lịch sử (historical cost) hay xác nhận giá trị hàng tồn kho được ghi theo giá trị hợp lý (giá thấp hơn giữa giá thực tế và giá trị thực hiện thuần NRV). Ví dụ về cơ sở dẫn liệu về tính giá và đo lường: “Chúng tôi không có bất kỳ một kế hoạch hay dự tính nào có thể làm sai lạc đáng kể giá trị kế toán đã được phản ánh trong báo cáo tài chính. Chúng tôi không có bất kỳ một kế hoạch nào nhằm ngừng sản xuất một loại sản phẩm đang được sản xuất, cũng không có một kế hoạch hay dự tính nào có thể dẫn đến tình trạng hàng tồn kho ứ đọng hoặc lạc hậu, không có bất kỳ một khoản hàng tồn kho nào được hạch toán với giá trị cao hơn giá trị thực hiện thuần”.  Cơ sở dẫn liệu về phân loại và trình bày Cơ sở dẫn liệu này là sự khẳng định về việc phân loại và trình bày các yếu tố của bảng khai tài chính phù hợp với quy định hiện hành trong chuẩn mực và chế độ. 10 ACC509_Bai 1_v1.0011105219
  11. Bài 1: Tổng quan về kiểm toán tài chính Theo đó, các khoản mục và số dư cũng như các nghiệp vụ được ghi nhận đúng theo chủng loại, cơ cấu. Các khai báo liên quan đến các khoản mục, nghiệp vụ được phản ánh đầy đủ trong thuyết minh báo cáo tài chính. Ví dụ: “Chúng tôi cam kết khoản nợ dài hạn trong bảng cân đối kế toán chủ gồm những khoản nợ chưa đến hạn thanh toán trong vòng một năm, các khoản nợ dài hạn sẽ phải thanh toán trong năm tới đã được đáo hạn”.` Ngoài những cơ sở dẫn liệu trên, kiểm toán cần quan tâm đến những cơ sở dẫn liệu khác có liên quan như cam kết hay giải trình về mối quan hệ của nhà quản lý với kiểm toán viên. Cam kết này có thể về một vấn đề cụ thể như tính độc lập khách quan của ban giám đốc, của ban kiểm toán nội bộ và kiểm toán viên bên ngoài. Ngoài ra, cam kết hay giải trình của nhà quản lý có thể liên quan đến cách thức làm việc, phối hợp giữa ban quản lý và kiểm toán nội bộ với kiểm toán viên bên ngoài. Chẳng hạn: “Chúng tôi đã chuyển cho ông bà xem xét tất cả các sổ sách kế toán, các tài liệu, chứng từ liên quan và tất cả các biên bản họp Đại hội cổ đông, họp Hội đồng quản trị hoặc họp Ban giám đốc. Chúng tôi khẳng định là đã cung cấp toàn bộ các thông tin có liên quan.” Các cơ sở dẫn liệu trên là phần quan trọng giúp kiểm toán viên hình thành ý kiến của mình về báo cáo tài chính được kiểm toán. Tuy nhiên, đây không phải là nguồn duy nhất thu thập bằng chứng kiểm toán mà còn có các loại chứng từ, sổ sách kế toán và các bằng chứng khác do kiểm toán viên tự khai thác. Trong trường hợp nhà quản lý từ chối cung cấp giải trình theo yêu cầu của kiểm toán làm hạn chế phạm vi kiểm toán thì kiểm toán viên có thể đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần hoặc từ chối cho ý kiến. 1.3.2. Mục tiêu kiểm toán Trách nhiệm của nhà quản lý là công khai thông tin trên các bảng khai tài chính, còn trách nhiệm của kiểm toán viên tập trung vào việc xem xét độ tin cậy của các thông tin mà nhà quản lý đã công bố. Khi tiến hành kiểm toán, kiểm toán viên hướng đến đánh giá các nhóm cơ sở dẫn liệu nhằm chứng thực các cơ sở dẫn liệu này. Việc kiểm chứng theo các nhóm cơ sở dẫn liệu này sẽ hình thành các mục tiêu kiểm toán. Theo đó, kiểm toán tài chính sẽ hướng tới các mục tiêu kiểm toán. Tuy nhiên, với kiểm toán viên, việc xác minh không chỉ dừng ở các mục tiêu chung mà phải cụ thể vào từng phần hành. Việc xác định mục tiêu kiểm toán chủ yếu gắn với từng khoản mục và phần hành là công việc đỏi hỏi tính xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên. Xác định đúng mục tiêu của khoản mục hay nghiệp vụ sẽ giúp cho kiểm toán viên rút ngắn thời gian kiểm toán, tăng cường hiệu quả của cuộc kiểm toán. Mục tiêu kiểm toán sẽ là kim chỉ nam cho kiểm toán viên định hướng kỹ thuật kiểm toán cần thực hiện. Thông thường, kiểm toán tài chính sử dụng các mục tiêu kiểm toán sau:  Mục tiêu hiệu lực Là hướng đến xác minh tính có thật của số tiền trên các khoản mục. Mục tiêu này có thể hiểu là xác minh sự tồn tại (existence) đối với tài sản hoặc đã xảy ra (occurrence) đối với nghiệp vụ. ACC509_Bai 1_v1.0011105219 11
  12. Bài 1: Tổng quan về kiểm toán tài chính o Đối với tài sản, kiểm toán viên phải tìm kiếm bằng chứng nhằm khẳng định số tiền ghi trên báo cáo tài chính là tồn tại thực tế. Ví dụ nếu kiểm toán viên phát hiện ra đơn vị ghi khống số lượng hàng gủi bán có nghĩa là đã vi phạm mục tiêu này. o Đối với nghiệp vụ, kiểm toán viên cần xem xét các nghiệp vụ đã ghi chép trong sổ sách thực tế đã xảy ra chưa. Để hướng tới mục tiêu này kiểm toán viên có thể sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau để xác minh. Tuy nhiên, kỹ thuật được sử dụng nhiều nhất là kiểm tra tài liệu và đối chiếu. Khi hướng đến xác minh mục tiêu này, hướng xác minh tài liệu thường theo hướng ngược. Nghĩa là kiểm toán viên cần kiểm tra các nghiệp vụ đã được trình bày trên sổ sách nhưng trong thực tế có thể không xảy ra, do đó khi tiến hành kiểm toán viên có thể đối chiếu từ sổ sách đến chứng từ.  Mục tiêu trọn vẹn Nhằm khẳng định mọi nghiệp vụ đã xảy ra đều được ghi chép đầy đủ trên sổ kế toán, toàn bộ các tài sản đều đã được phản ánh đầy đủ trên báo cáo tài chính. Về bản chất, mục tiêu này hướng đến xác minh việc bỏ sót hay không phản ánh các tài sản, nghiệp vụ đã tồn tại đã xảy ra. Mục tiêu này đòi hỏi kiểm toán viên khi sử dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán phải hướng theo trình tự xuôi với kế toán hoặc quản lý. Nghĩa là kiểm toán viên tìm kiếm các nghiệp vụ, các tài sản đã phát sinh và tồn tại trong thực tế nhưng chưa được phản ánh trong sổ kế toán. Khi kiểm chứng trên tài liệu kế toán, kiểm toán viên sẽ thực hiện theo hướng đối chiếu từ chứng từ đến sổ sách.  Mục tiêu quyền và nghĩa vụ Hướng đến xác minh quyền sở hữu và quyền định đoạt lâu dài của đơn vị khách thể đối với tài sản, nghĩa vụ phải thanh toán của đơn vị đối với các khoản nợ phải trả. Mục tiêu này thường gắn liền với mục tiêu hiệu lực vì vậy, trong quá trình triển khai chương trình kiểm toán, các công ty kiểm toán có xu hướng ghép mục tiêu này với mục tiêu hiệu lực. Ví dụ khi xác minh đến tính có thật của khoản mục hàng gửi bán kiểm toán viên sẽ hướng đến khẳng định tồn tại một lượng hàng gửi bán tại đại lý đồng thời cũng đưa ra khẳng định đơn vị có quyền sở hữu đối với số hàng này.  Mục tiêu phân loại và trình bày Mục tiêu này hướng tới kiểm tra các tài khoản, nghiệp vụ trên sổ kế toán có được phân loại và ghi nhận đúng vào các tài khoản thích hợp hay không. Ví dụ, nếu doanh nghiệp ghi nhận một thiết bị có giá trị dưới 10 triệu vào tài khoản tài sản cố định thì sẽ vi phạm mục tiêu này.  Mục tiêu tính giá và định giá Mục tiêu này hướng tới kiểm tra nhằm khẳng định tài sản, vốn được định giá đúng, các phương pháp được áp dụng nhất quán. Mục tiêu này có thể được cụ thể hóa khi gắn với những khoản mục nhất định. Chẳng hạn, trong kiểm toán khoản mục hàng tồn kho, mục tiêu này sẽ được hiểu là đúng với giá trị có thể thực hiện được và các phương pháp tính giá nhập, giá xuất của hàng tồn kho được áp dụng nhất quán. 12 ACC509_Bai 1_v1.0011105219
  13. Bài 1: Tổng quan về kiểm toán tài chính Ví dụ, nếu kiểm toán viên phát hiện doanh nghiệp thay đổi phương pháp tính giá vốn hàng bán trong cùng một niên độ từ FIFO sang LIFO thì có thể khẳng định doanh nghiệp đã vi phạm mục tiêu này.  Mục tiêu về tính chính xác số học Mục tiêu này giúp kiểm toán viên hướng đến đánh giá và khẳng định tính chính xác của các phép tính số học, các con số chuyển sổ sang trang đều trùng khớp. Tính chính xác này có thể được cụ thể hóa thành các mục tiêu đặc thù cho từng khoản mục hay nghiệp vụ. Với số dư, mục tiêu chính xác số học được hiểu là các phép tính số học liên quan đến khoản mục, nghiệp vụ đều chính xác (accuracy). Tính chính xác còn được hiểu là sự khớp đúng (detail tie – in) của số dư chi tiết với số tiền tổng cộng trên sổ tổng hợp, khớp đúng với số tiền trên khoản mục của báo cáo tài chính.  Mục tiêu về tính đúng kỳ Mục tiêu này hướng tới việc khẳng định các tài khoản, nghiệp vụ được ghi nhận theo đúng thời gian quy định. Mục tiêu này có thể được cụ thể hóa thành mục tiêu đặc thù là tính cập nhật (timing) đối với các nghiệp vụ về tiền, thanh toán và các nghiệp vụ khác có liên quan. Mục tiêu này cũng có thể được hiểu là các nghiệp vụ ghi chép tại giao điểm của kỳ kế toán (đầu niên độ sau, cuối niên độ trước) được ghi nhận đúng (cut-off). Ví dụ, nếu kiểm toán viên phát hiện đơn vị đã ghi chép nghiệp vụ bán hàng phát sinh ngày 3/1/200N+1 vào năm 200N thì đơn vị đã vi phạm mục tiêu này và mục tiêu hiệu lực. Khi tiến hành kiểm toán, kiểm toán viên căn cứ vào đặc điểm của từng khoản mục nghiệp vụ để xây dựng hệ thống mục tiêu đặc thù cho mỗi khoản mục nghiệp vụ hoặc phần hành cụ thể. Hệ thống mục tiêu này sẽ giúp kiểm toán viên định hướng lựa chọn chuẩn mực kiểm toán phù hợp. Bảng dưới đây là ví dụ về xây dựng hệ thống mục tiêu kiểm toán cho khoản mục hàng tồn kho. Mục tiêu Các mục tiêu kiểm toán liên quan đến số dư khoản mục hàng tồn kho Số dư khoản mục hàng tồn kho ghi trên bảng cân đối kế toán tồn tại vào Tồn tại ngày lập bảng cân đối kế toán.  Tất cả các khoản mục hàng tồn kho đều được ghi chép đầy đủ. Trọn vẹn  Không bỏ sót các khoản mục hàng tồn kho đang đi đường hoặc hàng tồn kho gửi bán. Quyền và Trong số dư khoản mục hàng tồn kho không bao gồm những hàng tồn kho nghĩa vụ bị cầm cố.  Hàng tồn kho được ghi nhận đúng giá trị và có xem xét tới giá trị thuần có thể thực hiện được. Định giá  Tất cả những điều chỉnh đối với số dư tài khoản hàng tồn kho được ghi chép trong mối liên hệ với các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi (GAAP).  Các phương pháp tính giá hàng tồn kho được áp dụng đúng đắn và nhất quán. Trình bày Tất cả các nghiệp vụ phát sinh được phân loại đúng đắn. và công bố ACC509_Bai 1_v1.0011105219 13
  14. Bài 1: Tổng quan về kiểm toán tài chính TÓM LƯỢC CUỐI BÀI  Kiểm toán tài chính là hoạt động gắn liền với sự hình thành và phát triển của kiểm toán và mang những đặc trưng của kiểm toán.  Trong bài mở đầu của môn học này, chúng ta xem xét các khái niệm về kiểm toán tài chính từ đó hiểu được bản chất của kiểm toán tài chính, các đặc trưng cơ bản của kiểm toán tài chính. Trên cơ sở đó, bài học này nghiên cứu đến cách thức tiếp cận đối tượng của kiểm toán tài chính từ đó có được hiểu biết sâu hơn về phương pháp kiểm toán áp dụng trong kiểm toán tài chính. Ngoài ra, qua bài học này, các bạn sẽ nắm được khái niệm về cơ sở dẫn liệu, hiểu được cách xây dựng mục tiêu kiểm toán và mối liên hệ giữa cơ sở dẫn liệu và mục tiêu kiểm toán. Đây là những vấn đề cơ bản nhất và là cơ sở vững chắc giúp các bạn nắm được nội dung các bài học sau. 14 ACC509_Bai 1_v1.0011105219
  15. Bài 1: Tổng quan về kiểm toán tài chính CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Nêu bản chất và đặc trưng của kiểm toán tài chính. 2. Trình bày đặc điểm phương pháp tiếp cận trong kiểm toán tài chính. 3. Nêu các trắc nghiệm áp dụng trong kiểm toán tài chính. 4. Cơ sở dẫn liệu quản lý là gì? 5. Nêu mục tiêu của kiểm toán tài chính. ACC509_Bai 1_v1.0011105219 15
  16. Bài 1: Tổng quan về kiểm toán tài chính BÀI TẬP TÌNH HUỐNG Bài 1.1. Thông tin cho dưới đây được thu thập bởi kiểm toán viên Kim trong cuộc kiểm toán báo cáo tài chính của công ty cổ phần vật tư y tế Nam Thanh.  Không có khoản phải thu khách hàng nào không được ghi nhận.  Những khoản phải thu khách hàng lớn đều được theo dõi chi tiết, đối với khách hàng vãng lai Công ty đã lập bảng kê cụ thể.  Khoản phải thu khách hàng không thu được đã được cung cấp thông tin và đối chiếu công nợ, từ đó Công ty đã lập Bảng phân tích thời hạn thanh toán đối với khoản phải thu và lập dự phòng đối với các khoản khó đòi.  Những khoản phải thu khách hàng nhưng không thu được đã được xoá bỏ.  Cơ sở dẫn liệu quản lý: 1. Hiện hữu/Tồn tại hoặc xảy ra. 2. Trọn vẹn. 3. Đánh giá hoặc phân bổ. 4. Quyền và nghĩa vụ. 5. Trình bày và công bố. Yêu cầu: Nhận diện các cơ sở dẫn liệu có liên quan đến các nghiệp vụ trên. Bài 1.2. Kiểm toán viên Nam đang tiến hành kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần PATIT năm tài chính kết thúc ngày 31/12/200N. Anh ta phát hiện một số dữ kiện sau:  Kế toán áp dụng sai phương pháp tính giá hàng tồn kho làm giá vốn hàng bán giảm xuống 200 triệu.  Một khách hàng của công ty PATIT có số dư nợ 220 triệu tuyên bố phá sản do không có khả năng chi trả các khoản nợ quá hạn. Công ty này đã gặp khó khăn về tài chính do hàng hóa của công ty không tiêu thụ được khi có nhiều hàng hóa thay thế xuất hiện trên thị trường trong một vài năm gần đây.  Kế toán bỏ sót nghiệp vụ nhận hàng ngày 30/12/200N trị giá 120 triệu. Kế toán chỉ ghi nhận nghiệp vụ này khi đã nhận hóa đơn. Biết VAT là 10%.  Công ty đã ghi nhận nghiệp vụ bán hàng của năm 200N+1 vào năm 200N với giá bán 200 triệu, giá vốn 150 triệu. Thuế VAT 10%. Yêu cầu: 1. Xác định cơ sở dẫn liệu bị vi phạm qua các sai phạm kể trên. 2. Các nghiệp vụ kể trên có thể nằm trong phần hành kiểm toán nào nếu phân chia đối tượng kiểm toán theo chu trình? 16 ACC509_Bai 1_v1.0011105219
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2