Báo cáo CEDAW lần 5&6 về tình hình thực hiện Công ước Liên hiệp quốc Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW)

Chia sẻ: Dsczx Dsczx | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:68

0
37
lượt xem
5
download

Báo cáo CEDAW lần 5&6 về tình hình thực hiện Công ước Liên hiệp quốc Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Báo cáo CEDAW lần 5&6 về tình hình thực hiện Công ước Liên hiệp quốc Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) nhằm cập nhật tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, con người Việt Nam, những đổi mới về hệ thống chính trị, hệ thống pháp luật, chính sách, tình hình thực hiện pháp luật, chính sách, những tồn tại và phương hướng khắc phục theo từng điều khoản cụ thể của Công ước trong 4 năm qua tại Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo CEDAW lần 5&6 về tình hình thực hiện Công ước Liên hiệp quốc Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW)

  1. Báo cáo CEDAW lần 5&6 Những vấn đề chung Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Báo cáo quốc gia lần thứ 5 và 6 về tình hình thực hiện Công ước Liên hiệp quốc Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) Hà nội - 2006
  2. Báo cáo CEDAW lần 5&6 Những vấn đề chung Lời mở đầu Trên cơ sở quy định tại Điều 18 của Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Công ước CEDAW) và các văn bản hướng dẫn của Uỷ ban CEDAW, Việt Nam đã hoàn thành các Báo cáo định kỳ (từ lần đầu đến lần thứ 4) và đã được Uỷ ban thông qua. Được sự đồng ý của Uỷ ban CEDAW, Việt Nam chuẩn bị bản Báo cáo ghép lần thứ 5 và thứ 6 về tình hình thực hiện Công ước tại Việt Nam giai đoạn 2000-2003. Đặc điểm của giai đoạn này là Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ đổi mới nền kinh tế, phải đương đầu với những thách thức to lớn do tác động của thiên tai, lũ lụt, hạn hán ở khắp các vùng trên cả nước, của các vấn đề về xã hội và môi trường cũng như của quá trình hội nhập kinh tế và cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế. Kinh tế khu vực vẫn chưa được phục hồi mạnh sau khủng hoảng tài chính tiền tệ, cộng thêm tác động của sự kiện ngày 11/9/2001 ở Mỹ và đặc biệt là đầu năm 2003, dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp (SARS) và chiến tranh Irắc đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của Việt Nam trong ba n ăm qua, làm h chế nhịp độ tăng trưởng kinh tế của đất ạn nước. • Tiếp theo Báo cáo ghép lần thứ 3 và 4, Báo cáo này sẽ tiếp tục cập nhật tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, con người Việt Nam, những đổi mới về hệ thống chính trị, hệ thống pháp luật, chính sách, tình hình thực hiện pháp luật, chính sách, những tồn tại và phương hướng khắc phục theo từng điều khoản cụ thể của Công ước trong 4 năm qua tại Việt Nam. Báo cáo c ũng thể hiện những thành tựu mà Nhà n ước và nhân dân Việt Nam đã nỗ lực phấn đấu trong thực hiện Cương lĩnh Bắc Kinh, thực hiện n hững cam kết của Hội nghị Bắc Kinh +5 trên cơ sở tiếp thu nghiêm túc các Khuyến nghị của Uỷ ban CEDAW khi Việt Nam trình bày báo cáo năm 2001. Báo cáo gồm các phần chính như sau: - Lời mở đầu. - Phần I: Những vấn đề chung. - Phần II: Tình hình thực hiện Công ước. - Kết luận. - Các phụ lục. • Để hoàn thành bản Báo cáo này, Việt Nam đã thành lập Ban soạn thảo gồm 22 thành viên là đại diện của các Bộ, ngành và một số tổ chức có liên quan do Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, kiêm Phó Chủ tịch Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam làm Trưởng ban. • Trong quá trình làm vi Ban soạn thảo đã thu thập thông tin, phân tích các số liệu ệc, thống kê và tổ chức lấy ý kiến các cơ quan của Chính phủ, các tổ chức chính trị -xã hội, đại diện của các tầng lớp phụ nữ, các học giả, những người làm công tác xã hội để bổ sung, hoàn thiện nội dung của Báo cáo. Với những quan điểm đã nêu trong các Báo cáo trước đây, lần này Nhà nước Việt Nam vẫn chủ trương tiếp tục bảo lưu Khoản 1, Điều 29 của Công ước. Việc bỏ điều khoản bảo lưu
  3. Báo cáo CEDAW lần 5&6 Những vấn đề chung này vào thời điểm thích hợp đang được tiếp tục xem xét. Nhà nước Việt Nam cũng đang tiến hành nghiên cứu việc ký Nghị định thư lựa chọn của Công ước.
  4. Báo cáo CEDAW lần 5&6 Những vấn đề chung Phần I Những vấn đề chung Giới thiệu về đất nước và con người:  Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nước nằm trong khu vực Đông Nam châu á, có diện tích trên 331 ngàn km 2. Việt Nam có 54 dân tộc khác nhau, trong đó dân tộc Kinh (Việt) là chủ yếu (chiếm 86,8% dân số). Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức. Hà Nội là thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.  Dân số Việt Nam tăng từ 76,597 triệu người năm 1999 lên 80,902 triệu người năm 2003, trong đó phụ nữ chiếm 50,8%. Năm 2003, mật độ dân số ở mức 245 người/km2 và dân số thành thị chiếm 25,7%. Năm 2002, tỷ lệ dân số d ưới 15 tuổi giảm còn 30% và trên 65 tu t ăng lên ổi 6,3%. Trong giai đoạn 2000-2002, tỷ lệ phát triển dân số giảm chậm (năm 2000 đạt 1,36%, năm 2001 đạt 1,35%, năm 2002 đạt 1,32%). Năm 2003, ỷ lệ phát triển dân số đã tăng lên m t ức 1,47%. Năm 2003, tỷ lệ tử vong của trẻ em d ưới 1 tuổi là 21%o và dưới 5 tuổi là 42%o, tỷ lệ chết mẹ là 0,85%o. Năm 2003, tỷ lệ hộ gia đình do nữ làm chủ hộ tăng và chiếm gần 27%. Năm 2002, lực lượng lao động trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động là 44,73 triệu người (chiếm trên 56,1% dân số) và lao động nữ chiếm 50,6%. Số lao động đang hoạt động trong các ngành kinh tế quốc dân tăng từ 36,7 triệu năm 2000 lên trên 38,7 triệu n ăm 2002, 41,2 năm 2003 và 50,9 năm 2004, trong đó nữ chiếm trên 50%. Năm 2002, tuổi thọ trung bình là 71, trong đó nữ là 73. Năm 2003, GDP bình quân đầu người là trên 485 USD. Năm 2003, tỷ lệ lạm phát là 3,0%. Năm 2003, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị là 5,78%, trong đó nữ chiếm 7,22% • Bốn năm qua, Vi t Nam vẫn tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản ệ Việt Nam đề xướng từ 1986. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2010 đã được công bố với mục tiêu tổng quát là “Đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ r đời sống vật chất, văn hoá, tinh th của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 ệt ần Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản, vị thế của Việt Nam trên thị trường quốc tế được nâng cao. Đưa GDP tăng ít nhất gấp đôi so với năm 2000, cải thiện đáng kể chỉ số phát triển con người (HDI), xóa đói, giảm nhanh hộ nghèo, tăng tuổi thọ và phổ cập giáo dục trung học cơ sở, giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống khoảng 20%, tăng tuổi thọ trung bình lên 71 tuổi. Chất lượng đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần được nâng lên rõ rệt trong môi trường an toàn, lành mạnh; môi trường tự nhiên được bảo vệ và cải thiện". Chiến lược đã chú trọng việc xây dựng và nâng cao n ăng lực của con
  5. Báo cáo CEDAW lần 5&6 Những vấn đề chung người cũng như phát huy hi u quả nguồn nhân lực vào công cuộc phát triển đất nước vì mục ệ tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Thực hiện Chiến lược cũng chính là tạo điều kiện thuận lợi để Chính phủ Việt Nam thực hiện có hiệu quả những cam kết của mình đối với Công ước CEDAW. • Mặc dù gặp nhiều khó khăn như đã đề cập ở Lời mở đầu, trong thời gian qua, Việt Nam đã đề ra các biện pháp phù hợp để ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội. Chính phủ cũng như các ngành, các c có sự đổi mới trong công tác chỉ đạo, điều hành. Luật pháp và ấp chính sách tiếp tục được đồng bộ hoá, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới đất nước. Trong giai đoạn 2000-2003, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt được mức khá cao so với những năm trước đây (6,8% năm 2000, 6,9% năm 2001, 7,08% năm 2002 và 7,26% năm 2003). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Các ngành đều có bước phát triển. Năm 2003, tỷ trọng nông- lâm- thuỷ sản trong GDP là 21,83% (năm 2000 là 24,5%), tỷ trọng công nghiệp và Xây dựng trong GDP là 39,5% (năm 2000 là 36,7%); ỷt trọng các ngành dịch vụ trong GDP là 38,22% (năm 2002 là 38,74%). Giá tr sản xuất công nghiệp n ăm ị 2003 là 302,990 tỷ đồng, tăng 16% so với n ăm 2002; kim ngạch xuất khẩu n ăm 2003 là 20,176 tỷ đồng; sản lượng lương thực có hạt năm 2003 đạt 37,4 triệu tấn, tăng 01 triệu tấn (3%) so với năm 2002 và đạt mức cao nhất từ trước tới nay. Cùng với những kết quả về kin h tế, Việt Nam cũng đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ về phát triển xã hội, nổi bật là chỉ số phát triển con người cao hơn chỉ số phát triển kinh tế. Theo Báo cáo về phát triển con người năm 2003 của Chương trình phát triển Liên hợp quốc, trong số 175 nước, Việt Nam có chỉ số phát triển con người (HDI) là 0,688 (xếp thứ 109), trong khi thu nhập bình quân đầu người xếp thứ 128. Chỉ số phát triển giới (GDI) của Việt Nam là 0,687 (xếp thứ 89/144 nước), thuộc nhóm có thành tựu tốt nhất khu vực Đông Nam á-Thái Bình Dương. Việt Nam hầu như không có chênh lệch giữa chỉ số phát triển con người và chỉ số phát triển giới. Bên cạnh đó, Việt Nam liên tục dẫn đầu các nước đang phát triển về thành tích xoá đói, giảm nghèo và đạt được những kết quả đáng khích l tr ong các l nh vực giải quyết việc ệ ĩ làm, giáo dục và đào tạo, dân số và kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Bình quân mỗi năm, Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm đã giúp 30 vạn hộ dân thoát khỏi đói nghèo và đưa tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2003 xuống còn 11,8% tổng số hộ dân cả n ước. Trong 4 năm qua, số lao động được giải quyết việc làm khoảng 4,3 triệu người, trong đó.một nửa là phụ nữ. Năm 2002, tỷ lệ dân số biết chữ đạt 94%, trong đó phụ nữ đạt 92%. Năm 2003, có 19 tỉnh thành đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở. Từ năm 2001-2003, công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, nhất là ch ăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em ngày càng được cải thiện. Tổng tỷ xuất sinh tiếp tục giảm từ 2,3 con năm 1999 xuống còn 2,13 con n ăm 2003. Năm 2002, trên 90% số xã, ph ường trong cả nước xây dựng trạm y tế, có quỹ thuốc thiết yếu phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh. Hàng năm, đầu tư của Nhà nước cho các lĩnh vực xã hội ngày càng tăng, chiếm trên 25% tổng chi ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, tình trạng đói nghèo và chênh l ch về mức sống giữa các cộng đồng dân cư ệ đang là một trong những trở ngại đối với việc thực hiện Công ước CEDAW. Những thách thức chính hiện nay là: Tỷ lệ hộ nghèo còn cao, tập trung ở nông thôn và những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó kh ăn, đặc biệt vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Phụ nữ nông dân ở vùng sâu, vùng xa, nht là nữ chủ hộ độc thân, phụ nữ cao tuổi là những nhóm người dễ bị tổn ấ thương nhất. Phụ nữ nghèo phải lao động nhiều thời gian hơn, thu nh ít h ơn, ít có quyền ập quyết định trong gia đình và cộng đồng, do đó họ cũng có ít cơ hội tiếp cận các nguồn lực và lợi ích do chính sách công mang lại.
  6. Báo cáo CEDAW lần 5&6 Những vấn đề chung Tóm lại, trong 4 năm qua, mặc dù phải trải qua nhiều thử thách gay gắt, Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục thực hiện sự nghiệp đổi mới đất nước và đã đạt được những thành tựu đáng kể về tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, chính trị ổn định, an ninh được giữ vững. Những thành tựu đã đạt được là những điều kiện quan trọng cho phụ nữ tiếp tục tham gia và hưởng lợi một cách bình đẳng trong quá trình phát triển đất nước. Cơ cấu chính trị chung Chế độ chính trị ở Việt Nam trong những năm qua tiếp tục ổn định (xem báo cáo trước). Hệ thống các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến các địa phương tiếp tục được hoàn thiện cả về cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Ngày 25/12/2001, Quc hội khoá X, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Ngh quyết số ố ị 51/2001/QH10 về v iệc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992. Hi n pháp đã ế được sửa đổi, bổ sung về chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước, về nền kinh tế thị trường, về hội nhập kinh tế quốc tế... Việc sửa đổi Hiến pháp lần này đã phát huy được sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, tiếp tục loại bỏ các nhân tố không còn phù hợp, mở đường cho công cuộc cải cách kinh tế, văn hoá, giáo d khoa học, công nghệ phát triển, trên c ơ sở phân định rõ ục, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân và vì dân. Điều 2 của Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi, bổ sung quy định Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trong đó, mọi công dân, không phân biệt giới tính, dân tộc, thành phần xã hội đều bình đẳng trước pháp luật; quyền phụ nữ không bị phân biệt đối xử dưới mọi hình thức tiếp tục được đề cao và được pháp luật bảo vệ. Với việc sửa đổi Hiến pháp lần này, vai trò của Quốc hội với tư cách cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân được nâng cao trong các lĩnh vực lập hiến, lập pháp và giám sát tối cao, góp phần đảm bảo tốt hơn các quyền cơ bản của con người, trong đó có các quyền của phụ nữ. Các chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, Thủ t ướng Chính phủ và Viện Kiểm sát nhân dân được điều chỉnh phù hợp hơn nhằm làm cho bộ máy vận hành hiệu quả, khắc phụ tình trạng quan liêu, tham nhũng, giảm bớt các thủ tục hành chính gây phiền hà cho nhân dân. Điều 9 của Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi, bổ sung quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội (trong đó có Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam), tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả. Phụ nữ có thể thông qua tổ chức của mình yêu cầu bảo vệ các quyền lợi hợp pháp và chính đáng khi bị vi phạm. Khuôn khổ pháp luật chung trong đó quyền con người được bảo vệ Khuôn khổ pháp luật, các c ơ quan có ch n ăng bảo vệ quyền con ng ười như đã nêu ức trong các Báo cáo trước đây vẫn tiếp tục được duy trì. Trong nhiệm kỳ khoá X (1997-2002), Quốc hội đã thông qua 35 luật, 01 Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992, 06 Nghị quyết về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua 44 pháp lệnh. Từ đầu nhiệm kỳ khoá XI (2002-2007) đến năm 2003, Quốc hội đã thông qua 20 luật và Uỷ ban Th ường vụ Quốc hội thông qua 16 pháp lệnh, trong đó có các luật, pháp lệnh liên quan đến quyền bình đẳng của phụ
  7. Báo cáo CEDAW lần 5&6 Những vấn đề chung nữ (xem Phụ lục 2). Luật Tổ chức Chính phủ đã được sửa đổi, làm cơ sở cho việc phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và cơ cấu tổ chức của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Bộ Luật Tố tụng Hình sự đã được Quốc hội thông qua với nhiều chế định nhằm đảm bảo tốt hơn các quyền con người, trong đó có quyền của phụ nữ. Nhìn chung, các văn bản pháp luật này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo đảm tốt hơn các quyền con ng ười nói chung và quyền bình đẳng của phụ nữ nói riêng. Trong nhiệm kỳ mới của Chính phủ (2002 -2007), đã có một số thay đổi về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ theo h ướng phân định rành mạch chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của từng Bộ, cơ quan ngang Bộ, tránh chồng chéo, trùng lắp, giảm đầu mối, tầng nấc trung gian, làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể và cá nhân, nhất là thẩm quyền của Bộ tr ưởng quản lý ngành, lĩnh vực trong phạm vi cả nước, đẩy mạnh phân công, phân cấp; nhiều cơ quan thuộc Chính phủ đã được sáp nhập lại. Hiện nay, Chính phủ có 20 Bộ, 06 cơ quan ngang Bộ và 14 cơ quan thuộc Chính phủ (trước đây có 17 Bộ, 06 cơ quan ngang Bộ và 25 cơ quan thuộc Chính phủ). Chính phủ đã và đang bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân; thi hành những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền và làm tròn nghĩa vụ của mình; thực hiện chính sách xã h chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo; tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc ội, Việt Nam và các thành viên của Mặt trận (trong đó có Hội Liên hiệp phụ nữ VN) hoạt động có hiệu quả. Chính vì vậy, đã tạo bước tiến mới về phát triển con người một cách toàn diện, trong đó có phụ nữ. Hệ thống các cơ quan Nhà nước thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật tiếp tục được củng cố và hoàn thiện. Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các Toà án, Viện Kiểm sát và các cơ quan bảo vệ pháp luật khác được tăng cường và xác định rõ ràng hơn, nhằm nâng cao khả năng tiếp cận công lý cho nhân dân, bảo đảm xét xử theo luật, công khai và phát huy tính hiệu quả trong việc bảo vệ quyền con người. Điều 137 của Hiến pháp đã được sửa đổi, bổ sung quy định Viện Kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác bảo vệ pháp luật cũng được tăng cường cả về số lượng và chất lượng. Đến nay, cán bộ, công chức và những người làm việc trong lĩnh vực bảo vệ pháp luật hầu hết đều có trình độ đại học. Số lượng cán bộ, công chức làm việc trong lĩnh vực này có trình độ trên đại học ngày càng gia tăng. Trình độ, năng lực của các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân của Toà án nhân dân các cấp, Kiểm sát viên của Viện Kiểm sát nhân dân các cấ p được nâng cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cũng như quyền bình đẳng của phụ nữ. Các Đoàn Luật sư, Phòng Công chứng Nhà nước, các cơ quan Giám định, Thi hành án, Trợ giúp pháp lý cho ng ười nghèo - là những cơ quan thực hiện chức n ăng hỗ trợ tư pháp, bảo vệ quyền lợi của công dân nói chung ở tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong 4 năm qua cũng được kiện toàn một bước. Thông tin tuyên truyền về pháp luật Việc giới thiệu, phổ biến những nội dung cơ bản về quyền con người, quyền của phụ nữ tiếp tục được đẩy mạnh trong 4 năm qua. Chính ph Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc ủ tuyên truyền, vận động nhằm thay đổi nhận thức của người dân về bình đẳng giới và quyền của phụ nữ. Thủ tướng Chính Phủ đã ban hành Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg phê duyệt Ch ương trình phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2003-2007, trong đó quy định : Phụ nữ là một trong
  8. Báo cáo CEDAW lần 5&6 Những vấn đề chung những đối tượng cụ thể cần được phổ biến, giáo dục pháp luật; một trong những nội dung giáo dục là tập trung vào các quy định liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của phụ nữ thuộc các lĩnh vực hôn nhân và gia đình, bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; quyền bình đẳng nam, nữ trong hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá, xã h và gia đình. Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân ội Tối cao đã ban hành chỉ thị trong toàn ngành về việc t ăng cường hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ, trong đó việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật có quán triệt đầy đủ, sâu sắc quan điểm bình đẳng giới. Bên cạnh hình thức tuyên truyền bằng tờ rơi, ấn phẩm được in ấn hàng năm, nhiều cuộc hội thảo, tập huấn về bình đẳng giới và quyền của phụ nữ đã được các cơ quan, tổ chức Việt Nam tiến hành trong thời gian qua. Trong thời gian qua, Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam đã phát hành bằng tiếng Việt và tiếng Anh 1 vạn bản Chiến l ược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010 và 7000 bản Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam đến năm 2005; 5000 tờ rơi có nội dung tìm hiểu về Công ước CEDAW; 1 vạn tờ rơi số liệu thống kê về giới ở Việt Nam. Các tờ rơi và ấn phẩm này đều được phát hành rộng rãi tới các địa phương trong toàn quốc. Đặc biệt, để tuyên truyền kết quả báo cáo ghép 3 và 4 về tình hình thực hiện công ước CEDAW, Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam đã tổ chức hội nghị công bố, phân phát hàng ngàn báo cáo cho đại biểu đến dự. Những nội dung về Công ước CEDAW và tình hình thực hiện Công ước này tiếp tục được giới thiệu trên các phương tiện thông tin đại chúng. Các khuyến nghị Việt Nam của Uỷ ban CEDAW tại khoá họp lần thứ 25 đã được Việt Nam dịch sang tiếng Việt và gửi tới các cơ quan chức năng xem xét để có các biện pháp khắc phục. Về hoạt động trợ giúp pháp lý: Trong thời gian qua, Nhà nước Việt Nam đã quan tâm đẩy mạnh hoạt động trợ giúp pháp lý cho người dân, nhất là cho những người nghèo, đối tượng chính sách và phụ nữ. Trong n ăm 2002, Bộ Tư pháp và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã ký chương trình phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý cho phụ nữ. Hiện nay, có 02 trung tâm ho động hỗ trợ pháp lý cho phụ nữ là Trung tâm hỗ trợ pháp lý cho phụ nữ ạt (thuộc Cục trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp) và Phòng tư vấn pháp luật về bình đẳng giới (thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam). Từ năm 2000 đến hết năm 2002, các tổ chức trợ giúp pháp lý đã tiến hành hỗ trợ pháp lý cho 23% đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số và cho 42,9% đối tượng là phụ nữ. Tuy nhiên, phạm vi hoạt động của các cơ sở trợ giúp pháp lý này mới chỉ tập trung nhiều ở khu vực thành thị nên chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân.
  9. Báo cáo CEDAW lần 5&6 Điều 2 Phần II Tình hình thực hiện các điều khoản của công ước Điều 1 Khái niệm “phân biệt đối xử với phụ nữ” ở Việt Nam, trong những năm vừa qua, khái niệm "phân biệt đối xử với phụ nữ" như đã nêu trong các Báo cáo trước không có gì thay đổi. Hơn nữa, việc nhận thức về vấn đề này ở cấp hoạch định chính sách, ban hành pháp luật cũng như trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, trong cộng đồng dân cư, gia đình và mỗi cá nhân ngày một sâu sắc, đầy đủ và toàn diện hơn. Có được nhận thức như vậy là nhờ Nhà nước Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn ý thức rằng, thực thi quyền bình đẳng nam nữ là một công việc vô cùng khó khăn, phức tạp, "vì trọng trai, khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm để lại và đã ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội"1. Việc xóa bỏ thói quen ngàn đời đó thực sự "là một cuộc cách mạng khá to và khó" vì không th dùng vũ lực mà tranh đấu, vì vũ lực của cuộc cách mạng này ể chính là sự tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn hoá, pháp luật của cả quốc gia và "phải cách mạng từng người, trong gia đình, đến toàn dân". Trên cơ sở Hiến pháp và luật, các quyền của phụ nữ tiếp tục được tôn trọng và bảo vệ như đã nêu trong các Báo cáo trước. Hơn nửa thế kỷ qua, cuộc cách mạn g vì mục tiêu "nam nữ bình quyền", xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ đã được Nhà nước và nhân dân Việt Nam kiên trì thực hiện. Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: "Đối với phụ nữ, thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành; chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt thiên chức người mẹ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc". Quan điểm cơ bản này đã và đang được Nhà nước Việt Nam thể chế hoá thành các chủ tr ương, chính sách cụ thể. Một lần nữa, Việt Nam khẳng định sự nhận thức đúng đắn và thái độ kiên quyết trong việc thực hiện các cam kết quốc tế của quốc gia thành viên CEDAW, nhằm bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ. Điều 2 áp dụng các biện pháp nhằm loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ 2.1. Tiếp tục cụ thể hoá nguyên tắc bình đẳng nam nữ Các biện pháp nhằm loại bỏ mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ, bao gồm biện pháp lập pháp, hành pháp và tư pháp, đã được nêu trong các Báo cáo trước đây, vẫn tiếp tục được quan tâm và thực hiện tại Việt Nam trong thời gian qua. Nguyên 1 Hồ Chủ Tịch với vấn đề phụ nữ- Nxb Phụ nữ 1960, trang 23.
  10. Báo cáo CEDAW lần 5-6 Điều 6 tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa nam và nữ tiếp tục được tôn trọng và khẳng định trong các văn bản pháp luật mới được ban hành trong 4 năm qua như: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 2001; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2002; Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002; Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003; Luật Đất đai (sửa đổi) năm 2003; Pháp ệnh xử lý vi phạm hành chính n ăm 2002; Pháp l lệnh phòng, chống tệ nạn mại dâm năm 2003; Pháp ệnh Dân số n ăm 2003; Ngh l ị định 02/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Bộ Luật Lao động và Luật Giáo dục về dạy nghề; Nghị định 01/2003/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ Bảo hiểm xã hội; Nghị định 19/2003/NĐ-CP của Chính phủ quy định trách nhiệm của cơ quan hành chính Nhà nước các cấp trong việc bảo đảm cho các cấp Hội phụ nữ tham gia quản lý Nhà nước. Nổi bật là việc sửa Luật Đất đai và Điều lệ Bảo hiểm xã hội đã giải quyết về cơ bản quyền tiếp cận của phụ nữ với đất đai (vợ và chồng cùng đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và quyền bình đẳng trong việc hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (lao động nữ đủ 55 tuổi và 25 năm đóng bảo hiểm xã hội được hưởng cùng tỷ lệ lương hưu như lao động nam đủ 60 tuổi và 30 năm đóng bảo hiểm xã hội). Trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan xét xử và thi hành pháp luật, những biện pháp ng ăn ngừa, xử lý nghiêm hành vi vi ph quyền bình đẳng của phụ nữ, phạm tội đối với phụ nữ, tiếp ạm tục được thực hiện. 2.2. Thực thi các biện pháp cụ thể nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ Về biện pháp hành chính, thực hiện Luật Khiếu nại, tố cáo, người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo mà không giải quyết hoặc cố tình giải quyết trái pháp luật thì sẽ bị xử lý nghiêm minh, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. Thông qua biện pháp này, phụ nữ có cơ hội thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo khi các quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm, đặc biệt khi sự vi phạm đó dựa trên cơ sở phân biệt đối xử về giới tính. Tuy nhiên, trong thời gian qua, số vụ án hành chính do phụ nữ khởi kiện ra Toà hành chính vì lý do phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính hầu như không có. Luật pháp cho phép mọi công dân, trong đó bao gồm cả phụ nữ có quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích của mình về các lĩnh vực dân sự, kinh tế, lao động. Các cơ quan chức n ăng như Toà án và các cơ quan tư pháp cũng phải áp dụng các biện pháp xử lý nghiêm khắc đối với những hành vi vi phạm. Có thể thấy các cơ quan thực thi pháp luật đã áp dụng những hình phạt nghiêm khắc và đúng tội đối với những kẻ phạm tội phân biệt đối xử, gây tổn hại lớn về sức khoẻ, nhân phẩm và danh dự của phụ nữ (xem thêm phần báo cáo thực hiện Điều 6 về công tác xét xử các vụ án về mạ i dâm, buôn bán ph nữ). Bộ luật Hình sự sửa đổi (có hiệu lực từ ngày ụ 01/7/2000) có nhi u quy định nhằm đảm bảo sức khoẻ và tính mạng cho bị cáo là ề phụ nữ. Nguyên tắc tiến hành tố tụng có lợi cho phụ nữ là một nguyên tắc nhân đạo và không bị coi là phân bi ệt đối xử với nam giới đã và đang được tổ chức thực thi nghiêm túc.
  11. Báo cáo CEDAW lần 5-6 Điều 6 Nghị định 32/2002/NĐ-CP quy định việc áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình đối với các dân tộc thiểu số đã giải quyết được tình trạng phân biệt đối xử với phụ nữ ở một số vùng sâu, vùng xa của Việt Nam do bị chi phối bởi các phong tục, tập quán. Nghị định nghiêm cấm chế độ hôn nhân đa thê, việc thách cưới, tục cướp vợ, phong tục nối dây (người vợ goá, chồng góa bị ép buộc kết hôn với người khác trong gia đình chồng cũ, vợ cũ). Nghị định đã quy định các biện pháp thực hiện nhằm xoá bỏ dần những phong tục, tập quán lạc hậu không có lợi cho những người phụ nữ ở các vùng này. 2.3 Các vấn đề tồn tại và hướng khắc phục Nhà nước và nhân dân Việt Nam lên án sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới và đang nỗ lực loại trừ sự phân biệt đối xử với phụ nữ bằng nhiều biện pháp. Tuy nhiên, trong đời sống xã hội, vẫn còn các hành vi đối xử bất công với phụ nữ, đặc biệt là ở các công ty, xí nghi p t ư nhân, liên doanh nước ngoài v.v.. Các cơ quan chức năng ệ của Nhà nước sẽ thực hiện các biện pháp triệt để hơn nữa nhằm bảo đảm cho phụ nữ quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử như pháp luật đã quy định. Các tổ chức công đoàn, nữ công và hội phụ nữ cơ sở chủ động, tích cực trong vai trò người giám sát việc thực thi pháp luật và bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của lao động nữ. Công tác tuyên truyền giáo dục sẽ tiếp tục được đẩy mạnh để mọi người dân, đặc biệt là phụ nữ có thể hiểu rõ và tự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
  12. Báo cáo CEDAW lần 5-6 Điều 6 Điều 3 bảo đảm sự phát triển và tiến bộ đầy đủ của phụ nữ 3.1. Các chủ trương và luật pháp, chính sách Từ năm 2000 đến nay, các quy định pháp luật, cũng như các biện pháp tích cực của Nhà nước Việt Nam nhằm bảo đảm sự phát triển và tiến bộ của phụ nữ trên tất cả các mặt như đã đề cập trong Báo cáo ghép 3 và 4 vẫn tiếp tục được duy trì và thực hiện bằng nhiều hình thức. Nhiều nghị quyết và văn bản quy phạm pháp luật (xem Phụ lục 2) quy định trực tiếp việc bảo đảm các quyền bình đẳng và lợi ích của phụ nữ trong các lĩnh vực dân sự - chính trị và kinh tế - văn hoá - xã hội, đặc biệt là các văn bản sau đây : - Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành TW Đảng về phát huy s mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công ức bằng, dân chủ, văn minh đã đề cập quan điểm về công tác phụ nữ và giới là “Tiếp tục nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội về công tác phụ nữ và vấn đề bình đẳng giới. Khẩn trương thể chế hoá các quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác phụ nữ và công tác cán bộ nữ trong tình hình mới; lồng ghép giới trong quá trình thực hiện các ch ương trình, kế hoạch chung. Coi trọng các chính sách xã hội, các chính sách về giới để giảm nhẹ lao động nặng nhọc cho phụ nữ. Nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp cho phụ nữ. Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em. Tạo điều kiện để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý các cấp”. - Quyết định số 71/2001/QĐ-TTg ngày 04/5/2001 c Thủ t ướng Chính phủ ủa về các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2001-2005 (Xóa đói giảm nghèo và Việc làm, Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, Dân số và KHHGĐ, Phòng, chống một số bệnh xã hội và các bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS, Văn hóa, Giáo dục và Đào tạo) nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trong đó có phụ nữ. - Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010 (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 19/2002/QĐ-TTg ngày 21/1/2002), trong đó quy định mục tiêu tổng quát là "Nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ. Tạo mọi điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội". Chiến lược đã đề ra 5 mục tiêu cụ thể nhằm xoá bỏ mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ, thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong các lĩnh vực lao động, việc làm, giáo dục; chăm sóc sức khoẻ, nâng cao chất l ượng và hiệu quả hoạt động của phụ nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội và bộ máy lãnh đạo các cấp, các ngành, tăng cường năng lực hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ. Căn cứ Quyết định này, ngày 18/3/2002, Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam đã thông qua K hoạch hành động vì sự tiến bộ của Phụ nữ ế Việt Nam đến năm 2005 - giai đoạn I của Chiến lược 10 năm. Kế hoạch này là bộ
  13. Báo cáo CEDAW lần 5-6 Điều 6 phận cấu thành của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong 5 năm đầu thế kỷ 2. - Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo (CPRGS) (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 5/2002) đã xác định mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội nhằm nâng cao điều kiện và chất lượng cuộc sống của mọi tầng lớp dân cư, khuyến khích phát triển con người và bình đẳng giới. - Nghị định số 19/2003/NĐ-CP ngày 07/3/2003 của Chính phủ quy định trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, c ơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho các cấp Hội phụ nữ tham gia vào các hoạt động quản lý Nhà nước theo quy định của pháp luật về các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của phụ nữ, trẻ em. Các chủ trương, chính sách nêu trên đã và đang được phổ biến rộng rãi, quán triệt sâu sắc trong các ngành, các cấp, được từng bước được cụ thể hoá và triển khai thực hiện bằng các chương trình hành động cụ thể. Đã có 40/40 Bộ, ngành ở TW và 64/64 tỉnh, thành phố trực thuộc TW phê duyệt và triển khai thực hiện Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2005 của ngành hoặc địa phương mình. Nhiều cấp chính quyền cơ sở và các đơn v trực thuộc các Bộ, ngành, các nhà ị trường, các doanh nghiệp lớn cũng đã có Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ của đơn vị mình. Điều này thể hiện nỗ lực rất lớn của Nhà nước và nhân dân Việt Nam phấn đấu ínhự bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ. 3.2 . Phát triển các tổ chức và hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ Trong 4 năm qua, Nhà nước đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các tổ chức hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam phát huy vai trò trên nhiều lĩnh vực. Bộ máy quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam được củng cố và phát triển xuống cơ sở, xác định rõ trách nhiệm giới của các ngành, các cấp, các đoàn thể, đặc biệt có sự tham gia tích cực của nhiều nhà lãnh đạo là nam giới. Ngày 11/6/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 92/2001/QĐ -TTg nhằm kiện toàn Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, quy định rõ 4 nhiệm vụ gồm: Tham mưu cho Thủ t ướng chính phủ trong việc xây dựng luật pháp, chính sách liên quan đến phụ nữ; phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi, đôn đốc và kiểm tra tình hình thực hiện luật pháp, chính sách đối với phụ nữ; phối hợp với các cơ quan liên quan tuyên truyn, phổ biến và vận động thực hiện luật pháp, chính sách liên ề quan đến phụ nữ và Công ước CEDAW, chủ trì soạn thảo báo cáo quốc gia về thực hiện Công ước CEDAW; đầu mối trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ. Trên cơ sở đó, Chủ tịch Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đã thành lập Văn phòng Uỷ ban qu ốc gia với nhiệm vụ tham mưu cho Uỷ ban quốc gia triển khai các mặt hoạt động. Hệ thống các Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ tiếp tục được củng cố ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các đoàn thể nhân dân, 64/64 tỉnh, thành phố trực thuộc TW. Hiện nay, hệ thống này đang được phát triển tại các sở, ngành, quận/huyện và xã/phường. Các nguồn lực và
  14. Báo cáo CEDAW lần 5-6 Điều 6 điều kiện hoạt động cho Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam cũng như các Ban vì s tiến bộ của phụ nữ ở c ơ sở đã được cải thiện thêm một bước so ự với Báo cáo trước đây. Mạng lưới quốc gia về giới và phát triển đã được hình thành trên một số lĩnh vực, điển hình như mạng lưới quốc gia về giới và phát triển năng lượng và mạng lưới cán bộ tham mưu lồng ghép giới ra đời năm 2003. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiếp tục được Nhà nước quan tâm và tạo điều kiện về mọi mặt để thực hiện có hiệu quả các phong trào và chương trình hoạt động trọng tâm vì sự phát triển và tiến bộ của phụ nữ. Đại hội phụ nữ các cấp và Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ IX đã kiện toàn bộ máy các cấp Hội phụ nữ và bổ sung chương trình hoạt động trọng tâm nhiệm kỳ 2002 - 2007 là hoạt động hữu nghị và hợp tác với phụ nữ các nước vì Bình đẳng, Phát triển và Hoà bình. Đại hội đã phát động rộng rãi trong các tầng lớp phụ nữ phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, đồng thời làm rõ chương trình ho ạt động trọng tâm là tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách về bình đẳng nam nữ. Hoạt động nổi bật của Hội trong nhiều năm qua là các ụng, tiết kiệm dành cho phụ nữ nghèo - mô hình hi u quả được chương trình tín d ệ nhiều tổ chức trong và ngoài nước công nhận. Bên cạnh đó, Hội có nhiều hình thức biểu dương tập thể, cá nhân phụ nữ tiêu biểu, các loại hình giáo dục, nâng cao năng lực mọi mặt cho phụ nữ rất có thiết thực và hiệu quả. Nhà nước đã quyết định đầu tư ngân sách để xây dựng Trung tâm phụ nữ và phát triển trực thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Hệ thống Ban nữ công thuộc Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam cũng đã và được tiếp tục củng cố và phát triển trong các cơ quan hành chính, ự nghiệp, các s doanh nghiệp... để tăng cường năng lực bảo vệ quyền bình đẳng và lợi ích của lao động nữ. Sự ra đời của Hội đồng doanh nhân nữ (VWEC) thuộc Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam là m sự kiện quan trọng nhằm hỗ trợ và bảo vệ quyền lợi ột của các doanh nhân nữ trong các quan hệ trong nước và quốc tế cũng như xúc tiến các hoạt động thương mại, đầu tư chuyển giao công nghệ ở Việt Nam và nước ngoài. Quỹ hỗ trợ phụ nữ tiếp tục được thành lập ở một số Bộ, ngành, đơn vị nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ phát huy năng lực và trí tuệ trên nhiều lĩnh vực, điển hình là Quỹ vì sự tiến bộ phụ nữ của Thành phố Hồ Chí Minh, quỹ hỗ trợ tài năng nữ của Trung tâm khoaọc xã hội và nhân v ăn qu gia . Bên ạnh giải th ưởng h ốc c Kovalepxkaia, năm 2002, Th t ướng Chính phủ đã đồng ý Hội Liên hiệp Phụ nữ ủ Việt Nam thành lập Quỹ giải thưởng phụ nữ Việt Nam để khen thưởng các tập thể, cá nhân nữ tiêu biểu có nhiều thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực phát triển. Năm tập thể và cá nhân đầu tiên đã được trao Giải thưởng phụ nữ Việt Nam năm 2003. 3.3 . Lồng ghép giới vào công tác hoạch định và thực thi chính sách Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam đến năm 2010 đã xác định việc lồng ghép giới trong chính sách công là m trong các giải pháp thực hiện ột chủ yếu. Từ năm 2000 đến nay, phương pháp tiếp cận lồng ghép giới được nghiên cứu và từng bước áp dụng trong các khâu của quá trình xây dựng chính sách. Lần
  15. Báo cáo CEDAW lần 5-6 Điều 6 đầu tiên, Tài liệu “Hướng dẫn lồng ghép giới trong hoạch định và thực thi chính sách” được Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam biên soạn và xuất bản. Cùng với giáo trình về lồng ghép giới, 150 giảng viên đã được đào tạo để phổ biến rộng rãi kiến thức và kỹ năng lồng ghép giới. Trong 2 năm 2002-2003, Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam đã bồi dưỡng về lồng ghép giới cho 2855 cán bộ lãnh đạo các cơ quan trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Trách nhi m giới của các ngành, các cấp nhờ đó đã được nâng cao. Vấn đề ệ giới đã được đề cập ngày càng sâu đậm trong các văn bản chính sách của Chính phủ và các ngành, các cấp. Đặc biệt, năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo. Năm 2003, đi tiên phong trong việc áp dụng lồng ghép giới, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng và triển khai “Chi n l ược lồng ghép giới trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông ế thôn”. Trong 4 năm qua, quốc tế đã tài trợ cho Việt Nam nhiều chương trình, dự án hỗ trợ cho phụ nữ và về lĩnh vực bình đẳng giới, nổi bật là dự án tín dụng Việt - Bỉ, dự án phát triển doanh nghiệp nữ do Chính phủ Hà Lan tài trợ, dự án giới trong chính sách công do UNDP và Chính ph Hà Lan tài trợ. Có thể nói rằng, sự ủng hộ ủ của quốc tế về tinh thần, vật chất và kỹ thuật đã có tác động thiết thực, góp phần giúp Việt Nam nâng cao chất lượng cuộc sống cho phụ nữ và thu hẹp khoảng cách về giới. 3.4. Công tác nghiên cứu về phụ nữ và bình đẳng giới Các Trung tâm nghiên c và đào tạo về giới tiếp tục hoạt động, đã và đang ứu tập trung nghiên cứu về vai trò của nam và nữ trong sản xuất; vai trò và địa vị của phụ nữ trong gia đình; sự biến đổi vai trò giới dưới tác động của sự phát triển kinh tế- xã hội; quá trình đô thị hoá và chuyển dịch lao động từ khu vực nông thôn đến đô thị; bạo lực trong gia đình; buôn bán phụ nữ; c ơ sở lý luận và thực tiễn của công tác trợ giúp pháp lý cho phụ nữ... Một số kết quả nghiên cứu nói trên đã được sử dụng trong quá trình xây dựng và ban hành các v ăn bản quy phạm pháp luật liên quan đến phụ nữ và bình đẳng giới. Một số trung tâm nghiên cứu mới được thành lập hoặc được bổ sung chức năng, nhiệm vụ, không chỉ nghiên cứu những vấn đề về phụ nữ, mà còn chú trọng nghiên cứu về giới, điển hình là Trung tâm nghiên cứu khoa học lao động nữ thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã được đổi tên thành Trung tâm nghiên cứu lao động nữ và giới. Trung tâm nghiên cứu Giới và phát triển thuộc Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thuộc Đại học quốc gia Hà Nội đã được thành lập với chức năng nghiên cứu và giảng dạy về những vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống lý thuyết khoa học về giới phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam và chiến lược phát triển đất nước. Đầu năm 2003, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã thành lập Hội đồng nghiên cứu khoa học. Hàng năm, Hội đồng này được Nhà nước đầu tư kinh phí để tổ chức các đề tài nghiên cứu về giới, phụ nữ và công tác Hội. 3.5. Khó khăn, hạn chế và hướng khắc phục
  16. Báo cáo CEDAW lần 5-6 Điều 6 Công tác lồng ghép giới mới được triển khai, đa phần áp dụng ở cấp độ dự án, thiếu các chế định cụ thể, kinh nghiệm, nguồn lực. Trong thời gian tới, để thực hiện Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam đến năm 2010, các cơ quan của Chính phủ sẽ thực hiện lồng ghép nội dung bình đẳng giới vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng n ăm, 5 năm của cả n ước và của từng Bộ ngành, địa phương. Trong thời gian qua, t ư tưởng trọng nam hơn nữ vẫn còn trong suy nghĩ và hành động của không ít người; một số Bộ, ngành và địa phương chưa thật sự coi trọng và tạo điều kiện cho hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ; bộ máy vì sự tiến bộ của phụ nữ còn hạn chế về hiệu lực và hoạt động chưa hiệu quả; nhiều phụ nữ còn có tâm lý tự ti, an phận. Để từng bước khắc phục tồn tại nói trên, năm 2004, Thủ t ướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị về tăng cường hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, c ơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tại Chỉ thị này, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ, c ơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần phải: Quán triệt và thực hiện đầy đủ quan điểm bình đẳng giới trong công tác; xây d ựng và triển khai thực hiện có hiệu quả kế hoạch hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ trong phạm vi cơ quan, địa phương; thường xuyên theo dõi, đôn đốc và kiểm tra tình hình thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với phụ nữ tại cơ quan, địa phương; tuyên truyền và phổ biến kịp thời mọi chủ trương của Đảng, luật pháp của Nhà nước đối với phụ nữ và Công ước của Liên hợp quốc về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) tại cơ quan, địa phương; thành lập Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ ở các Bộ, c ơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố t rực thuộc Trung ương giúp B tr ưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang B Thủ tr ưởng cơ quan ộ ộ, thuộc Chính phủ và Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện những nhiệm vụ quy định nói trên; kinh phí hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, c ơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do ngân sách nhà nước cấp, được bố trí trong dự toán ngân sách nhà n ước hàng năm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, c ơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các ỉnh, thành phố trực thuộc Trung t ương theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước. Hiện nay, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đang tích cực triển khai thực hiện Chỉ thị này. Hiện nay, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đang xây d ựng Đề án thành lập Học viện Phụ nữ (trên cơ sở Trường Cán bộ Phụ nữ) với mục đích nâng cao trình độ mọi mặt cho phụ nữ và đào tạo đội ngũ cán bộ nữ. Dự kiến, đầu năm 2005, Hội Liên hiệp PHụ nữ Việt Nam sẽ hoàn tất Đề án để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét và quyết định.
  17. Báo cáo CEDAW lần 5-6 Điều 6 Nhằm phát triển bền vững đất nước trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường, vào tháng 8 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định về Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam - Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam. Định hướng là một chiến lược khung, bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân có liên quan triển khai thực hiện, đồng thời thể hiện sự cam kết của Việt Nam với quốc tế. Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Định hướng đã đưa ra mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế, về x ã hội và về môi tr ường. Trong mục tiêu phát triển bền vững về xã hội, có mục tiêu đạt được kết quả cao trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Định hướng này cũng đã xác định phụ nữ là 1 trong 7 nhóm xã hội chính nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững ở Việt Nam. Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu đang tổ chức và h ướng dẫn thực hiện Định hướng chiến lược này. Căn cứ vào Định hướng chiến lược này, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang B Thủ tr ưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban ộ, nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đang khẩn trương xây dựng và thực hiện Định hướng chiến lược phát triển bền vững của Bộ, ngành và địa phương mình.
  18. Báo cáo CEDAW lần 5-6 Điều 6 Điều 4 các biện pháp đặc biệt nhằm thúc đẩy bình đẳng nam nữ Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả các quy định của pháp luật về bình đẳng giữa nam và nữ, Nhà nước Việt Nam tiếp tục thực hiện một số biện pháp đặc biệt tạm thời sau đây. 4.1. Bổ sung một số biện pháp đặc biệt nhằm thúc đẩy bình đẳng nam nữ Chính phủ đã ban hành một số v ăn bản quy phạm pháp luật nh ư : Nghị định số 61/2001/NĐ-CP ngày 7/9/2001 về việc quy định tuổi nghỉ hưu của người lao động khai thác than trong hầm lò; Nghị định 98/2002/NĐ-CP ngày 27/12/2002 về tạm giữ, tạm giam; Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2002 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương; Nghị định số 12/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/02/2003 về sinh con theo phương pháp khoa học. Bộ Lao động- Thương binh và Xã h đã ban hành Thông tư số 07/2003/TT- ội BLĐTBXH ngày 12/3/2003 hướng dẫn thi hành một số điều bổ sung của Điều lệ Bảo hiểm xã hội. Các văn bản nói trên đã quy định: - Lao động nữ đủ 55 tuổi và đủ 25 năm đóng bảo hiểm xã hội, lao động nam đủ 60 tuổi và đủ 30 năm đóng bảo hiểm xã hội được hưởng cùng tỷ lệ lương hưu hàng tháng tối đa do Chính phủ quy định. - Tuổi nghỉ hưu của cả nam và nữ làm công việc khai thác than trong hầm lò được quy định là 50 tuổi nếu có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội, trong đó có ít nhất 15 năm làm công việc này. - Mức lương hưu đối với lao động nữ có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 15 năm được tính bằng 45% mức bình quân của tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội như lao động nam giới và từ năm thứ 16 trở đi, cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 3%, còn lao động nam mỗi năm chỉ được tính 2% để mức lương hưu hàng tháng ối đa của cả lao động nam và nữ đều bằng 75% mức t bình quân của tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội. - Mức trợ cấp một lần khi nghỉ hưu của lao động nữ có thời gian đóng bảo hiểm xã hội trên 25 năm, thì từ n ăm thứ 26 trở đi được tính như năm thứ 31 của lao động nam, cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được nhận một nửa (1/2) tháng mức bình quân của tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, tối đa không quá 5 tháng. - Lao động nữ có thai, sinh con (không phân bi số lần sinh) khi nghỉ sinh ệt con được hưởng trợ cấp thai sản. - Phụ nữ độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.
  19. Báo cáo CEDAW lần 5-6 Điều 6 - Phụ nữ cô đơn không nơi nương tựa, không có nguồn thu nhập, từ đủ 55 tuổi trở lên, nếu đang được hưởng trợ cấp cứu trợ xã hội thì sẽ tiếp tục được hưởng khoản trợ cấp này. - Trước khi ra quyết định và tổ chức thi hành án tử hình đối với người bị kết án là phụ nữ, phải tổ chức kiểm tra các điều kiện không áp dụng hình phạt tử hình được quy định tại Bộ luật Hình sự để xem xét chuyển từ hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân cho người bị kết án. - Phụ nữ trong thời gian bị tạm giam vi phạm nội quy mà bị phạt giam riêng ở buồng kỷ luật thì không bị cùm chân như các đối tượng khác Để hỗ trợ và tạo điều kiện cho phụ nữ được học tập nâng cao trình độ, nhiều cơ quan trung ương và địa phương đã thực hiện chế độ trợ cấp bổ sung cho phụ nữ cao hơn nam giới trong thời gian tham gia đào tạo. Trên thực tế, chính sách này đã phát huy tác d thiết thực, góp phần động viên, khuyến khích phụ nữ vượt khó ụng khăn để nâng cao trình độ về mọi mặt. Biện pháp xác định tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo các cấp, tỷ lệ tuyển học viên nữ trong các chương trình đào tạo – như đã nêu trong Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam đến năm 2010 và Kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam đến năm 2005 đã và đang được triển khai rộng rãi. Đặc biệt, được sự quan tâm của chính quyền và đoàn thể các cấp, nhiều biện pháp động viên, khuyến khích khen thưởng phụ nữ bằng nhiều hình thức khác nhau đã được áp dụng. 4.2. Một số biện pháp đặc biệt nhằm bảo vệ người mẹ. Nhà nước đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật như sau : Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Hình sự (năm 2000); Ngh định số ị 81/2000/NĐ-CP ngày 29/12/2000 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Nghĩa vụ lao động công ích; Nghị định số 02/2001/NĐ-CP ngày 09/01/2001 quy định chi tiết thi hành Bộ Luật Lao động và Luật Giáo dục về dạy nghề; Nghị định số 19/2001/NĐ-CP ngày 11/5/2001 v xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ề toàn và kiểm soát bức xạ; Thông t ư liên tịch của Ban tổ chức - Cán bộ Chính phủ - Bộ Tài chính số 73/2000/TTLT-BTCCBCP-BTC ngày 28/12/2000 hướng dẫn thực hiện chính sách tinh giản biên chế trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp. Các văn bản nói trên đã quy định: - Bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang trong thời kỳ nuôi con d ưới 36 tháng tuổi có nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ trường hợp đặc biệt. - Phụ nữ có thai, phụ nữ trong thời gian nghỉ do sẩy thai, do thai chết lưu, do con chết sau khi sinh, hoặc đang nuôi con nh d ưới 36 tháng tuổi được tạm miễn ỏ thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hàng năm. Phụ nữ đang mang thai ho đang ặc nuôi con nh d ưới 12 tháng tuổi là đối tượng chưa giải quyết tinh giản biên chế. ỏ Không được xử lý kỷ luật lao động đối với lao động nữ có thai, nghỉ thai sản, nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi.
  20. Báo cáo CEDAW lần 5-6 Điều 6 - Người học nghề là nữ, trong quá trình th hiện hợp đồng học nghề mà có ực thai, nếu có giấy chứng nhận của y tế cấp huyện trở lên về việc thực hiện hợp đồng học nghề sẽ ảnh hưởng xấu đến thai nhi, có quyền chấm dứt hợp đồng học nghề không phải bồi thường phí dạy nghề, sau thời gian nghỉ thai sản, nếu có nguyện vọng và đủ điều kiện, thì được tiếp tục theo học. Các doanh nghiệp, các tổ chức đã bố trí phụ nữ có thai hoặc đang trong thời gian cho con bú làm các công việc có ảnh hưởng của bức xạ phải bố trí công việc khác phù hợp cho họ. - Lao động nữ có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của thầy thuốc được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn.Trong thời gian có thai, nghỉ thai sản, nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ được tạm hoãn việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, kéo dài thời hiệu xem xét xử lý kỷ luật lao động, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động. Trong thời gian nghỉ thai sản theo quy định, lao động nữ đã đóng bảo hiểm xã hội được trợ cấp bảo hiểm xã hội bằng 100% tiền lương, được trợ cấp thêm một tháng lương và các chế độ khác theo quy định của Bộ luật Lao động. Ngoài ra các văn bản nói trên, còn nhiều văn bản của các ngành quy định về chế độ bảo vệ người mẹ như : Chương trình Làm mẹ an toàn, chế độ tiêm phòng uốn ván và uống viên sắt đối với phụ nữ có thai, quy định các biện pháp bảo vệ sản phụ đến kỳ sinh nở trong hoàn cảnh thiên tai, lũ lụt... 4.3. Tình hình thực hiện và phương hướng trong thời gian tới Hiện nay, các cơ quan có liên quan đã và đang tổ chức thực hiện nghiêm các quy định như đã nêu ở các phần trên. Vì vậy, một số tồn tại nh ư đã nêu trong Báo cáo trước đã và đang được khắc phục. Năm 2002, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã tiến hành điều tra tình hình thực hiện chế độ, chính sách đối với lao động nữ ở nông thôn. Kết quả điều tra cho thấy: mặc dù có quy định miễn lao động công ích cho phụ nữ đang nuôi con nh ỏ, nhưng trên thực tế nhiều người lại chưa sử dụng đầy đủ quyền này. Lý do : lao động công ích phân theo h gia đình, vì trách nhi m với gia đình nên người phụ nữ đang ộ ệ nuôi con nhỏ vẫn phải tham gia lao động công ích; mặt khác, ở một số địa phương, sau thời gian thu hoạch, nam giới th ường rời địa phương đi làm thuê, nên ch còn ỉ phụ nữ tham gia lao động công ích. Một số chính sách như lao động nữ nghỉ hưu ở tuổi 55, quy định danh mục các ngành ngh cấm và hạn chế đối với lao động nữ đã gây thiệt thòi cho một bộ ề phận lao động nữ. Để khắc phục các tồn tại nên trên, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các cơ quan chức n ăng đang nghiên c để đề xuất với Nhà nước về các biện pháp khắc ứu phục trong thời gian tới. Riêng về tuổi nghỉ hưu của lao động nữ, Chính phủ đã giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã h nghiên cứu và đề xuất cụ thể để Chính phủ ội trình Quốc hội. Hiện nay, Quốc hội đã giao Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây ựng và trình Quốc hội dự án Luật Bình d đẳng giới.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản