intTypePromotion=1

Bài giảng Viêm xoang - PGS.TS.BS. Phạm Kiên Hữu

Chia sẻ: Minh Minh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:12

0
275
lượt xem
40
download

Bài giảng Viêm xoang - PGS.TS.BS. Phạm Kiên Hữu

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài giảng Viêm xoang nhằm giúp học viên có thể kể tên được các yếu tố gây viêm xoang; phân loại được các thể bệnh viêm xoang; nêu được các triệu chứng của viêm xoang; nêu được nguyên tắc xử trí viêm xoang; biết cách phòng ngừa viêm xoang.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài giảng Viêm xoang - PGS.TS.BS. Phạm Kiên Hữu

  1. VIÊM XOANG PGS Ts BS Phạm Kiên Hữu MỤC TIÊU :học xong bài này học viên phải: 1) Kể tên được các yếu tố gây viêm xoang 2) Phân loại được các thể bệnh viêm xoang . 3) Nêu được các trịêu chứng của viêm xoang. 4) Nêu được nguyên tắc xử trí viêm xoang. 5) Biết cách phòng ngừa viêm xoang. I. MỞ ĐẦU : Viêm xoang là tình trạng viêm của lớp niêm mạc lót trong xoang. Yếu tố khởi phát thường gặp nhết là bệnh viêm mũi họng cấp cảm. Viêm xoang là một trong số các bệnh phổ biến nhất. Nước ta chưa có thống kê đầy đủ, ở Hoa Kỳ. Viêm xoang ảnh hưởng hơn 31 triệu người mỗi năm ước tính chi phí hàng năm khoảng 150 triệu đô la chỉ riêng cho các thuốc để điều trị viêm xoang. Viêm xoang cấp hiếm khi chỉ giới hạn ở 1 xoang bởi vì bệnh tích ban đầu ảnh hưởng tới phức hợp lỗ thông mũi xoang. Người thầy thuốc cần ghi nhận được các yếu tố thụân lợi ảnh hưởng lên sự phát sinh và phát triển của bệnh viêm xoang. Chẩn đoán viêm xoang cấp thường không khó nhưng chẩn đoán viêm xoang mạn thường phức tạp hơn vì có thể bị che lấp bởi các yếu tố khác. Bác sĩ gia đình, bác sĩ chuyên khoa nhi, bác sĩ dị ứng nhi và bác sĩ tai mũi họng có thể làm tăng khả năng chẩn đoán viêm xoang chủ yếu ở trẻ em. Với sự phát triển của chụp mật độ cắt lớp và sự phát triển của kỹ thuật nội soi mũi, sự hiểu biết và chẩn đoán viêm xoang đã cải thiện. II. GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ XOANG : Các xoang cạnh mũi gồm có 8 xoang : 4 xoang bên trái và 4 xoang bên phải mỗi mũi. Chúng bao gồm xoang trán, xoang sàng (sàng trước, sàng sau), xoang hàm và xoang bướm. Xoang hàm và xoang sàng có ngay khi sinh , trong khi đó xoang bướm và xoang trán xuất hiện vào thời kỳ thứ hai tới thời kỳ thứ ba của cuộc sống. Thông thường các xoang phát triển hoàn chỉnh vào lúc 18 tuổi. Xoang trán rất đa dạng về hình dạng và kích thước. Oáng mũi trán dẫn lưu vào trong ngách sàng trán nằm ở khe giữa . 10-12 % người lớn cho thấy xoang trán thô sơ hoặc thiếu sự thông khí của xương trán. Xoang sàng là xoang phát triển nhất khi sinh. Các tế bào ở thành trong ổ mắt ở người lớn thay đổi nhiều về kích thước và số lượng. Xoang sàng ngăn cách với ổ mắt bởi 1 phiến xương rất mỏng, gọi là xương giấy do đó nhiễm trùng có thể xuyên qua lớp xương mỏng này, đưa tới biến chứng ổ mắt 1 cách nhanh chóng. Các tế bào sàng trước và sàng giữa dẫn lưu vào khe mũi giữa trong khi các tế bào sàng sau dẫn lưu vào khe trên. Lỗ thông của xoang sàng án chừng 1-2mm đường kính. Xoang hàm thường có ngay từ lúc mới sinh. Xoang hàm phát triển đầy đủ có dạng hình tháp. Lỗ thông xoang dẫn lưu qua khe giữa màng. Đường kính trung bình 2.5mm với 1
  2. vùng cắt chéo án chừng 5-6mm. thường 1 hoặc nhiều lỗ thông phụ nằm ở phần khe giữa phía trước. Lỗ thông phụ, khi có thường khu trú ở phần phễu hoặc phần màng của thành trong xoang. Xoang bướm bắt đầu phát triển vào thời kỳ thứ 2 hoặc thứ 3 của cuộc sống và thông thường thông khí đầy đủ lúc 17 hoặc 18 tuổi. Xoang bướm dẫn lưu vào ngách sàng bướm. Các xoang được lót bởi niêm mạc, niêm mạc xoang liên tiếp với niêm mạc hốc mũi. Lớp lót này bảo vệ chống lại sự xâm nhập của vi trùng và virus nhờ vào các men kháng khuẩn luôn luôn hiện diện trong dịch tiết xoang. Trong điều kiện sinh lý bình thường mỗi xoang chứa đầy không khí và thông thương với hố mũi qua lỗ ostium. Trên lâm sàng, các xoang được chia thành 2 nhóm xoang trước và xoang sau. a) Nhóm xoang trước bao gồm xoang trán ,xoang hàm, xoang sàng trước, dẫn lưu vào phía trước của khe giữa, vào trong hoặc gần phễu sàng, dưới chỗ bám của cuốn mũi giữa. b) Nhóm xoang sau tạo bởi xoang sàng sau và xoang bướm, dẫn lưu vào khe trên, trên chỗ bám của cuốn mũi giữa. Chức năng của các xoang bao gồm: giảm sự gia tăng đột ngột áp suất trong mũi, cộng hưởng giọng nói và làm ẩm không khí hít vào cũng như làm nhẹ khối xương sọ. Giải phẫu của khe giữa rất quan trọng để hiểu khái niệm viêm xoang. Ngày nay người ta biết rằng viêm xoang hàm thường thứ phát sau bệnh tích phức hợp lỗ thông khe. Phù nề niêm mạc và sự tắc nghẽn ở vùng này có thể đưa tới rối loạn sinh lý của xoang, đưa tới sự phát triển của các bệnh tích tạo nên các triệu chứng. III. SINH LÝ BỆNH HỌC : Để hiểu về bệnh tích xoang điều cơ bản là phải hiểu sinh lý bệnh học cơ bản của các xoang. Có 3 yếu tố chủ yếu trong sinh lý bình thường của các xoang cạnh mũi là :độ thông thoáng của lỗ thông khe, chức năng lông chuyển và chất lượng của sự chế tiết nhầy. Lông chuyển đòi hỏi phải có dịch vừa phải để đập và hoạt động bình thường. Môi trường lông chuyển bình thường được tạo bởi lớp nhầy đôi: lớp nhầy nông quánh gọi là lớp gel và lớp thanh dịch bên dưới gọi là lớp sol. Sinh bệnh học đầu tiên có ý nghĩa nhất là phù nề lớp niêm mạc quanh lỗ thông tự nhiên. Sự tắc nghẽn lỗ thông xoang tạo ra sự kém thông khí ở các xoang bị ảnh hưởng. Khi chức năng lông chuyển bị rối loạn, lớp phủ nhầy không hoạt động bình thường, yếu tố đề kháng tại chỗ bị giảm. Khi lỗ thông bị tắc, chế tiết bị ứ lại. Ban đầu có sự gia tăng thoáng qua của áp suất trong mũi theo sau áp suất âm trong mũi là hậu quả của sự giảm oxy xoang. Sự thở qua mũi giảm là kết quả của nhiều yếu tố gây phù niêm mạc và giảm oxy. Hắt hơi, sổ mũi, và hỉ mũi vi trùng có thể đi vào trong xoang và lần nữa sự ứ đọng chất tiết xảy ra. Chức năng lông chuyển bị giảm. Độ quánh của dịch mũi thay đổi là môi trường nuôi cấy lý tưởng cho vi trùng. Biểu mô lót trong mũi và các xoang cạnh mũi là biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển. Chức năng vận chuyển nhầy lông chuyển rất quan trọng đối với chức năng xoang và mũi bình thường vì thế hiểu các yếu tố làm suy giảm chức năng vận chuyển nhầy lông chuyển để hiểu viêm xoang do vi trùng. Trong quá trình xử trí bệnh nhân viêm xoang điều quan trọng là xác định xem có yếu tố tại chỗ, tại vùng hay yếu tố toàn thân phối hợp 2
  3. không?. Nhiễm trùng đường hô hấp trên thường cũng có thể ảnh hưởng đến niêm mạc xoang bởi biểu mô của xoang thì giống với biểu mô của mũi. Thiếu oxy Rối loạn chức năng nhầy lông chuyển Chất xuất tiết dầy Tầm quan trọng của thiếu oxy , làm giảm chức năng nhầy lông chuyển và ứ đọng chất tiết nhầy HẬU QUẢ CỦA TẮC LỖ THÔNG XOANG Giảm oxy Giản mạch Rối loạn chức năng lông chuyển Rối loạn chức năng tuyến nhầy Xuất tiết Tù hãm Dịch nhầy quánh Ưù đọng chế tiết nhầy dầy Tắc nghẽn lỗ thông xoang tạo ra giảm oxy, rối loạn chức năng lông chuyển và ứ đọng chế tiết nhầy. IV. NGUYÊN NHÂN : IV.1. CÁC NGUYÊN NHÂN TẠI CHỖ VÀ YÊÚ TỐ MÔI TRƯỜNG: Các yếu tố tại cho,ã tại vùng tạo ra sự xâm nhập thứ phát của vi trùng vào trong xoang có liên quan đến sự suy giảm chức năng vận chuyển nhầy lông chuyển. Hít không khí lạnh và khô có thể đưa tới suy giảm chức năng nhầy lông chuyển và đưa tới viêm xoang. Đa số nguyên nhân tại vùng tạo ra viêm xoang mưng mủ là nhiễm trùng chóp răng ( đặc biệt là các răng 4,5,6, hàm trên liên quan mật thiết với xoang hàm), hoặc các nguyên nhân tại chỗ như chấn thương, có thể làm thay đổi giải phẫu của phức hợp lỗ thông khe. Bệnh lý vách ngăn cũng có thể gây nên tắc nghẽn cơ học thứ phát. Hẹp cửa mũi sau có liên quan tới sự dẫn lưu của mũi cũng có thể là yếu tố thuận lợi. Phù nề thứ phát sau nhiễm trùng đường hô hấp dưới cũng có thể làm tắc lỗ thông khe, vi khuẩn có thể đi vào trong xoang và tạo ra viêm xoang mưng mủ. Chấn thương áp lực: thay đổi áp suất trong quá trình du lịch bằng máy bay, bơi lội hoặc lặn cũng có thể tạo ra phù nề của lỗ thông khe, và bơi lội trong môi trường nước ô nhiễm cũng có thể tạo thuận lợi cho vi trùng đi vào trong mũi và xoang và tạo ra viêm xoang mưng mủ. Polyp mũi, dị vật mũi. hoặc 3
  4. nhét bấc mũi có thể làm thay đổi thông khí của xoang và tạo ra viêm xoang. Các khối u mũi cũng có thể là yếu tố thuận lợi trong việc phát triển viêm xoang do vi trùng. Hội chứng bất động lông chuyển hoặc rối loạn vận động của lông chuyển, một rối loạn bẩm sinh ảnh hưởng đến sự lạc hướng của lông chuyển và bất thường cánh tay dynein cũng có thể tạo ra viêm xoang và viêm phế quản do mất sự thanh lọc nhầy. IV.2. CÁC YẾU TỐ TOÀN THÂN TẠO THUẬN LỢI : Các yếu tố toàn thân tạo thuận lợi cho sự phát triển của viêm mũi xoang là tình trạng suy nhược như kém dinh dưỡng, dùng corticoid dài ngày, tiểu đường không kiểm soát, hoá trị lịêu , hoặc các yếu tố khác góp phần như dị ứng, tình trạng suy giảm chuyển hoá. Viêm xoang cũng có thể biểu hiện 1 tình trạng suy giảm miễn dịch huyết thanh nghiêm trọng như thiếu IgG. Sự thiếu này nên được xemxét ở tất cả các trường hợp viêm xoang tái phát. Viêm xoang cũng có thể là biểu hiện của suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS). Đã có báo cáo rằng có ít nhất 80% trường hợp AIDS có biểu hiện viêm xoang. Trong thực tế, bác sĩ tai mũi họng có thể gặp bệnh nhân AIDS với biểu hiện viêm xoang tái phát như là biểu hiện đầu tiên của bệnh AIDS. Về phần nguyên nhân, các yếu tố toàn thân khác cũng có thể tạo thuận lợi cho sự phát triển của viêm xoang do vi trùng. Nhận dạng các yếu tố có sẵn không chỉ hiệu quả trong xử trí đúng mà còn loại bỏ nguyên nhân thuận lợi chủ yếu nếu xảy ra ở mũi hoặc ở răng. Do đó điều quan trọng trong xử trí viêm xoang tái phát là giải quyết các yếu tố thuận lợi . V. PHÂN LOẠI : Phân loại viêm xoang dựa trên bệnh học có lợi trong xử trí bệnh nhân. Co ù lợi khi xác định một xoang hay nhiều xoang bị ảnh hưởng và thời gian bịnh. Viêm xoang mưng mủ cấp :là quá trình nhiễm trùng ở xoang kéo dài từ 1 ngày đến 4 tuần.  Các triệu chứng khởi phát đột ngột  Thời gian nhiễm trùng có giới hạn  Tự khỏi hoặc khỏi do điều trị  Các giai đoạn bệnh có thể tái phát nhưng giữa các giai đoạn niêm mạc bình thường 
  5. Đợt cấp của viêm mũi xoang mạn :  Đợt viêm cấp kéo dài
  6. phần giữa mũi hoặc đau sau ổ mắt. Đau vùng xoang bướm có thể ở đỉnh hoặc 2 thái dương. Trong viêm xoang mủ cấp, chảy nước mũi mủ vàng xanh 1 hoặc 2 bên, bệnh sử nhiễm trùng hô hấp trước đó như là yếu tố thuận lợi. Cả 2 bên có thể bị ảnh hưởng và thường có triệu chứng toàn thân. Sốt làm cho bệnh nhân lừ đừ và mệt mỏi. Trong viêm xoang mạn thường có chảy mủ nhầy và nghẹt mũi nhẹ. Mất khứu có thể xảy ra gợi ý viêm xoang có polyp. Trong khi đau và các triệu chứng toàn thân rõ ràng không có. Bệnh nhân thường không có sốt nhẹ và cũng không có đau đầu và đau mặt. Viêm xoang mưng mủ cấp có thể chồng lên trên viêm xoang mạn có sẵn. Trong trường viêm xoang hàm cấp cũng có thể than phiền đau răng, tắc nghẽn đường thở và chảy mũi. Do vị trí lỗ thông xoang sàng, xoang trán trong vùng hẹp của khe giữa ở gần lỗ thông xoang hàm nên nhiễm trùng từ xoang này có thể lan sang xoang khác. Quá trình viêm lan đến tất cả các xoang gọi là viêm đa xoang. Những bệnh nhân này có thể có triệu chứng tất cả các xoang bị ảnh hưởng. Phù nề quanh ổ mắt có thể bị ảnh hưởng khi xoang sàng, xoang trán và xoang hàm bị ảnh hưởng riêng lẻ hay cùng lúc bởi vì các xoang này gần gũi với ổ mắt. Mắt được bao bọc 3 mặt bởi các xoang, do đó mắt có thể bị ảnh hưởng khi xoang bị bệnh, các biến chứng có thể xảy ra thứ phát sau viêm xoang. Mù mắt cũng có thể xảy ra. Xoang bướm và xoang sàng cũng có thể tạo ra đau đầu vùng chẩm, vùng đỉnh hoặc đau thái dương, đau mũi, đau sau hốc mắt, đau lan xuống cổ và xuống vai. Viêm xoang mưng mủ cấp tái phát là 1 tình huống đặc biệt và đòi hỏi phải nghiên cứu cẩn thận các yếu tố thuận lợi bao gồm các yếu tố tại chỗ, tại vùng, các yếu tố toàn thân hoặc kết hợp các yếu tố khác. VII. KHÁM LÂM SÀNG: Chẩn đoán viêm xoang dựa trên bệnh sử, khám lâm sàng, khẳng định dựa trên các dấu hiệu Xquang và nuôi cấy vi sinh học. Nên ghi nhận cẩn thận dấu hiệu lâm sàng khi khám mũi. Khám mũi trước với nguồn sáng tốt để nghiên cứu về giải phẫu và niêm mạc. Có thể gặp phù nề niêm mạc và sung huyết, hoặc vệt chảy mủ nhầy. Ghi nhận vùng chảy mủ có thể giúp ích trong việc xác định xoang nào bị ảnh hưởng. Bất kỳ đau căng nào ở mặt và vị trí của nó cũng nên được ghi nhận. Sờ và gõ vùng xoang trán, vùng trong ổ mắt ( xoang sàng), mặt trước cũng như vùng rãnh lợi môi( xoang hàm). Tìm kiếm phù nề quanh ổ mắt, hơi thở hôi đặc biệt là ở trẻ con. Vòm mũi họng cũng phải khám cẩn thận để tìm tắc nghẽn do VA, khối u, hẹp cửa mũi sau và chảy mủ phía sau mũi. Phải khám tai, mũi, họng 1 cách thường qui bởi vì viêm tai giữa thanh dịch có thể xảy ra đồng thời với viêm xoang. Soi bóng mờ cũng có thể thực hiện mặc dù theo kinh nghiệm của chúng tôi nó không đáng tin cậy. Chỉ có xoang trán và xoang hàm là có thể được soi bóng mờ. Giảm soi bóng mờ có thể cho người khám cảm giác giả là xoang bị tắc do xuất tiết hoặc do mủ cũng có khi giảm thực sự do giảm sản xoang trán hoặc do xẹp xoang hàm. Những tiến bộ mới đây đã giúp chẩn đoán bệnh nhân viêm xoang. Bằng phương pháp nội soi mũi, người thầy thuốc đã có nhiều thuận lợi khi khám lâm sàng để xác định 1 hoặc nhiều xoang bị viêm và có các yếu tố tại chỗ kết hợp như là căn nguyên của bệnh viêm xoang. Nội soi có thể được thực hiện với ống soi cứng hoặc ống soi mềm( khám mũi trước và sau khi đặt thuốc co mạch tại chỗ( Otrivin , Rhinex) cho phép người khám phát hiện được sai lệch của vách ngăn( vẹo vách ngăn, gai vách ngăn …) , nhìn thấy được khe 6
  7. mũi giữa, cuốn mũi giữa và cuốn mũi dưới cũng như cho phép khám phá những thay đổi khác như polyp hoặc u. sau khi đặt thuốc co mạch, dùng thuốc tê tại chỗ bằng Lidocain 4% hoặc Cocain 5%. Nội soi mũi với nuôi cấy, sinh thiết, rửa mũi có thể thực hiện qua chọc xoang hàm dưới gây tê tại chỗ ( Lidocain 1% , 2ml) hoặc bằng cách đưa ống nội soi qua khe dưới hoặc bằng cách chọc qua cửa sổ ở hố nanh. Chụp Xquang thường có ích trong trường hợp viêm xoang mưng mủ cấp. Tuy nhiên, chụp CT cải thiện rõ khả năng của thầy thuốc để đánh giá giải phẫu và bất thường ở phức hợp lỗ thông khe cũng như mức độ lan rộng tới các xoang bị ảnh hưởng. Những hình ảnh Xquang thường có thể thấy trong viêm xoang cấp là hình ảnh dầy niêm mạc, mức khí dịch, hoặc mờ toàn bộ của 1 xoang hoặc nhiều xoang bị ảnh hưởng. Polyp mũi cũng có thể kết hợp với viêm xoang ở bất kỳ xoang nào, chủ yếu ở xoang hàm và xoang sàng. CTScan X quang Blondeau Chẩn đoán viêm xoang mưng mủ cấp : Triệu chứng và dấu hiệu  Đau mũi, đau mặt hoặc nhức đầu  Nghẹt mũi/ phù nề niêm mạc  Chảy nước mũi/ mủ trong mũi  Sốt, mệt mỏi,  Phù nề quanh ổ mắt Nội soi mũi Nghiên cứu Xquang Chụp Xquang xoang Mủ ở khe giữa CT xoang hoặc MRI VIII. CĂN NGUYÊN CỦA VIÊM XOANG: Vi trùng học trong viêm xoang cấp ở cả người lớn và trẻ con đã được nghiên cứu qua nhiều năm. Nuôi cấy trực tiếp từ xoang chính xác hơn nuôi cấy lấy từ mũi, từ vòm mũi họng hay họng miệng. Nhiều cuộc điều tra đã chứng minh rằng thông thường ít có sự liên quan nuôi cấy lấy ngẫu nhiên từ mũi hoặc vòm mũi họng và nuôi cấy lấy được từ chọc hút xoang. Chất nuôi cấy được lấy trực tiếp từ xoang bằng cách chọc xoang hoặc bằng phẫu thuật thăm dò. Bởi vì cấy trong mũi phản ánh không thích hợp vi sinh vật ảnh hưởng ở xoang, kháng sinh của viêm xoang cấp thông thường điều trị theo kinh nghiệm và dựa trên kết quả của các cuộc nghiên cứu trước. Các bằng chứng mới đây đề nghị rằng 7
  8. có thể có sự tương quan chính xác hơn giữa cấy trực tiếp qua nội soi của khe giữa và vi trùng gây ra viêm xoang hàm. Thêm vào đó, khi bệnh nhân không đáp ứng với điều trị kháng sinh trong viêm xoang mưng mủ cấp, phải cấy xoang. Khi có kết quả nuôi cấy phải nghiên cứu các vi trùng thông thường, trực trùng acid nhanh, nấm và vi trùng kỵ khí. Viêm xoang mưng mủ cấp, tác nhân gây bệnh phổ biến nhất trong là vi trùng gram dương. * Ơû người lớn, đại đa số tác nhân gây bệnh viêm xoang mưng mủ cấp là: Streptococcus pneumoniae, Staphylococcus aureus , Sreptococcus pyogenes nhóm ABC, và Haemophylus influenzae( gram âm). Số vi trùng kỵ khí cũng có thể có. * Ở trẻ con, sinh vật được nuôi cấy phổ biến nhất trong viêm xoang mưng mủ cấp là: S.pneumoniae, Branhamella catarrhalis ( Neisseria catarrhalis) Haemophilus influenzae, Streptococcus pyogenes tan huyết alpha. Viêm xoang mạn :Sinh vật phổ biến nhất là Bacteroides, Veilonella, Rhinibacterium và các vi trùng kỵ khí khác như H.influenzae, S. viridans và nhiều dạng liên cầu. Hiếm khi viêm xoang mạn được giải quyết có kết quả bằng xử lý kháng sinh. IX. ĐIỀU TRỊ : Bao gồm điều trị nội khoa và điều trị ngoại khoa. Điều trị ngoại khoa có thể nhẹ, bao gồm thủ thuật ở phòng khám hoặc can thiệp ở phòng mổ. IX.1. ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA : * Kháng sinh là chìa khoá cho điều trị nội khoa viêm xoang cấp. Penicilline G là kháng sinh chọn lựa tốt ban đầu và là trị liệu xác định cho trực trùng gram dương và gram âm và cầu trùng gram âm. Amoxicilline được sử dụng để bao vây Haemophilus influenzae, tuy nhiên bêta –lactamase dương tính và H.influenza và B.catarrhalis kháng ampi /amox đã phát triển. Cefaclor, Trimethoprim sulfate hoặc Erythromycine sulfate, và Augmentin ( amoxicilline và potassium clavulanate) thích hợp đối với đại đa số các tác nhân gây bệnh viêm xoang cấp. Augmentin chứng tỏ có hiệu quả như Cefaclor trong cả 2 nhóm người lớn và trẻ em trong viêm xoang cấp. Rủi thay có 1 tỷ lệ trẻ em cũng như người lớn có triệu chứng dạ dày ruột khi dùng Augmentin. Nếu tác dụng phụ này xảy ra, hãy ngừng Augmentin và dùng Cefaclor. Cần chú ý khai thác tiền sử dị ứng thuốc kháng sinh từ bệnh nhân hoặc cha mẹ bệnh nhi. Cải thiện lâm sàng thường xảy ra sau 48-72 giờ sau khi sử dụng kháng sinh. Bệnh nhân bị sốt nhẹ sẽ hết sốt, chảy mũi giảm đáng kể, và ho đặc biệt là ở trẻ con giảm rõ rệt. Liệu pháp kháng sinh nên dùng liên tiếp ít nhất là 7 ngày sau khi các triệu chứng biến mất. Thời gian điều trị trung bình từ 10 ngày tới 2 tuần. * Thuốc co mạch tại chỗ và co mạch toàn thân có lợi và tạo thuận lợi cho sự oxy hoá và dẫn lưu mủ trong xoang bằng cách giảm phù nề niêm mạc lỗ thông khe. * Thuốc chống dị ứng nên dùng ở bệnh nhân mà dị ứng được xem như là yếu tố thuận lợi cho viêm xoang. * Thuốc giảm đau để kiểm soát đau *Thuốc tan đàm có lợi ở vài bệnh nhân chủ yếu khi chất xuất tiết dầy. * Corticosteroid: Dạng xịt mũi làm giảm hịên tượng viêm Là phương tiện vàng trong xử trí polyp mũi 8
  9. IX.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ KHÔNG DÙNG THUỐC :  Khí dung  Làm ẩm môi trường  Rửa mũi bằng nước muối sinh lý Tất cả các phương pháp điều trị này làm mềm vẩy và làm ẩm niêm mạc Mặt khác cần hướng dẫn bệnh nhân bản chất của các rối loạn và kế hoạch điều trị. Bệnh nhân nên hiểu rằng điều trị nội khoa chỉ là 1 phần trong quá trình điều trị và đôi khi phải điều trị ngoại khoa khi cần thiết, ở phòng khám hoặc ở phòng mổ. Bệnh nhân cũng phải hiểu rằng vai trò của thầy thuốc là cố tìm các yếu tố thụân lợi bằng cách dùng Xquang, thử máu hoặc thậm chí phải phẫu thuật để giải quyết yếu tố thuận lợi. IX.1.3 .ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA : Điều trị ngoại khoa tạo thuận lợi cho sự dẫn lưu của xoang bị bệnh và lấy đi niêm mạc bị bệnh. Điều này có thể đòi hỏi phải làm khẩn cấp khi có các biến chứng hoặc khi đau dữ dội ,hoặc khi bệnh nhân không đáp ứng với điều trị nội khoa thích hợp.  Chọc rửa xoang  Phẫu thuật nội soi mũi xoang  Phẩu thuật xoang kinh điển A/CHỌC RỬA XOANG HÀM Sử dụng trong lịch sử, tuy nhiên so với phương pháp điều trị nội khoa hiện đại nó không có thuận lợi gì hơn. Phương pháp này có tác động giúp lấy đi các mảnh vụn và tái lập thông khí Chọc rửa xoang không có hiệu quả trong vấn đề tắc phức hợp lỗ thông khe của viêm xoang mạn. Lợi ích chủ yếu của chọc rữa xoang hàm là lấy đi mủ nhầy từ xoang bị bệnh và tạo thuận lợi cho sự thông khí ( oxy hoá ) của xoang. Khi chọc rửa xoang hàm thì dịch lấy ra nên được nuôi cấy tìm vi trùng thông thường, trực trùng acid nhanh và vi trùng kỵ khí. Hiếm khi tế bào học được dùng để chẩn đoán bệnh lý ác tính trong trường hợp mờ xoang hàm 1 bên không giải thích được. Trong những trường hợp này, chọc rửa xoang vừa là điều trị vừa giúp ích cho chẩn đoán. Mỗi khi mờ xoang hàm 1 bên không giải thích được phải được theo dõi nghi ngờ ác tính cho đến khi có bằng chứng ngược lại. B/ PHẪU THUẬT NỘI SOI XOANG : Là phẫu thuật cho phép phục hồi sự thanh lọc nhầy lông chuyển và thông khí qua lỗ thông tự nhiên Phẫu thuật đuổi theo bệnh tích. Từ chối quan niêm trước đó là bệnh lý niêm mạc không thể phục hồi. C/ PHẪU THUẬT XOANG KINH ĐIỂN : Là phẫu thuật lấy đi toàn bộ niêm mạc xoang. Trước kia khi chưa có ống nội soi, người ta thường dùng phẫu thuật này. Từ khi có ống nội soi ra đời người ta chỉ dùng phẫu thuật này trong trường hợp không thể bảo tồn niêm mạc xoang: thí dụ nấm xoang hàm xâm lấn 9
  10. X.BIẾN CHỨNG : Biến chứng có thể xảy ra ở những bệnh nhân viêm xoang cấp, bán cấp, hoặc mạn. May thay, tỷ lệ các biến chứng nặng thì thấp mặc dù tần suất chính xác chưa rõ. Các biến chứng thường có liên quan tại chỗ tới vùng xoang bị ảnh hưởng. Do mắt bị bao quanh 3 mặt bởi các xoang, vi trùng có thể lan vào ổ mắt. Biến chứng ổ mắt và quanh ổ mắt có thể bao gồm viêm mô tế bào quanh ổ mắt, áp xe dưới cốt mạc và áp xe quanh ổ mắt, nếu không điều trị biến chứng này có thể lan vào đỉnh ổ mắt và gây mù mắt. Bệnh xoang sàng cấp, chủ yếu ở trẻ em và bệnh nhiễm trùng xoang trán chủ yếu ở người lớn có thể ảnh hưởng đến mắt sớm trong quá trình viêm cấp. Thêm vào đó, bệnh xoang bướm có thể tạo ra thay đổi thị giác do sự liên hệ của nó tới xoang tĩnh mạch hang qua các thần kinh vận nhãn chung (thần kinh sọ số 3), thần kinh ròng rọc( thần kinh sọ số 4) thần kinh vận nhãn ngoài ( thần kinh sọ số 6). Viêm xương tuỷ có thể ảnh hưởng đến xương trán hoặc xương hàm trên, nhờ điều trị sớm đây là biến chứng hiếm gặp. Dò xoang miệng có thể xảy ra do bệnh lý răng và vấn đề điều trị răng. Các biến chứng nội sọ hiếm bao gồm áp xe ngoài màng cứng, áp xe dưới màng cứng, viêm màng não, áp xe não, viêm tắc xoang tĩnh mạch hang. Bệnh nhân cần được điều trị tích cực nếu biến chứng đe doạ tính mạng. Trong những trường hợp này nên chọn đường rạch thích hợp va ødẫn lưu sớm. Khám ngoại thần kinh và khám mắt sớm khi viêm xoang độc tính, bệnh nhân suy yếu, và đe doạ các biến chứng. Bệnh nhân phải được thông tin rằng có nhiều giai đoạn khác nhau trong xử trí viêm xoang cấp, bán cấp, viêm xoang mạn. Điều trị nội khoa được chỉ định trong trường hợp viêm xoang cấp, bán cấp và thành công trong đa số các trường hợp. Nếu cần thiết trong trường hợp bán cấp, làm thủ thuật ngoại khoa nhẹ khi thích hợp, phần lớn các trường hợp có thể chữa lành. Trong trường hợp viêm xoang mạn, điều trị ngoại khoa được chỉ định để phục hồi tiến trình bệnh và giúp thông khí trong xoang bị nhiễm. Phẫu thuật trong viêm xoang cấp có thể được chỉ định khi điều trị kháng sinh thích hợp mà đau vẫn kéo dài hơn 24-48 giờ. Biến chứng của viêm xoang mưng mủ cấp : * Viêm mô tế bào ổ mắt, áp xe ổ mắt.  Giảm thị lực , mất hoặc thay đổi vận động của mắt . Khám và can thiệp ngoại khoa sớm. * Thần kinh :  Aùp xe dưới màng cứng, ngoài màng cứng.  Viêm màng não , áp xe não. Khám và can thiệp ngoại khoa sớm. * Răng : Dò xoang răng. * Viêm xương tuỷ : cốt tuỷ viêm xương trán hoặc xương hàm trên XI. KẾT LUẬN : Chẩn đoán sớm và có phương pháp điều trị thích hợp (kháng sinh, chống sung huyết, giảm đau) sẽ kiểm soát được phần lớn các trường hợp viêm xoang mưng mủ cấp. Nên giải thích cho bệnh nhân rằng có nhiều bước trong xử trí viêm xoang cấp và mạn. Viêm 10
  11. xoang cấp đa số có thể điều nội khoa. Viêm xoang mạn cần tìm các yếu tố thuận lợi. Biến chứng nặng và cấp cần phát hiện và xử trí kịp thời như là 1 cấp cứu . Phòng ngừa viêm xoang chủ yếu bằng vệ sinh môi trường và cơ thể khỏe mạnh. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1) Head and neck surgery -otolaryngology, Byron J.Bailey, 1998,volume 1 ,p 366-375. 2) ORL, Patrice TRAN BA HUY, 1996,P 453-460. 3) Bài giảng tai mũi họng, 1998, 199-215. 4) Programme de l’internat, E.Chabolle,1999 ,137-161. CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM: CÂU 1 : bệnh lý răng có thể gây viêm xoang nào dưới đây: a) Xoang trán. b) Xoang hàm. c) Xoang sàng . d) Xoang bướm. CÂU 2 : xoang nào xuất hiện muộn nhất : a) Xoang trán. b) Xoang hàm. c) Xoang sàng . d) Xoang bướm CÂU 3 : chẩn đoán viêm xoang bướm thường khó là do : a) Xoang bướm liên quan mật thiết với xoang hang. b) Xoang bướm liên quan mật thiết với động mạch cảnh trong c) Xoang bướm liên quan mật thiết với dây thần kinh thị giác. d) Xoang bướm nằm ở sâu. CÂU 4: viêm xoang mạn, triệu chứng thường kéo dài : a) >4 tuần b) >8 tuần. c) >12 tuần d) >16 tuần . CÂU 5: trong xử trí viêm xoang cấp, điều trị kháng sinh là cần thiết: a) Đúng b) Sai. CÂU 6 : trong xử trí viêm xoang mạn, điều trị kháng sinh là yếu tố hàng đầu : a) Đúng . b) Sai. 11
  12. CÂU 7: trong các biến chứng nặng của viêm xoang, biến chứng nào sau đây thường gặp nhất: a) Aùp xe não . b) Viêm màng não. c) Viêm mô tế bào quanh ổ mắt. d) Dò xoang răng. CÂU 8: nguyên nhân thường gặp nhất của viêm xoang là : a) Tắc phức hợp lỗ thông khe. b) Dị ứng. c) Hội chứng loạn vận động tế bào lông. d) Hội chứng suy giảm miễn dịch. CÂU 9: khi xử trí viêm xoang, đôi khi cần sự phối hợp chặt chẽ với chuyên khoa mắt và ngoại thần kinh a) Đúng b) Sai. CÂU 10: trong các triệu chứng dưới đây, triệu chứng nào gợi ý nhất viêm xoang polyp mũi: a) Nghẹt mũi. b) Mất mùi. c) Sổ mũi. d) Hắt hơi. ĐÁP ÁN: Câu 1:B , Câu 2: A ,Câu 3: D , Câu 4: C , Câu 5: A Câu 6:B , Câu 7: C , Câu 8: A , Câu 9: A , Câu 10:B 12

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản