intTypePromotion=3

Bài thuyết trình: Đá Magma và đá biến chất (PDSH)

Chia sẻ: Huỳnh Thị Thùy Dương | Ngày: | Loại File: PPT | Số trang:38

0
90
lượt xem
20
download

Bài thuyết trình: Đá Magma và đá biến chất (PDSH)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đá mácma hay đá magma là những loại đá được thành tạo do sự đông nguội của những dung thể magma nóng chảy được đưa lên từ những phần sâu của vỏ Trái Đất. Nhằm giúp các bạn hiểu hơn về vấn đề này, mời các bạn cùng tham khảo bài thuyết trình "Đá Magma và đá biến chất - PDSH" dưới đây. Hy vọng nội dung bài thuyết trình phục vụ hữu ích nhu cầu học tập và nghiên cứu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài thuyết trình: Đá Magma và đá biến chất (PDSH)

  1. • PDSH: Đá Magma và đá biến chất      •  Thực hiên : ̣              Trần Trung Hiếu               Lê Thu Trang ̣ ́n               Hoàng Thi Yê
  2. Đá Magma ̣ Đá mácma hay đá   Khái niêm:  magma là những loại đá được thành  tạo do sự đông nguội của những  dung thể magma nóng chảy được  đưa lên từ những phần sâu của vỏ  Trái Đất. Quá trình đông nguội có  thể tạo ra các đá có các khoáng vật  kết tinh rõ ràng hoặc không kết tinh  tùy thuộc vào môi trường mà khối  magma đông nguội, và dựa vào đó  người ta ta phân ra: đá xâm nhập và  phun trào. Macma này có thể có  nguồn gốc từ manti của Trái Đất  hoặc từ các loại đá đã tồn tại trước  đó bị nóng chảy do các thay đổi  nhiệt độ áp suất cực cao. Trên 700  loại đá mácma đã được miêu tả lại,  phần lớn trong chúng được tạo ra  gần bề mặt lớp vỏ Trái Đất.
  3. Nguồn gốc và phân bố  Nguồn gốc : Lớp vỏ Trái Đất  dày khoảng 35 km (22 dặm) tại  các phần dưới các vỏ lục địa,  nhưng trung bình chỉ khoảng 7  km (4,3 dặm) dưới các đại  dương. Nó được tạo thành từ các  loại đá có tỷ trọng tương đối  thấp, và gần với lớp vỏ là các  loại đặc hơn của lớp phủ, chúng  mở rộng tới độ sâu gần 3.000  km (1.860 dặm). Phần lớn  macma tạo thành đá mácma được  sinh ra trong các phần phía trên  của lớp phủ ở nhiệt độ khoảng  từ 600 đến 1.600 °C.
  4. • Khi macma nguội đi, các khoáng vật sẽ kết tinh từ hỗn hợp nóng chảy ở  các nhiệt độ khác nhau (quá trình kết tinh phân đoạn). Có tương đối ít  khoáng vật có vai trò quan trọng trong sự hình thành của đá mácma. Có  điều này là do macma nguồn chỉ giàu một một số nguyên tố nhất định:  silíc, ôxy, nhôm, natri, kali, canxi, sắt và magiê. Chúng là các nguyên tố  khi kết hợp với nhau tạo ra các khoáng vật silicat, là các loại khoáng  chất chiếm trên 90% thành phần các loại đá mácma.  Phân bố : Các loại đá mácma chiếm khoảng 95% toàn bộ phần phía trên  của lớp vỏ Trái Đất, nhưng chúng phân bố phổ biến hơn ở bên dưới lớp  đá trầm tích và đá biến chất tương đối mỏng nhưng phân bố rộng.
  5. ̣ Ý nghĩa đia chất  Đá mácma có ý nghĩa quan trọng về mặt địa chất do: • Các khoáng vật và tính chất hóa học tổng thể của chúng cung cấp thông  tin về thành phần của lớp vỏ trái đất tại những đá mácma được hình  thành cũng như các điều kiện về nhiệt độ và áp suất hình thành nên đá  và thông tin về các loại đá trước đó bị nóng chảy;  • Niên đại tuyệt đối của chúng có thể được xác định bằng các phương  pháp xác định niên đại bằng phóng xạ khác nhau và vì thế có thể so sánh  với các địa tầng địa chất cận kề, cho phép miêu tả lại thời gian diễn ra  các sự kiện một cách tương đối chính xác;  • Các đặc điểm của chúng thông thường được đặc trưng bởi các điều  kiện của môi trường kiến tạo cụ thể, cho phép tái tạo lại các mô hình  kiến tạo (Xem thêm kiến tạo mảng);  • Trong một số hoàn cảnh đặc biệt, chúng là nguồn gốc của một số mỏ  khoáng sản quan trọng: ví dụ vonfram, thiếc và urani, thông thường hay  đi cùng với đá granit. 
  6. Môi trường tao tha ̣ ̀nh  Đá  xâm nhâp ̣  :  thành tạo ở độ  sâu > 1,5km so với bề mặt địa  hình của Trái Đất, chịu áp lực  lớn hơn của các lớp bên trên và  nguội dần đi mà thành do vậy nó  có kiến trúc ban tinh gồm các  tinh thể hạt lớn, đều đặn, cấu  tạo đặc sít như granit, điorit,  gabro... Các khoáng vật trong các  loại đá này có thể xác định bằng  mắt thường. • Phần lõi trung tâm của các dãy  núi lớn chứa các loại đá xâm  nhập, thông thường là đá granit.  Khi bị lộ ra do xói mòn, các lõi  này (gọi là các bathôlit) có thể  chiếm một khu vực rộng lớn trên  bề mặt.
  7. • Đá xâm nhập có kiến trúc ban tinh được tạo thành ở sâu dưới đất được  gọi là đá xâm nhập sâu; Đá lửa xâm nhập có kiến trúc ban tinh được tạo  thành ở gần bề mặt được gọi là đá xâm nhập nông. Khái niệm xâm  nhập nông hiện nay vẫn còn một số tranh cãi nhưng đa số các quan điểm  cho rằng nó được kết tinh bên dưới mặt đất đến độ sâu 1,5km. • Đá magma phun trào: Đá phun trào hay đá phún xuất là kết quả của  các hoạt động phun trào núi lửa và vì thế bị làm cứng và đông đặc trong  điều kiện phơi ra ngoài khí quyển. Do nguội nhanh trong điều kiện  nhiệt độ và áp suất thấp, các khoáng vật không kịp kết tinh, hoặc chỉ là  kết tinh một phần nên có kích thước tinh thể bé, chưa hoàn chỉnh, hoặc  tồn tại ở dạng vô định hình. Mặt khác, các chất khí và hơi nước không  kịp thoát ra, để lại nhiều lỗ rỗng, làm cho đá nhẹ, có loại nổi trên mặt  nước( đá bazan bot ). ̣ • Ngoài ra, đá phun trào cũng được còn gọi là đá núi lửa,Ở độ sâu vài  kilômét dưới bề mặt Trái Đất thì nhiệt độ cao hơn so với nhiệt độ mà  phần lớn các loại đá có thể nóng chảy tại bề mặt. Tuy nhiên, các loại đá  này vẫn ở dạng cứng do áp suất lớn tạo ra bởi các lớp đá nằm phía trên.  Nếu như có các khe nứt trong các lớp đá thì áp suất bị tụt xuống và một  khối lượng đáng kể đá bị nóng chảy. Macma tạo ra sẽ bị ép phụt lên trên  thông qua các kẽ nứt tới bề mặt và tạo thành núi lửa.
  8. VIDEO PHUN TRÀO MAGMA
  9. • Đá nóng chảy (gọi là dung nham hay lava) sẽ chảy ra từ núi lửa và loang  rộng. Do dung nham bị nguội và kết tinh nhanh nên nó tạo ra các loại đá có  kiến trúc vi tinh. Nếu sự làm nguội là quá nhanh, không cho quá trình kết  tinh có thể xảy ra thì các loại đá tạo thành có kiến trúc thủy tinh (chẳng  hạn như đá opxidian tức đá vỏ chai). • Do kiến trúc vi tinh nên các dạng khác nhau của đá phun trào khó phân biệt  bằng mắt thường hơn so với các dạng khác nhau của đá xâm nhập. Nói  chung, với kiến trúc vi tinh các khoáng vật của đá phun trào chỉ có thể xác  định bằng cách soi kính thạch học (đá được mài thành các mẫu mỏng và  được soi dưới kính hiển vi có hai ni­côn) và sự phân loại bằng mắt thường  chỉ là gần đúng . • Các vật chất có thể bị núi lửa tống ra ngoài rất mãnh liệt trong quá trình  hoạt động phun trào là các khối, cục đá và tro. Các vật chất này được gọi là  đá trầm tích núi lửa (cũng còn gọi là đá vụn núi lửa, tuf) và có thể rơi gần  đó, tạo thành một phần của núi lửa hay bị mang đi xa nhờ gió.
  10. • Các tinh thể chứa trong đá lửa ban tinh mịn được gọi là pocfia. Kiến trúc  pocfia phát triển khi một số tinh thể phát triển lớn đến kích thước đáng kể  trước khi phần chủ yếu của macma đông đặc lại thành khối vật liệu đồng  nhất hạt mịn. • ̣ Phân loai:  Việc phân loại đá mácma có thể cung cấp cho con người thông tin quan  trọng về các điều kiện mà chúng hình thành. Hai yếu tố quan trọng được  sử dụng trong phân loại đá lửa là kích thước hạt (phụ thuộc rất nhiều vào  lịch sử quá trình làm nguội) và thành phần khoáng vật của đá. Fenspat,  thạch anh, olivin, pyroxen, amphibol và mica là các khoáng vật quan trọng  trong sự hình thành đá mácma và sự có mặt của chúng là cơ sở để phân loại  các loại đá này. Các khoáng vật khác có mặt trong đá không điển hình được  gọi là khoáng chất phụ.  Trong phân loại đơn giản hóa, các dạng đá mácma được chia trên sự hiện  diện của fenspat, sự có mặt của thạch anh và trong các loại đá không có  fenspat hay thạch anh thì theo sự có mặt của các khoáng vật chứa sắt hay  magiê.
  11. Kích thước tinh thể • Theo kích thước tinh thể, đá  mácma có thể phân loại thành  pecmatit (hạt rất lớn), hiển tinh  (chỉ có hạt lớn hay phanerit), ban  tinh (một số hạt lớn trên nền là  các hạt nhỏ hay pocfia), ẩn tinh  (chỉ có hạt nhỏ hay aphanit), thủy  tinh (không có hạt). 1. Đá có kiến trúc hiển tinh chứa các  khoáng vật với tinh thể nhìn thấy  bằng mắt thường và thường đặc  trưng cho đá xâm nhập (do quá  trình làm nguội càng chậm thì tinh  thể càng to). Trong một số ngoại  lệ, dạng đá này có thể chứa các  tinh thể cực lớn, trong trường hợp  này chúng được gọi là pecmatit.
  12. 2) Trong đá phun trào, khi quá trình  làm nguội là nhanh hơn, các tinh  thể khoáng vật riêng rẽ thông  thường không nhìn thấy được  bằng mắt thường và chúng được  gọi là kiến trúc ẩn tinh.  3) Kiến trúc ban tinh là trạng thái  trung gian giữa hai loại trên:  khối đá có kiến trúc ẩn tinh,  nhưng trên nền ẩn tinh này có  thể quan sát được một số tinh  thể.  4) Nếu macma nóng chảy bị làm  nguội quá nhanh không cho quá  trình kết tinh diễn ra thì sản  phẩm tạo ra là có kiến trúc thủy  tinh như thủy tinh núi lửa hay  opxidian đôi khi còn được gọi là  đá vỏ chai. 
  13. ̣ Hình dang tinh thể • Hình dạng tinh thể cũng là yếu tố quan trọng trong kiến trúc đá mácma.  Các tinh thể có thể là tự hình, bán tự hình và tha hình: • Tự hình (Euhedral), nếu hình dạng tinh thể được bảo toàn hay tinh thể  có các mặt kết tinh rõ ràng.  • Bán tự hình (Subeuhedral), nếu chỉ một phần được bảo toàn.  • Tha hình (Anhedral), nếu tinh thể không thể hiện rõ ràng hướng kết tinh  có thể nhận biết được. 
  14. Theo Cấu Taọ • Cấu tạo lỗ hổng là đá có các khoảng trống sinh ra bởi khí bị  chiếm giữ trong quá trình nguội đi.  • Cấu tạo dòng chảy được hình thành khi mácma chảy tràn  trên bề mặt và đông nguội với các tốc độ khác nhau.  • Tuf bao gồm các đá vụn có trước hoặc bom núi lửa bị đẩy ra  khi núi lửa phun trào gồm một số loại như: tufit, tufogen. 
  15. ̣ Thành phần khoáng vât­Hóa  • hoc̣ Các dạng đá mácma có thể phân chia nhỏ theo các thông số hóa học/ khoáng  vật tạo đá theo hai hướng chính: • Hóa học: ­ Tổng hàm lượng kiềm ­ silica (biểu đồ TAS) cho phân loại đá  mácma được sử dụng khi không có các dữ liệu về quá trình hình thành hay  thành phần khoáng vật:  – Các đá mácma axít chứa hàm lượng silica cao, lớn hơn 63% SiO2 (ví dụ  riôlit và đaxít)  – Các đá mácma trung tính chứa 52 ­ 63% SiO2 (ví dụ anđêsit)  – Các đá mácma mafic chứa ít silica (45 ­ 52%) và thông thường chứa  nhiều sắt ­ magiê (ví dụ đá bazan)  – Các đá mácma siêu mafic chứa ít hơn 45% silica. (ví dụ picrit và  kômatiit)  – Các đá mácma kiềm với 5 ­ 15% chất kiềm (K2O + Na2O) (ví dụ  phônôlit và trachyt)  • ghi chú: Thuật ngữ axít­bazơ được sử dụng rộng rãi hơn trong các tài liệu  địa chất cũ. Thay vào đó, người ta sử dụng các thuật ngữ felsic, mafic, siêu  mafic... 
  16. • Khoáng vật : Hàm lượng khoáng vật của Fe và Si hay mafic:  – Đá felsic, chủ yếu chứa thạch anh, fenspat kiềm và/hoặc khoáng vật  chứa fenspat: các khoáng vật của Fe và Si; các dạng đá này (ví dụ  granit) thông thường có máu sáng và có tỷ trọng thấp.  – Đá mafic, chủ yếu chứa các khoáng vật mafic: pyroxen, olivin và  plagiocla canxi; các loại đá này (ví dụ đá bazan) thông thường sẫm màu  và có tỷ trọng lớn hơn đá felsic.  – Đá siêu mafic, chứa trên 90% khoáng chất mafic (ví dụ dunit)  – Bảng dưới đây là sự phân chia đơn giản đá lửa theo cả  thành phần và phương thức diễn ra.  Thành phầnPhương thức diễn ra :              Thành phần Phương thức    Axít Trung gian    Bazơ  Siêu Bazơ diễn ra Xâm nhâp̣  Granit     Điôrit   Gabbrô Periđôtit  Phun trào  Riôlit   Anđêsit    Bazan
  17. ̣ ̣ Các khoáng vât tao đá magma chu ̉ yếu Thạch anh là SiO2 ở dạng kết  tinh, tinh thể hình lăng trụ 6  cạnh, ít khi trong suốt mà thường  có màu trắng và trắng sữa, độ  cứng 7, khối lượng riêng 2,65  g/cm3, cường độ cao khoảng  20.000 kg/cm2, chống mài mòn  tốt, ổn định đối với axit (trừ axit  fluohidric và fosforic). Ở nhiệt  độ thường, thạch anh không tác  dụng với vôi, nhưng ở trong môi  trường hơi nước bão hoà và  nhiệt độ 175 ­ 2000C có thể sinh  ra phản ứng silicat. 
  18.  Fenspat có hai loại:  • cát khai thẳng góc­octola  (K2O.Al2O3.6SiO2­ fenspat kali)  • cát xiên góc ­ plagiocla  (Na2O.Al2O3.6SiO2­ fenspat natri  và CaO.Al2O3.2SiO2­ fenspat  canxi).  • Tính chất cơ bản của fenspat: màu  biến đổi từ trắng, trắng xám, vàng  đến hồng và đỏ; khối lượng riêng:  2,55 ­ 2,76 g/cm³, độ cứng 6 ­ 6,5,  cường độ chịu nén 1200 ­ 1700  kg/cm². Khả năng chống phong  hoá của felspat kém, kém ổn định  đối với nước và đặc biệt là nước  có chứa CO2 tạo ra  Al2O3.2SiO2.2H2O là caolonit ­  thành phần chủ yếu của đất sét­  theo phản ứng:       K2O.Al2O3.6SiO2+CO2+2H2O­­>  K2CO3+4SiO2+Al2O3.2SiO2.2H2O
  19.  Mica là những alumôsilicat ngậm  nước rất phức tạp, có độ cứng 2­3,  khối lượng riêng 2,76 ­ 3,2 g/cm³. Phổ  biến nhất là hai loại biotit và  muscovit.  • Biotit có màu nâu đen hay còn gọi  là mica đen, thường chứa ôxít  magiê và ôxít sắt, công thức: (Mg,  Fe)3.Si3.AlO10.OHF)2.  • Muscovit thì trong suốt hay còn  gọi là mica trắng, có công thức:  K2O. Al2O3.6SiO2.2H2O.  • Ngoài hai loại trên còn gặp  vecmiculit được tạo thành do sự  oxy hoá và hydrat hoá biotit. Khi  nung ở 900­1000°C nước sẽ mất  đi, thể tích vecmiculit tăng 18 ­ 25  lần. 
  20.  Khoáng vật sẫm màu chủ yếu  gồm amphibol, pyroxen, olivin là  các khoáng vật có màu sẫm (từ  màu lục đến màu đen) cường độ  cao, dai và bền, khó gia công.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản