
CHIẾN THẮNG TÂY SƠN TRƯỚC VIỆN BINH XIÊM LA
Sau trận Đồng Tuyên, Nguyễn Ánh lại thêm một lần khốn đốn. Trong lúc quân lính chết đuối thì nhờ biết
bơi, ông đã thoát nạn. Có những may mắn đưa đến cho ông Chúa này để sử quan nhà Nguyễn lại có
dịp tán tụng phước mạng đế vương. Qua Rạch Chanh, ông nhờ đến một con trâu nằm trên bờ; giữa
dòng nước triều chiều chảy xiết chìm trâu thì may sao một con cá sấu (?) lại đưa giúp ông qua bờ bên
kia[164]. Tây Sơn đã có mặt tại Hậu Giang chận mất con đường chạy trốn quen thuộc, ông phải chạy
xuống trú ở Mỹ Tho, rồi từ đó đưa gia quyến đi Phú Quốc.
Bị săn đuổi, binh tướng trở lòng. Đó là đám người từ lâu vẫn khó đồng hoá: quân Hoà Nghĩa đạo.
Nguyên để có người điều khiển đám tân binh, Ánh sai Tôn Thất Cốc trông coi rồi sai tướng Hoà Nghĩa
Trần Đình về cửa Cần Giờ để do thám. Công việc thật khó khăn mà tướng sai thì không đủ uy tín, Đình
không thi hành. Ánh sai Cốc giết đi. Thuộc tướng của Đình là Trần Hưng và Lâm Húc làm phản chiếm
Hà Tiên. Rủi ro cho Nguyễn Kim Phẩm và công chúa Ngọc Chú, người về Hà Tiên thu binh, người mua
gạo mắm, đều bị bọn này giết chết.
Tuy nhiên việc quân đội Gia Định có mặt ở các đảo vịnh Xiêm gây nên khó khăn cho các đám cướp
biển ở vùng này. Vinh-ly-ma, một tướng Xiêm từ sau loạn Phi-nhã Oan-sản (1781) tụ tập một đám người
Mã Lai chiếm cứ đảo Cổ Long trong vịnh Kompong Som, thấy lẽ khôn ngoan là đem thuộc binh ra thần
phục Nguyễn Ánh. Đội quân lưu vong lái thêm 100 chiến thuyền và 200 người nữa.
Thêm người tất thêm miệng ăn cho đám quân thiếu thốn sẵn. Nguyễn Ánh phải dùng binh Vinh-ly-ma
quen cướp giựt hai ba lần vào Hà Tiên và quanh đó để kiếm khí giới, lương thực. Tin tức nơi trú ẩn lộ ra
ngoài.
Tháng 6 âm lịch, lúc Nguyễn Ánh đang ở mũi Đá Chồng thì Tổng suất Tây Sơn là Phan Tấn Thuận kéo
binh tới vừa thuỷ vừa bộ. Cai cơ Lê Phước Điển phải đóng vai trò Lê Lai thuở trước, Ánh mới chạy thoát
về đảo Cổ Long.[165] Tôn Thất Điển, Tôn Thất Cốc, Hoảng, Vinh-ly-ma đều bị bắt và bị giết.[166] Tây
Sơn vẫn không tha. Một tháng sau, phò mã Trương Văn Đa lại đem quân đến Cổ Long vây ba vòng
trùng trùng, điệp điệp, quyết không để Ánh thoát lần nữa. Rủi ro cho Tây Sơn, một trận bão đánh đắm
nhiều thuyền để Ánh nhân đó thoát ra, chạy đi Cổ Cốt.
Tây Sơn rút đi, Ánh lại mò về Phú Quốc. Tình cảnh đám quân bại thật thảm thương: thuyền Ánh gãy nát
cột buồm, quân lính hết lương phải bứt cỏ mà ăn rồi sống nhờ một thuyền gạo của một người đàn bà Hà
Tiên đem giúp. Để vợ con lại hải đảo, Ánh táo bạo đem một chiếc thuyền vào cửa Ma Ly[167] do thám
tình hình. Độ 20 thuyền Tây Sơn thấy được đến vây, ông giương buồm chạy thẳng ra biển, lênh đênh
suốt 7 ngày đêm. Gặp được dòng nước ngọt, thoát chết khát, ông quay trở về Phú Quốc.
Không ở yên được một chỗ, Ánh phải sai Cai cơ Nguyễn Văn Chính về Long Xuyên chiêu binh, tập mã.
Thuyền đến cửa sông Ông Đốc[168] thì bắt được tướng Tây Sơn là Quản Nguyệt, Ánh sai chém đầu thị
chúng. Oai vũ chưa thấy đâu mà chỉ làm động đến Tây Sơn. May mắn, đạo quân tuần đêm bắt được
viên Phó chiến Dạng trong đội phục binh ở cửa sông do Lưu thủ Long Xuyên của Tây Sơn là Nguyễn
Hoá điều động. Rõ được cơ mưu, Ánh giục thuyền chạy mau cho thoát.

Lúc bấy giờ Lữ, Huệ đã về Quy Nhơn, để lại Trương Văn Đa với Chưởng tiền Bảo. Nguyễn Ánh trôi dạt
Hòn Chông, rồi Thổ Châu, Cổ Long, Cổ Cốt... sống cuộc đời vật vờ phẫn chí của viên chúa tể trong cơn
bại vong. Ông phải thay phiên chèo chống, chia sớt cùng khổ với bọn tòng thần cùng vài trăm binh trên
độ mươi lăm chiếc thuyền. Tướng sĩ có khi vài ngày không ăn, phải đào rễ cây nhấm nhá cầm hơi.[169]
Vắng Nguyễn Huệ, dư đảng Ánh ở đất liền tưởng có dịp nổi lên thành công. Hồ Văn tân đánh ở Tân
Châu, Tôn Thất Hội chiếm giồng Sao[170], đắp luỹ cự địch trong khi Lê Văn Quân lại giữ sông Tân Hoà.
Quân Tây Sơn tiến đánh giồng Sao rồi phá tan đồn Tân Hoà. Tháng giêng năm Nhâm Thìn (1784), kiện
tướng Ánh không còn ai ở Gia Định vì Hội, Quân đều bỏ chạy sang Xiêm, chỗ trú cuối cùng.
Châu Văn Tiếp sau trận Cá Trê đã theo đường thượng chạy một mạch qua Xiêm kêu xin viện binh. Tiếp
thực táo bạo trong lúc Ánh không dám liều lĩnh[171]. Sở dĩ có sự dè dặt này vì bang giao Xiêm Việt lúc
bấy giờ tuy có dấu hiệu cải thiện nhưng chưa đủ cho Ánh thấy Xiêm tỏ ra quên những cừu thù cũ.
Nam Vang và Hà Tiên là hai địa điểm đầu mối gây chiến. Ta đã biết âm mưu mở rộng Hà Tiên qua phía
Xiêm đã gây nên trận chiến tranh giữa Mạc Thiên Tứ và Trịnh Quốc Anh[172]. Khi Duệ Tông bị bắt, Tứ
với Tôn Thất Xuân chạy trốn bị thuyền Xiêm bắt về Vọng Các. Mùa xuân 1778, Ánh sai Cai cơ Lưu
Phúc Trưng qua tìm Tứ. Mùa hạ năm đó sứ bộ của Cai cơ Tham, Tịnh đi Xiêm thì gặp rủi ro: một thuyền
Xiêm đi buôn Quảng Đông về qua Hà Tiên bị Lưu thủ Thăng giết cướp. Có người Chân Lạp lại nói dèm
rằng Gia Định có mật thư cho Tứ, Xuân làm nội ứng để chiếm Vọng Các. Muốn khỏi lo lắng, Trịnh Quốc
Anh cho giết Tứ, các con lớn Tử Diên, Tử Hoàng, Tử Thượng và Tôn Thất Xuân, Tham, Tịnh, 50 người
tuỳ tùng, chỉ chừa lại con nhỏ và cháu Tứ phải đi đày thôi[173]. Tình hình bang giao không mấy khả
quan thì lại tiếp xảy ra việc tranh quyền bảo hộ Chân Lạp.
Vào cuối năm 1781, Trịnh Quốc Anh phái các tướng Chất-tri, Xô-si qua Chân Lạp hỏi tội Nặc-ấn, trả thù
vụ Nặc-vinh bị Đỗ Thanh Nhân giết. Nặc-ấn thua rút binh về Colompé cầu cứu với Gia Định vào cuối
tháng giêng 1782. Nguyễn Hữu Thuỵ và Hồ Văn Lân tiến quân lên Loveck[174]. Chiến tranh còn dằng
dai thì ở Xiêm xảy ra chính biến. Giặc thành Cổ Lạc (Korat) nổi dậy, Trịnh Quốc Anh sai Phi-nhã Oan-
sản[175] cầm quân dẹp mà không biết tại sao lại không lưu ý rằng người cầm đầu cuộc loạn lại là em
Sản. Sản quay giáo đem quân về Vọng Các bắt Anh cầm tù. Ở Chân Lạp, Chất-tri cầu hoà với Thuỵ, bẻ
tên thề, nhận cờ, đao, kiếm của Thuỵ tặng rồi kéo quân về giết Quốc Anh, vu tội cho Sản rồi giết luôn.
Chất-tri, Xô-si, và cháu là Ma-lặc làm đệ nhất, đệ nhị, đệ tam Phật vương, cùng nhau cai trị truyền dòng
Rama[176].
Việc kết giao với Nguyễn Hữu Thuỵ, tiếp theo với việc Rama I kêu Mạc Tử Sanh về Vọng Các nuôi, có
thể coi như những dấu hiệu khuyến khích Nguyễn Ánh tới gần Xiêm hơn. Cho nên, khi bại binh ở sông
Ngã Tư, Ánh sai sứ bộ trên 100 người theo đường Chân Lạp qua Xiêm cầu viện. Dân Chân Lạp gặp dịp
may trả thù kẻ thất thế, bèn giết gần hết sứ bộ với Nguyễn Hữu Thuỵ, Trần Xuân Đàm. Chỉ có Nguyễn
Văn Nhân, Cao Phước Trí là chạy thoát[177]. Tuy bị trở ngại, Nguyễn Ánh khôn ngoan vẫn cố giữ liên
lạc thân thiện để hi vọng nhờ cậy. Mùa thu năm 1782, khi trở lại Gia Định rồi, ông cũng sai sứ đi Xiêm
nữa.

Đến nay, Xiêm vương nghe lời Châu Văn Tiếp ai cầu, một mặt sai Tiếp theo thượng đạo trở về tìm chủ,
một mặt sai Thát-xỉ-đa đem thuyền đi Hà Tiên tìm rước Ánh ở Long Xuyên vào tháng 5- 1784[178].
Nhưng có phải vì lời kêu xin khẩn thiết của Châu Văn Tiếp ngày nay và vì nhớ mối kết giao với Nguyễn
Hữu Thuỵ trước kia mà Xiêm vương cho rước Nguyễn Ánh để rồi tính việc trợ giúp không? Có những tài
liệu khiến ta phải dè dặt.
Bá-đa-lộc đến Bangkok vào đầu tháng 11-1783 có gặp ở đây một sứ giả của Tây Sơn[179]. Tài liệu thật
là ít ỏi để cho ta có thể biết thêm về ngày tháng tới lui, sứ mệnh giao phó, sự tiến hành công việc của
viên sứ giả này ở Bangkok. Tuy nhiên do đó, ta cũng thấy Xiêm phải lựa chọn Nguyễn Ánh và Tây Sơn
mà quyết định nghiêng về bên nào lại tuỳ thuộc vào tình hình Chân Lạp.
Thực vậy, trong tháng 12-1783, Trương Văn Đa dẫn quân tấn công Chân Lạp. Trước đó, Nặc Ấn bị
Chiêu-thuỳ-biện, một người Mã Lai, nổi dậy đánh đuổi đến phải trốn qua Xiêm. Đa đến, Biện vốn được
Xiêm công nhận làm phụ chính ở đây từ trước, vội vàng chạy qua cầu viện. Và rồi Tây Sơn giáp mặt
quân Xiêm. Trương Văn Đa nghe tin điệp viên báo rằng quân Xiêm sẽ tiến theo đường Lào đánh Quy
Nhơn, nên quyết định khai chiến. Xiêm cũng đòi Tây Sơn trả những kẻ thù của Xiêm mà Tây Sơn giữ (?)
không thì chiến tranh. Và chiến tranh xẩy ra. Tây Sơn bị Xiêm vây, hai bên đánh nhau vài lần.
Cuối cùng Trương Văn Đa rút khỏi Nam Vang (6-1-1784). Nhưng từ đó “chiến tranh càng ngày càng
nhen nhúm giữa người Xiêm và bọn giặc ở Sài Gòn”.[180]
Để phân tán lực lượng Tây Sơn, Xiêm vương nghĩ tới Nguyễn Ánh. Và đó là cớ quan trọng nhất để giải
thích việc Nguyễn Ánh được “rước mời” vào Vọng Các. Cuộc đón rước nếu thực tình và diễn tiến trong
bình đẳng thì sao lại để xẩy ra những điều mà khi gặp lại Bá-đa-lộc lần thứ hai, Ánh phải than phiền về
“cách thức người ta lôi ông vào Xiêm”?
Tuy vậy, Ánh cũng ở Vọng Các chờ đợi đưa về. Đây là dịp may mắn cho Xiêm vương có thể mở rộng
cương giới về phía Thuỷ Chân Lạp. Viện binh Xiêm gồm có hai vạn quân, ba trăm chiến thuyền dưới
quyền điều khiển của Chiêu Tăng, Chiêu Sương, xuất binh ngày Nhâm thìn tháng sáu (25-7-1784).
Chiến tranh dùng Xiêm binh chiếm Gia Định được Nguyễn Ánh tóm thuật trong một bức thư gởi cho J.
Liot[181]:
“Từ Thầy theo Ta mà trở về[182] thì Ta cùng Xiêm binh tựu tại Mang Thít[183] hạnh công Tây tặc, thủ
thắng tàu một chiếc, hải đạo[184] 5 chiếc. Nhẩn ngày sau trực tấn xứ Lạch[185]. Nay thì Xiêm binh đại
tứ lỗ lược, dâm nhơn phụ nữ, lược nhơn tài vật, túng sát bất dung lão thiếu. Vậy nên Tây tặc binh thế
nhựt thạnh, Xiêm binh thế nhựt suy. Cớ ấy qua tháng chạp, mùng tám vừa thất lợi, các giai hội tản”...
Sử quan ghi cẩn thận hơn: tháng 7 âm lịch, khi quân Nguyễn Ánh và Xiêm chiếm Kiên Giang rồi đánh
Đô đốc Tây Sơn Nguyễn Hoá ở Trấn Giang (Cần Thơ), quân Xiêm chia nhau đồn trú Ba Vác, Trà Ôn,
Mang Thít, Sa Đéc. Nguyễn Ánh lo kiến tạo lực lượng riêng. Ông sai Cai cơ Trịnh Ngọc Trí đi đến các
làng kêu cựu thần đang lẩn trốn và hào kiệt nổi lên hưởng ứng quan binh. Kết quả sơ khởi cũng khả
quan: ở Vũng Liêm[186], phó Đốc chiến Lý của Tây Sơn ra hàng. Cai cơ Nguyễn Tấn Văn hàng Tây

Sơn ở trận Cá Trê năm ngoái nay cũng trở về. Sau đó là Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Khiêm bị bắt sau
trận Đồng Tuyên và dư đảng Đông Sơn do Nguyễn Văn Thành chiêu dụ.
10 âm lịch, Nguyễn Ánh chịu một cái tang đau đớn: Châu Văn Tiếp quá hăng hái tiến sâu vào trận địa
chết đổi mạng với Chưởng tiền Bảo ở Mang Thít. Trương Văn Đa vội rút về Long Hồ, sai người cấp báo
Quy Nhơn.
Quân Xiêm hoành hành dữ. Ánh kêu với cận tướng[187], rồi bỏ ra các hải đảo, gặp Bá-đa-lộc ở Thổ
Châu vào tháng 12-1784, than thở với ông này rằng: người Xiêm lừa gạt ông, lấy cớ lập lại quyền binh
cho ông chỉ để dùng danh vị ông mà cướp bóc dân chúng và bắt sống ông thôi[188]. Trong khi đó, các
tướng ông còn lại ở lục địa cố gắng tìm chiến thắng. Lê Văn Quân tiếp tục công việc của Châu Văn
Tiếp, làm Khâm sai Tổng nhung, đem Chưởng cơ Đổng tiến chiếm Ba Lai, Trà Lọt.
Nhưng không lâu, tháng chạp Giáp Thìn, Nguyễn Huệ kéo quân vào. Chạm với một kẻ địch lạ tay,
Nguyễn Huệ đánh mấy lần không thủ thắng đã có ý rút quân về. Vừa lúc một hàng tướng của Nguyễn
Ánh, Lê Xuân Giác, liền cho Huệ kế phục binh, đánh mạnh, bất thần, hợp với sở trường viên tướng trẻ
mà đầy khả năng này.
Huệ đem lính thiện chiến mai phục ở Rạch Gầm, rạch Xoài Mút[189] rồi dụ quân Xiêm tới. Quen mùi
chiến thắng, quân Xiêm tiến sâu vào nội địa bị đánh úp tan tành, chỉ còn vài nghìn người lẩn trốn theo
đường bộ Cao Miên chạy về nước. Thực là một chiến thắng làm choáng váng địch quân. Nguyễn Ánh
không trông cậy gì ở viện binh Xiên nữa. “Họ sợ Tây Sơn như sợ cọp”.
Nguyễn Ánh chạy về Trấn Giang sai Cai cơ Châu Phúc Trung tâu sự tình lên Nhị vương nước Xiêm.
Cuộc đời lao đao bị săn đuổi lại bắt đầu qua Thổ Châu rồi Cổ Cốt. May mắn hơn, lần này đã quen sẵn,
ra Cổ Cốt, Nguyễn Ánh gặp Cai cơ Trung đem binh Xiêm rước. Tháng ba năm Ất Tỵ (1785), với các
tướng tòng vong trên 5 thuyền và 200 binh, Nguyễn Ánh lủi thủi vào Vọng Các.
Nhưng hi vọng chưa dứt, ông còn mong chờ. Trong khi đó Tây Sơn lại bắt đầu tính chuyện tuôn đổ sức
mạnh có sẵn của họ ngược lên phía bắc, cưỡng bách đám dân chúng ở đây nhìn nhận oai quyền, giá trị
của kẻ bà con phương xa về đã thu nhặt được trong chuyến viễn du mấy trăm năm cách biệt.
chu thich:
[164] Ta biết là những khúc sông có tên là Rạch Chanh bắt đầu từ Long Định (Long An) đi vào Vàm Cỏ
đông phía hạ lưu Bến Lức, qua Vàm Cỏ tây rồi ra Tiền Giang bằng kinh Bà Bèo và rạch Ba Rài. Vậy thì
Nguyễn Ánh đã thoát nạn ở các khúc Rạch Chanh nào?
Chứng tích hiện tại so với sử sự thì hình như không hợp. Rạch Chanh khá nhỏ (trừ phi vào thế kỷ XVIII
nó có lớn hơn không) mà sử quan kể chuyện Ánh lội qua sông, leo lên lưng trâu cỡi, nước triều buổi
chiều dâng, trâu chìm, cá sấu đưa đi... như trên một khúc sông lớn vậy. Địa điểm chính xác chắc là vịnh
Đá Hàn trên sông Vàm Cỏ tây gần chỗ một khúc Rạch Chanh nhập vào (xã Hướng Thọ Phú, Long An).
Đó là một vùng nước xoáy rất dữ (một khuỷu sông). tục truyền Nguyễn Ánh đi qua đó không ghe

thuyền, bỗng nhiên đá dưới sông trồi lên, hàn lại (vi thế mới có tên là Đá Hàn. Người ta đồn ở khúc sông
này có bầy trâu nước, ai lấy được một sợi lông của nó mang theo qua sông, thân mình không bao giờ bị
chìm. Phảng phất trong truyện tích, ta thấy có chuyện Nguyễn Ánh cỡi trâu qua sông. Vậy chắc khúc
sông này là chỗ Nguyễn Ánh thoát nạn. )
[165] Sử quan gọi là đảo Côn Lôn. Tìm ra địa điểm Cổ Long là công của Ch. Maybon (Histoire moderne
du pays d’Annam, t. 201, chú số 3). Tuy nhiên, tên Côn Lôn nói ở các quyển Thực lục về sau không thể
lẫn được vì đảo này, từ lúc Nguyễn Ánh chiếm hẳn Gia Định đã đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp
xúc với Tây phương mà Tây phương thì biết rõ nó hơn Cổ Long.
[166] Chi tiết vụ này lấy ở Thực lục q2, 3ab, Liệt truyện q28, 9b, thư Langenois gởi cho Descourvières từ
Sa Đéc 14-11-1783. Sử quan gọi vị trí xảy ra cuộc vây hãm là “Điệp thạch dự”, hòn Đá Chồng. Trịnh
Hoài Đức (Aubaret, t. 52) kể chuyện Vinh-ly-ma, gọi là vũng Luỹ Thạch ở Phú Quốc. Hai chữ “luỹ” và
“điệp” có thể lẫn với nhau. Thực ra chữ “dự” ở đây không chỉ một hòn đảo mà chỉ một mõm núi nhô ra
sát biển.
Trận chiến hình như không phải chỉ xảy ra ngoài biển, ở mũi Đá Chồng của đảo Phú Quốc mà còn có
trên đất liền ở vùng Hà Tiên nữa. Tài liệu Tây phương trên ghi: “...(Ánh) trong lúc chờ đợi viện binh ở
Xiêm đã hai ba lần lẻn vào Cancao và quanh đó với bọn Mã Lai Campot để tìm lương thực, khí giới thì
thuỷ quân Tây Sơn và đạo quân Lào, Bassac bằng đường bộ đổ xô đến cướp của ông nhiều thuyền đi
biển, bắt các tướng, hầu hết đều phản bội. Một vài người bị giết, số còn lại đem về Sài Gòn”. (A.
Launay, III, t. 79, chú số 1).
Chúng tôi nhấn mạnh các chữ Mã Lai Campot vì đó là đầu mối tổng hợp các tài liệu. Sử quan vẫn gọi
bọn cướp biển ở vịnh Xiêm là giặc Chà-và (từ chữ Java). Khi Nguyễn Ánh ở Xiêm đánh Pégou (Mã Lai)
giúp Rama I, sử quan cũng gọi là đánh giặc Chà-và. Vậy Chà-và ở đây là chỉ dân Malais, và bọn
“Malais du Campot” nói trên là tướng sĩ của Vinh-ly-ma. Thực lục ghi việc Xiêm tướng Vinh-ly-ma về đầu
rồi tiếp theo vụ Điệp Thạch Dự liền, khiến ta có thể thấy ngay sự liên tục giữa hai sự kiện. Hơn nữa trong
thời gian chờ đợi viện binh Xiêm, chỉ có trận bại chiến này là lớn thôi, trận mà Pigneau có nói tới: “...
(khoảng 17, 18-7) vua đánh với bọn nổi loạn một trận mất gần hết binh thuyền còn lại” (A. Launay, III. t.
88) rất đúng với thời điểm tháng 6 âl của Thực lục.
[167] Đồng Khánh, quyển hạ, t. 209 cho biết đó là cửa biển của xã Tam Tân (nay thuộc Bình Tuy).
Sông Ma Ly có tên trên bản đồ của Nha Địa dư là sông Phan. Ta có thể hoài nghi là địa điểm Ánh tới
quá xa Phú Quốc và quá gần Tây Sơn. Tuy nhiên sự việc lại quá hợp với chi tiết nước ngọt giữa biển kể
sau. Phải ở Ma Ly chạy thẳng ra biển Đông, đi tới 7 ngày đêm người ta mới vẫn có thể may ra gặp các
dòng nước ngọt do sông Cửu Long đổ ra vì khối lượng lớn quá nên không lẫn với nước mặn được.
[168] Đốc Công hải khẩu. Thực lục, q2, 7ab
[169] Thực lục, q2, 8b; thư của Pigneau kể chuyện nửa sau tháng giêng 1784 (A. Launay III, t. 90.)
[170] Cù lao Ông Chưởng

