intTypePromotion=3

Chủ đề 3: Các ngữ hệ chính trên thế giới và ở Việt Nam

Chia sẻ: Phú Anh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:24

0
162
lượt xem
11
download

Chủ đề 3: Các ngữ hệ chính trên thế giới và ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài giảng giúp học viên nắm được nguồn gốc, vai trò của ngôn ngữ trong đời sống xã hội và trong nghiên cứu Dân tộc học, sự hình thành các ngữ hệ trên thế giới và ở Việt Nam. Từ đó có quan niệm đúng về ngôn ngữ và xây dựng ý thức, trách nhiệm bảo tồn, phát huy ngôn ngữ của dân tộc, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chủ đề 3: Các ngữ hệ chính trên thế giới và ở Việt Nam

  1. 1 Chủ đề 3 CÁC NGỮ HỆ CHÍNH TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM A. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU Giúp cho học viên nắm được nguồn gốc, vai trò của ngôn ngữ  trong đời  sống xã hội và trong nghiên cứu Dân tộc học, sự  hình thành các ngữ  hệ  trên   thế giới và ở Việt Nam. Từ đó có quan niệm đúng về ngôn ngữ và xây dựng ý   thức, trách nhiệm bảo tồn, phát huy ngôn ngữ  của dân tộc, góp phần giữ  gìn  bản sắc văn hóa dân tộc. Nâng cao ý thức trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ. B. NỘI DUNG I. NGUỒN GỐC NGÔN NGỮ VÀ SỰ HÌNH THÀNH CÁC NGỮ HỆ II. CÁC  NGỮ  HỆ  CHÍNH  Ở  VIỆT  NAM VÀ NGUỒN GỐC TIẾNG  VIỆT. C. THỜI GIAN 2 tiết D. PHƯƠNG PHÁP Thuyết trình, diễn giải, chứng minh. Sử dụng phương tiện trình chiếu (nếu có). Đ. TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU, THAM KHẢO. Giáo trình DTH, Nxb QĐND, H2001 DTH đại cương, NxbGD, H1997. Viện ngôn ngữ học, Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam và chính  sách ngôn ngữ. Nxb KHXH, H1984
  2. 2 NỘI DUNG I. NGUỒN GỐC NGÔN NGỮ VÀ SỰ HÌNH THÀNH CÁC NGỮ HỆ 1. Nguồn gốc ngôn ngữ và vai trò của nó trong nghiên cứu DTH. a. Khái niệm ngôn ngữ. Ngôn ngữ là sản phẩm cao cấp của ý thức con người, là vật chất được trừu   tượng hóa và là hệ  thống tín hiệu thứ  hai của con người. Ngôn ngữ  là một   phương tiện, một công cụ để con người giao tiếp, trao đổi tư tưởng và hiểu biết   nhau. Ngôn ngữ là một hệ thống những âm, những từ và những quy tắc kết hợp  chúng mà những người làm trong cùng một cộng đồng sử  dụng chúng làm  phương tiện để giao tiếp với nhau (từ điển TV). ­Ngôn ngữ bao gồm hệ thống phương tiện vật chất như âm thanh, từ vị,   quy tắc ngữ pháp (là hệ thống tín hiệu thứ hai của con người) ­Ngôn ngữ  nảy sinh do nhu cầu giao tiếp, trao  đổi và truyền đạt kinh   nghiệm trong quá trình lao động sản xuất và sinh hoạt. ­Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, là công cụ của tư duy. Nhờ  ngôn ngữ  mà tư  duy trừu tượng được hiện thực hóa, cụ  thể  hóa.  Mặt khác chính nhờ  tư  duy mà ngôn ngữ  không chỉ  là cái vỏ  vô nghĩa, thuần  túy vật chất, nó mang trong mình cả yếu tố tinh thần, vì vậy ngôn ngữ không  chỉ là phương tiện vật chất để  biểu đạt tư  duy mà còn là công cụ  hoạt động   tư duy, tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành và phát triển của tư duy con  người. Ngôn ngữ  có chức năng phản ánh hiện thực khách quan, là công cụ  của  tư duy, là hình thức tồn tại, phương tiện vật chất để thể hiện tư duy. Không  có khái niệm tư tưởng nào mà không được biểu hiện ra dưới dạng ngôn ngữ.   Mọi ý nghĩ, tư tưởng chỉ trở nên rõ ràng khi được thể hiện ra bằng ngôn ngữ.
  3. 3 Ăng­ghen: “sự sản sinh ra ý tưởng, biểu tưởng và ý thức trước hết là gắn  liền trực tiếp và mật thiết với hoạt động vật chất của con người đó là ngôn  ngữ của cuộc sống”. ­Ngôn ngữ là ngôn ngữ XH, mang bản chất XH, không có ngôn ngữ cá nhân. Ngôn ngữ ra đời do nhu cầu giao tiếp của XH loài người, do đó ngôn ngữ  thuộc phạm trù lịch sử  chứ  không thuộc phạm trù tự  nhiên, ra đời với chức   năng là phương tiện căn bản để  con người giao tiếp với nhau, cho nên ngôn  ngữ bao giờ cũng là ngôn ngữ xã hội, không có ngôn ngữ cá nhân. Đối với mỗi cá nhân, ngôn ngữ như một thiết chế xã hội chặt chẽ, được   giữ gìn và phát triển trong kinh nghiệm, trong truyền thống chung của cả cộng  đồng, đó là những phong tục, tập quán, kinh nghiệm sản xuất. Thiết chế  đó  chính là một tập hợp những thói quen: nói, nghe và hiểu được qua tiếp thu từ  tiếng mẹ  đẻ. Đó là ngôn ngữ  tộc người. tiếng nói chung của cả  cộng đồng  tộc người dùng để giao tiếp với nhau. ­Ngôn ngữ là hiện tượng XH đặc biệt. Ngôn ngữ  không phải chỉ  là một hiện tượng XH đơn thuần mà là một   hiện tượng XH đặc biệt, thể  hiện  ở  chỗ  nó không thuộc về  một kiến trúc   thượng tầng nhất định, cho nên khi một kiến trúc thượng tầng bị  cơ  sở  hạ  tầng của nó phá vỡ thì ngôn ngữ về cơ bản không thay đổi, mà sự biến đổi đó   sẽ do nhu cầu khách quan của thực tiễn XH đòi hỏi và theo quy luật riêng của   nó. ­Ngôn ngữ phục vụ toàn XH, không có tính giai cấp, nhưng trong xã hội   có giai cấp thì sự phát triển và sử dụng ngôn ngữ mang đậm dấu ấn của giai   cấp thống trị. Bản thân ngôn ngữ ra đời gắn liền với các tộc người, trên thực tế có nhiều   ngôn ngữ ra đời trước khi XH có giai cấp. Tuy nhiên khi XH có giai cấp, giai cấp  thống trị đã sử dụng ngôn ngữ một cách triệt để, nhằm  phục vụ lợi ích giai cấp   mình để  truyền bá tư  tưởng, chủ  trương, pháp luật, chính sách, đấu tranh tư 
  4. 4 tưởng, lý luận. Riêng chính sách ngôn ngữ, giai cấp thống trị thường muốn đồng  hóa ngôn ngữ của các tộc người khác và bành trướng ngôn ngữ  của tộc người   mình. Lưu ý: không nên đồng nhất chức năng giao tiếp với chức năng tư duy, vì  có khi người ta tư  duy (ngồi nghĩ, viết ra) mà không giao tiếp (giao tiếp chỉ  xảy ra khi có hành động giao tiếp) b. Nguồn gốc ngôn ngữ. Xung quanh vấn đề  ngôn ngữ đã có nhiều quan điểm khác nhau, ngay từ  thời cổ đại đã có những cách giải thích về nguồn gốc của ngôn ngữ, nhưng từ  thời phục hưng trở đi vấn đề này mới được bàn nhiều và ngày càng sáng tỏ. * Quan điểm trước Mác: ­Duy tâm, tôn giáo: thượng đế sáng tạo ra con người nên cũng sáng tạo ra   NN. ­Thuyết tượng thanh:  con người vốn không có tiếng nói mà do bắt   chước các âm thanh có sẵn trong tự nhiên. VD: tiếng suối chảy róc rách, tiếng mèo kêu, tiếng chim hót. Thuyết này chỉ  giải thích được một số  hiện tượng riêng biệt của ngôn  ngữ, không thể  lý giải được về  số  lượng từ  vị  đa số  hay loại từ  của tư  duy  trừu tượng. ­Thuyết duy cảm:  cho rằng nguồn gốc của ngôn ngữ  là do cảm giác,   không phải do nhu cầu giao tiếp mà do bản chất tinh thần của con người cốt   để  bộc lộ, giao tiếp với chính bản thân. Vì vậy con người sống tách rời XH   vẫn có thể có ngôn ngữ. Quan điểm này đã giải thích một cách duy tâm về  nguồn gốc ngôn ngữ,  không thấy được bản chất và chức năng của ngôn ngữ.
  5. 5 ­Thuyết tán thán: ngôn ngữ  ra đời là do con người biến tiếng kêu còn   mang tính bản năng động vật thành các âm thanh tự nhiên biểu hiện cảm xúc   của con người. VD: các từ ái, ối, chà, a, ồ… Thuyết này đã không chú ý đến ý nghĩa XH to lớn của ngôn ngữ, mà chỉ  giải thích một số hiện tượng riêng lẻ (VD). ­Thuyết tiếng kêu trong lao động:  NN bắt nguồn từ  những tiếng hò   nhịp điệu phối hợp trong lao động để tăng thêm sức mạnh của người nguyên   thủy. VD: hai ba nào, hò dô ta nào, hầy, hú… ­Thuyết công  ước xã hội:  NN ra đời do sự  thỏa thuận giữa các tập   đoàn người với nhau. Thuyết này cho rằng ngôn ngữ  sinh ra do người nguyên thủy trong sinh  hoạt đã thỏa thuận với nhau quy định ra, là kết quả  quy  ước của các nhóm  người. ­Thuyết cử  chỉ  bàn tay:  do ban đầu tư  duy trực giác, bằng tay. Giai   đoạn sau mới có NN thành tiếng như ngày nay. Nó không phải do nhu cầu giao tiếp mà là phương thức  ảo thuật, tôn  giáo. Thuyết cử chỉ bàn tay: trước khi ngôn ngữ thành tiếng ra đời con người  dùng các cử chỉ, bàn tay để giao tiếp (cách ngày nay khoảng 1­1,5 triệu năm) Ngoài ra còn có quan niệm dựa vào thuyết tiến hóa của Đac­uyn cho  rằng: NN cũng phát triển như  một sinh vật (trẻ  em từng bước tập đi và tập  nói một cách tự  nhiên); NN mang tính di truyền bằng máu, có NN thượng   đẳng và có NN hạ đẳng do tính chất của chủng tộc qui định. Thực chất quan  điểm này là tư tưởng phân biệt chủng tộc.
  6. 6 Tóm lại:  các quan điểm trên không giải thích được nguồn gốc khách   quan, khoa học về  nguồn gốc của NN, không phản ánh được chức năng của  ngôn ngữ. Chỉ thấy hình thức mà không lột tả được thực chất của ngôn ngữ. * Quan điểm Mác­xit: Nguồn gốc ngôn ngữ  gắn liền với nguồn gốc của XH loài người, con   người là chủ  thể  sáng tạo ra ngôn ngữ. Lao động sáng tạo ra loài người và   chính trong quá trình đó, lao động sáng tạo ra ngôn ngữ và làm cho ngôn ngữ   ngày càng phát triển. Đồng thời ngôn ngữ là công cụ giao tiếp của xã hội loài   người tạo điều kiện kích thích sự  phát triển của lao động sản xuất và quan   hệ XH. Ăng­ghen: “ngôn ngữ  bắt nguồn từ  lao động và phát triển cùng lao động. Đó là   cách giải thích duy nhất về nguồn gốc của ngôn ngữ”. ­Con người là chủ  thể  sáng tạo ra ngôn ngữ  cùng với sự  tiến hóa tự   thân. Ăng­ghen: “trước hết là lao động, sau lao động và cùng thời với lao động  là ngôn ngữ, đó là hai sức kích thích chủ yếu đến bộ não của con người”. Theo Ăng­ghen và kết quả  của nghiên cứu khoa học cho thấy: do biến  đổi của môt trường sống, để tự vệ và tìm kiếm thức ăn, loài người đã chuyển   từ trên cây xuống mặt đất để tìm kiếm thức ăn. Quá trình di chuyển, tìm kiếm  thức ăn trên mặt đất đã dần tạo tư  thế  đứng và đi thẳng của con người, đã  làm thay đổi hoàn toàn tư thế của vượn người, giải phóng đôi tay và mở rộng   tầm nhìn, tư  thế  này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát sinh ra ngôn  ngữ. Từ  tư thế  này cùng với hoạt động lao động đã làm cho bộ  máy phát âm   dần dần hoàn thiện (tiền đề  sinh học), thông qua lao động làm nảy sinh nhu   cầu giao tiếp như là phải nói với nhau cái gì đấy (tiền đề XH). Ngôn ngữ hình  thành và phát triển qua hàng triệu năm, từ đơn giản đến phức tạp (chứ không  phải đợi đến hoàn thiện như  ngày nay rồi người ta mới giao tiếp). Lúc đó  
  7. 7 tiếng còn bập bẹ, chưa rõ, chưa đủ  từ  để  giao tiếp, người ta sử  dụng cả  hệ  thống thông tin tín hiệu thứ nhất: cử chỉ, điệu bộ để giao tiếp và đến nay vẫn  sử dụng các phương tiện bổ trợ đó. Ngôn ngữ dần dần hình thành để trao đổi   và biểu đạt tư duy. Ăng­ghen: “sau cuộc đấu tranh kéo dài hàng nghìn năm, cuối cùng, bàn tay  đã phân biệt với bàn chân, và dáng đi thẳng đã được xác lập vững chắc rồi, thì   con người tách khỏi con khỉ, và mới có cơ  sở  cho sự  phát triển của tiếng nói  có âm tiết và cho sự phát triển mạnh mẽ của bộ óc, sự  phát triển làm cho cái  vực sâu giữa người và khỉ từ đó trở nên không thể vượt qua nổi”. Lao động của con người bao giờ  cũng là lao động xã hội, quá trình sinh   sống bầy đàn phát triển thành thị tộc­bộ lạc nảy sinh đòi hỏi tất yếu nhu cầu   giao tiếp, trao đổi, biểu đạt tình cảm, dẫn đến sự  ra đời của ngôn ngữ. Lao  động và ngôn ngữ phát triển làm cho tư duy và ý thức phát triển. ­Ngôn ngữ thúc đẩy lao động, quan hệ xã hội phát triển. Ăng­ghen: bộ  óc và các giác quan phụ  thuộc bộ  óc phát triển lên, ý thức   ngày càng sáng suốt hơn, tất cả  những cái đó đã tác động trở  lại lao động và   ngôn ngữ, đã thúc đẩy không ngừng cho lao động và ngôn ngữ  phát triển thêm   nữa                                Nhu cầu chế tạo công cụ ­ kích thích tư duy phát triển.  Lao động                        Liên kết cộng đồng – nhu cầu giao tiếp – ngôn ngữ xuất hiện.                                Óc người (vật chất phát triển cao nhất) Tóm lại: ngôn ngữ  ra đời do nhu cầu giao tiếp của con người trong lao  động sản xuất và quan hệ XH. Nguồn gốc cơ bản của sự ra đời và phát triển  của ngôn ngữ là lao động, xuất phát từ  lao động, phục vụ  lao động, và mang  nội dung XH nhằm biểu đạt tư duy trừu tượng. c. Vai trò của ngôn ngữ: * Nói chung ­Là phương tiện giao tiếp căn bản nhất của con người.
  8. 8 Giao tiếp là nhu cầu bẩm sinh của con người, không ai sống trong cộng   đồng nào đó mà lại không có nhu cầu giao tiếp. Khi giao tiếp con người có thể  trao đổi tư tưởng, tình cảm, tri thức, sự hiểu biết, kinh nghiệm...chính nhờ thế  mà con người mới tập hợp nhau lại thành cộng đồng, có tổ  chức, có hoạt  động và sinh hoạt xã hội. Mặt khác ngôn ngữ  còn lưu giữ, chuyển tải tư  tưởng và tri thức cho các thế hệ sau. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, đóng vai trò là động  lực thúc đẩy xã hội phát triển. Những phương tiện giao tiếp như: điệu bộ, cử  chỉ, tín hiệu, kí hiệu...chỉ là phương tiện bổ sung cho ngôn ngữ trong giao tiếp,   vì chúng không phản ánh được hoạt động tư tưởng phức tạp của con người. ­Là công cụ biểu cảm, công cụ nghệ thuật. Ngôn ngữ là công cụ  biểu cảm giữa con người với nhau. Thông qua ngôn   ngữ thúc đẩy sự sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa – nghệ thuật của con  người. ­Là một thành tố của văn hóa đồng thời là giá đỡ của văn hóa, ngôn ngữ   lưu giữ và truyền tải tri thức cho thế hệ mai sau. ­Là phương tiện, công cụ của tư duy, đóng vai trò to lớn trong hình thành ý   thức. Ngôn ngữ là phương tiện vật chất, là hình thức tồn tại của tư duy ý thức.   Nó tham gia trực tiếp vào nhận thức thế  giới khách quan. Chỉ  có thông qua  ngôn ngữ, ý thức, tư  duy mới phản ánh và nhận thức được quy luật khách  quan, không có ý thức phi ngôn ngữ. Song không thể đồng nhất ngôn ngữ với  tư  duy, ngôn ngữ  có tính độc lập tương đối và tác động nhất định đến năng   lực và sự phát triển của tư duy, tư tưởng. * Đối với Dân tộc học ­Ngôn ngữ là một tiêu chí quan trọng để phân biệt tộc người, dân tộc.
  9. 9 Một ngôn ngữ  bao giờ  cũng gắn với quá trình phát sinh, phát triển của  một tộc người nhất định. Hơn nữa ngôn ngữ còn là một thành tố của văn hóa,  đồng thời là giá đỡ của văn hóa. ­Lịch sử ngôn ngữ gắn chặt với lịch sử tộc người, dân tộc. Quan hệ  lịch sử  ngôn ngữ  và lịch sử  tộc người, dân tộc là mối quan hệ  tương hỗ; có thể nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ để hiểu biết lịch sử dân tộc và  ngược lại có thể đi từ lịch sử  dân tộc để  làm rõ những hiện tượng, quá trình  và các biến hóa của ngôn ngữ. Do vậy bất kỳ  một dân tộc nào, dù ít hay đông người, lạc hậu hay văn  minh đều có tiếng nói của riêng mình, gắn bó với lịch sử dân tộc mình. ­Ngôn ngữ  là nguồn sử  liệu quý để  nghiên cứu lịch sử  tộc người, dân   tộc. Tài liệu ngôn ngữ  có thể  giúp chúng ta hiểu rõ một số  vấn đề  chủ  yếu   về  lịch sử  tộc  người, dân tộc. Đó là các vấn đề  về  môi trường sinh thái mà   tộc người đó đã tồn tại và phát triển; quan hệ  về  nguồn gốc giữa các tộc  người, dân tộc anh em; lịch sử phát triển, đặc trưng, phương hướng phát triển  của nền văn hóa dân tộc. Có thể  nghiên cứu lịch sử  ngôn ngữ  để  hiểu biết về  lịch sử  dân tộc và  ngược lại. Thông qua phương pháp so sánh ngôn ngữ học lịch sử chúng ta giải   quyết 3 vấn đề sau: +Vạch rõ nguồn gốc và quá trình hình thành của dân tộc, mối quan hệ   của dân tộc đó với các dân tộc khác, giúp tìm ra nguồn gốc của dân tộc. +Dựa vào tài liệu ngôn ngữ  sẽ  làm sáng tỏ  các đặc điểm chủ  yếu của   sinh hoạt VH trước kia của dân tộc đó, nghĩa là vấn đề lịch sử VH dân tộc. +Vạch rõ mối quan hệ qua lại giữa các dân tộc qua những đặc điểm của   ngôn ngữ. Đây là sự cung cấp tài liệu để hiểu biết về sự qua lại và ảnh hưởng lẫn  nhau giữa các dân tộc và các thị tộc, bộ lạc trước đó.
  10. 10 ­Tài liệu ngôn ngữ còn giúp chúng ta dựng lại hoạt động VH và sinh hoạt   KT của dân tộc, giúp Dân tộc học nghiên cứu các hiện tượng VH – XH của tộc   người. Để dựng lại quá trình trên phải dựa vào các từ vị (toàn bộ từ ngữ) của ngôn  ngữ đó chứ không chỉ dừng lại ở những từ vị cơ bản. Bởi vì những từ vị là những   từ  có trong toàn bộ  quá trình hình thành và phát triển của ngôn ngữ  đó, có cả  những từ mượn hay những từ chịu  ảnh hưởng của các ngôn ngữ khác, còn từ vị  cơ bản phản ánh những sự thực và các mối quan hệ giữa chúng với nhau trong lịch  sử. ­Vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ cũng là tài liệu liên quan đến lịch sử dân tộc. Qua những từ mượn (như những từ khoa học kỹ thuật của ta vay mượn   từ la tinh) và những từ mới xuất hiện do tiếp xúc ngôn ngữ, văn hóa trong lịch  sử  (như từ Hán­Việt) giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử phát triển của dân   tộc. ­Qua nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ cho ta biết được lịch sử tộc người. Tồn tại XH, sự vật, hiện tượng môi sinh, lao động sản xuất, sinh hoạt, ý  thức, tư duy, quan hệ giữa các tộc người, dân tộc.  VD: Hán – Việt, Việt – Mường, Việt – Pháp... Điều kiện tự  nhiên, lịch sử  của dân tộc, đặc trưng của văn hóa dân tộc;  dựng lại các hoạt động kinh tế, xã hội của các tộc người trong lịch sử  tộc  người. VD: bằng sử liệu (chủ yếu bằng sách) người ta đã dựng lại các bộ  phim  lịch sử của Trung Quốc mà chúng ta đang xem. Tóm lại, ngôn ngữ là một nguồn sử liệu giúp DTH giải quyết nhiều vấn  đề. Dựa vào từ  vị  cơ  bản là kết cấu ngôn ngữ  (ngữ  pháp), ta có thể  hiểu rõ   nguồn gốc của các dân tộc và các tộc người. d. Diễn tiến ngôn ngữ trong sự phát triển của xã hội và tộc người.
  11. 11 Ngôn ngữ sinh ra cùng với con người và gắn bó mật thiết với con người,   do đó cũng gắn bó cùng với sự  phát triển của tộc người. Quá trình đó được  dân tộc học phân chia thành các giai đoạn như: bầy người nguyên thủy, thị  tộc, bộ  lạc, bộ  tộc và dân tộc. Các khối cộng đồng đó lại tương  ứng với sự  phân loại của học thuyết về các hình thái KT­XH chia lịch sử loài người theo  các giai đoạn phát triển như: CXNT, CHNL, PK, TBCN, XHCN. Tuy nhiên  trong các giai đoạn phát triển khác nhau của tộc người, ngôn ngữ  có những  đặc trưng riêng trong từng thời đại của lịch sử xã hội loài người. * Ngôn ngữ trong thời đại công xã nguyên thủy Theo tài liệu khảo cổ  học của Trường Đại học tổng hợp Ten Avip thì  người cổ Nêanđectan đã có khả  năng nói được nhờ có xương lưỡi gà đã phát   triển. Song có thể nói được ngôn ngữ hẳn hoi có khi phải đến thời đại CXNT.  Cơ  sở  xã hội của CXNT là thị  tộc, đơn vị  tổ  chức xã hội đầu tiên của loài   người. Các thị tộc, bộ lạc cư trú trên một lãnh thổ nhất định, quan hệ với nhau  bởi huyết thống, lúc đầu tính theo dòng mẹ, sau tính theo dòng cha. Đây là thời   kỳ CXNT, mọi tư liệu sản xuất đều là sở hữu chung, các thành viên cùng làm,  cùng hưởng, thương yêu, đùm bọc, bảo vệ  lẫn nhau. Nguyên tắc tồn tại của   thời kỳ CXNT là tự  do, bình đẳng, bác ái, không có người bóc lột người, các   thành viên gắn bó, thống nhất với thị tộc, bộ lạc; mỗi thị tộc đều có ngôn ngữ  riêng. Về  ngôn ngữ, thời kỳ  này có hai xu hướng hầu như  trái ngược nhau  nhưng nhiều khi lại đan xen vào nhau, đó là xu hướng phân tách, chia tách và  xu hướng liên minh, hợp nhất (cùng với sự phân tách hay liên hợp của các thị  tộc, bộ lạc), nên dẫn đến việc tăng số  lượng các ngôn ngữ; mặt khác do liên   minh mà có hiện tượng  pha trộn, tiếp xúc ngôn ngữ. Chính vì vật giúp ngành  DTH tìm hiểu được nguồn gốc các tộc người. ­Xu hướng phân tách
  12. 12 +Thường xảy ra khi một thị tộc, bộ lạc tăng dân số không ngừng và đến   một lúc nào đó, do nhiều điều kiện khác nhau buộc người ta tự  nhiên phải   tách ra và thành những bộ phận, những nhóm, cư  trú trên nhiều địa bàn khác   nhau. Dân số  của những thị  tộc, bộ  lạc phát triển cần phân chia đi kiếm ăn ở  những vùng khác nhau; do điều kiện sống xa nhau, đi lại khó khăn, nên dần  dần các nhóm đó tách khỏi nhóm mẹ, hình thành những bộ lạc độc lập. +Trong quá trình đó, những khác biệt về ngôn ngữ đã nảy sinh rồi được   củng cố  qua nhiều thế  hệ  và trở  thành ngôn ngữ  khác nhau có cùng nguồn   gốc, hay trở thành phương ngữ, thổ ngữ khác nhau của một ngôn ngữ chung. Trong điều kiện đó, khác biệt về ngôn ngữ dần nảy sinh do tự thân ngôn  ngữ đó biến đổi hay tiếp thu những yếu tố mới của ngôn ngữ địa phương, sự  khác biệt được củng cố qua nhiều thế hệ và trở thành ngôn ngữ độc lập, cùng  thời kỳ đó xuất hiện nhiều ngữ hệ khác nhau. Đó   là   di   sản   của   sự   phân  chia   cộng  đồng  người   thành   các   nhóm  địa  phương và tạo ra các phương ngữ  hay thổ  ngữ  của cùng một ngôn ngữ  gốc.   Sự phân chia đó ngày càng xé lẻ và xa nhau ra trở thành các ngôn ngữ của cùng   một nhóm ngôn ngữ và các nhóm ngôn ngữ đó lại cùng chung một ngữ hệ. ­Xu hướng hợp nhất Xu hướng hợp nhất ngôn ngữ có lẽ  diễn ra vào cuối thời kỳ thị tộc phụ  quyền, đó là giai đoạn cuối của chế độ CXNT đang tan rã và dần chuyển sang  xã hội có giai cấp. Lúc này do nhu cầu tồn tại và phát triển của cả cộng đồng,  các liên minh bộ lạc được hình thành bởi nhiều nguyên nhân: đó là bộ lạc này  chinh phục bộ lạc khác, hoặc là một số  bộ lạc tự nguyện liên minh với nhau  vì  một nguyên nhân nào đó. Liên minh bộ lạc là điều kiện hết sức thuận lợi  để  các ngôn ngữ  (dù không gần gũi với nhau về  cội nguồn, hoặc hoàn toàn   không có quan hệ  thân thuộc đi nữa) tiếp xúc chặt chẽ, tác động  ảnh hưởng  lẫn nhau. Thường có hai lối tác động:
  13. 13 +Thứ nhất, một ngôn ngữ  bộ  lạc chiến thắng các ngôn ngữ  khác và trở   thành ngôn ngữ chung trong cộng đồng mới. Tuy vậy ngôn ngữ của bộ lạc chiến thắng vẫn chịu ảnh hưởng của ngôn  ngữ bộ lạc không chiến thắng khác và thay đổi ít nhiều bộ dạng của mình đi,  nhất là ở mặt ngữ âm và từ vựng. VD: tiếng la­tinh của người La­mã trong các vùng bị  người La­mã chinh  phục. +Thứ hai, tiếp xúc ngôn ngữ dẫn đến pha trộn ngôn ngữ và thậm chí có   thể làm nảy sinh một ngôn ngữ mới. Nhưng đây không phải là sự  pha trộn cơ  giới, cũng không phải là sự  tạo   thành một ngôn ngữ hoàn toàn mới, khác hẳn các ngôn ngữ đã tham gia tiếp xúc,   pha trộn bởi vì ngôn ngữ mới này vẫn giữ cơ cấu hình thái của một trong những   ngôn ngữ thuộc thành phần pha trộn đó làm cơ sở nền tảng cho mình. Chính nhờ  cái cơ sở (gọi là cơ tầng) đó mà người ta vẫn xác định được ngôn ngữ mới thân   thuộc với ngôn ngữ nào hơn và thuộc vào nhóm nào trong phổ  hệ của họ ngôn  ngữ. Lối tiếp xúc.  ảnh hưởng như  thế, ngay gần đây người ta vẫn có thể  kiểm chứng được trong không hiếm các ngôn ngữ hiện đang tồn tại. VD: tiếng Việt trong quá trình tiếp xúc với tiếng Hán đã vay mượn một   khối lượng rất lớn các từ  và yếu tố  tạo từ  cùng một số   ảnh hưởng về  mặt   ngữ  pháp, nhưng không vì thế  mà nó thuộc cùng một nhóm gần gũi về  cội   nguồn   với   tiếng   Hán.   Ở   châu   Âu,   giữa   tiếng   Anh   với   tiếng   Pháp,   tiếng   Rumania với các ngôn ngữ Slavơ, tiếng Hi lạp, tiếng Hung người ta cũng thấy   tình hình tương tự... Như  vậy: điểm nổi rõ về  mặt ngôn ngữ  trong thời kỳ  công xã nguyên  thủy là luôn diễn ra quá trình chia tách và liên minh tiếp xúc. Một mặt sự chia   tách làm gia tăng số lượng các ngôn ngữ khác nhau hoặc số lượng các phương  
  14. 14 ngữ, thổ ngữ khác nhau trong một ngôn ngữ; mặt khác sự tiếp xúc lại dẫn đến   tình trạng gần nhau và tới một mức nào đó sẽ dẫn đến pha trộn ngôn ngữ. * Ngôn ngữ trong các nhà nước cổ đại Thay thế  chế  độ  công xã nguyên thủy là chế  độ  xã hội có giai cấp, gắn   liền với sự thiết lập nhà nước (trước hết là những nhà nước cổ đại) theo kiểu   nào đó của phương Đông hoặc phương Tây. Tùy theo hoàn cảnh cụ thể của từng nơi mà các nhà nước đó đã được xây  dựng bằng các cách khác nhau, bởi những nguyên nhân khác nhau. Các nhà  nước cổ đại Hi Lạp, La Mã, Ai Cập, Ấn Độ, Trung Hoa và vùng cận đông là   sản phẩm của những bộ lạc, liên minh bộ lạc chiến thắng để thống trị các tộc   người khác trong cộng đồng; một số  nơi khác (như  nhà nước Văn Lang) lại   xây dựng nhà nước trên cơ sở một liên minh tự nguyện, thiết lập chính quyền  TW thống nhất, khả  dĩ tập trung sức mạnh toàn cộng đồng để  đối phó thiên  tai hoặc các cuộc xâm lăng, thôn tính của ngoại xâm. ­Nhà nước ra đời đòi hỏi trong cộng đồng phải có một ngôn ngữ  thống   nhất làm ngôn ngữ  nhà nước. Ngôn ngữ  đó có thể  là một ngôn ngữ  bản địa   của người chiến thắng như tiếng La­tinh ở La­mã cổ đại. Từ sau năm 49 tr.CN thì ngôn ngữ địa phương đã không được sử dụng và  chữ La­tinh đã trở thành ngôn ngữ chung cho toàn Italya và hợp nhất các công   xã thành một bộ  tộc thống nhất. Tiếng la­tinh trở  thành ngôn ngữ  của khoa  học, văn học và văn hóa. Về sau nhờ  hiện tượng này mà Tây Âu đã có cơ  sở  để hiểu biết sâu sắc về kho vốn cổ văn hóa cổ điển này. ­Người nắm được và sử  dụng chữ  viết lúc đó chủ  yếu là các trí thức   trong tầng lớp thống trị, các tăng lữ thuộc các tôn giáo hoặc các thương nhân. VD: như ở Trung cận đông và Địa trung hải ngôn ngữ của chữ viết nhiều  khi cách xa ngôn ngữ nhân dân. ­Sự ra đời của nhà nước đã ảnh hưởng đến ngôn ngữ
  15. 15 Nó là nhân tố  vừa đòi hỏi thúc đẩy việc tìm kiếm xây dựng một nhà  nước chính thức, thống nhất về phương diện quốc gia, mặt khác để tạo điều   kiện cho sự ra đời của một dân tộc từ các cộng đồng người thì sự thống nhất   ngôn ngữ là điều quan trọng. Tuy nhiên trong sự thống nhất đó vẫn buộc phải   chấp nhận tình trạng còn tồn tại những phương ngữ địa lý và phương ngữ xã  hội, đó là hiện trạng ngôn ngữ thống nhất trong đa dạng và đa dạng trên cơ sở  thống nhất. ­Sự  thống nhất ngôn ngữ  dân tộc cũng thường dẫn đến việc xây dựng   ngôn ngữ văn học Đó là thứ  ngôn ngữ  có  quy chế,  được  trau dồi dù  có chính thức hay   không. Một khi ngôn ngữ  dân tộc dần khẳng định được vai trò của mình, nó  cũng được nhân dân tích cực xây dựng, trau dồi làm cho có quy chế, có chuẩn   mực hơn. * Ngôn ngữ của xã hội phong kiến ­Xu hướng thống nhất ngôn ngữ vẫn được duy trì song đã có hiện tượng   song ngữ mà ở các nhà nước cổ đại chưa có. Tuy nhiên xu hướng mới này không hề  mâu thuẫn với sự  thống nhất   ngôn ngữ trong một nước mà đã kết hợp một cách độc đáo. ­Đặc điểm nổi bật của xã hội phong kiến là tôn ti, đẳng cấp rõ rệt Tầng lớp trên sử dụng một loại ngôn ngữ, tầng lớp dưới sử dụng một loại  ngôn ngữ, bởi vì tầng lớp trên đối lập hoàn toàn với nhân dân lao động. Sự cách   biệt đó thể hiện ở phổ hệ dòng họ quý tộc của giai cấp phong kiến­dòng họ quí   tộc với dòng máu sạch, giai cấp phong kiến là vua, là quý tộc...họ coi mình như  là những người vĩ đại, có sứ mệnh đặc biệt; cho nên lối sống văn hóa (ăn, mặc,   ở, giao tiếp) và ý thức giai cấp của tầng lớp phong kiến khác với nhân dân. Điều   đó dẫn đến ngôn ngữ của tầng lớp địa chủ  phong kiến khác với ngôn ngữ  của  nhân dân.
  16. 16 VD: ở Indonesia TK XV bọn quý tộc phong kiến dùng tiếng Xanxcrit hay  các tiếng   Ấn khác nhau, còn nhân dân vẫn dùng ngôn ngữ  Mã Lai hay tiếng  Indonesia, ở VN có chữ Hán và chữ Nôm... Như  vậy, hiện tượng song ngữ  của các xã hội phong kiến đã chuyển   thành tài sản chung của các ngôn ngữ  Văn học dân tộc, nó tạo ra cơ  sở  đồng   nghĩa, phong cách diễn đạt phong phú, mang những sắc thái độc đáo, tế  nhị  của từng dân tộc quốc gia * Ngôn ngữ trong thời kỳ TBCN và XHCN ­Ngôn ngữ đã đạt đến đỉnh cao của sự  thống nhất do đòi hỏi phát triển   của xã hội. Sự hình thành ngôn ngữ dân tộc quốc gia đã kết thúc khuynh hướng ngôn   ngữ  nhân dân đang chiến thắng ngôn ngữ  văn học viết của nhà nước sau khi   đã bổ sung làm giàu cho ngôn ngữ ấy. VD: tiếng Nga thay cho tiếng Slavơ chung, tiếng pháp thay cho tiếng La tinh… ­Ngôn ngữ quốc gia dân tộc (tiếng phổ thông) đã được khẳng định, song   các phương ngữ, thổ  ngữ  vẫn tồn tại và có vị  trí, vai trò nhất định đối với  nhân dân các địa phương. Đó không chỉ là phương ngôn từ sự cát cứ của thời phong kiến mà còn là  hậu duệ của ngôn ngữ thời kỳ thị tộc, bộ lạc. Thực tế, trong thời kỳ đầu của  CNTB   thì   ngôn   ngữ   phổ   thông  là   ngôn   ngữ   ở   thành   thị,   còn  thổ   ngữ   hay  phương ngữ  là ngôn ngữ   ở  các vùng nông thôn. Sau đó, nhất là đến thời kỳ  XHCN phát triển thì hiện tượng này về nguyên tắc không còn được duy trì vì  lúc này thành thị và nông thôn đã phát triển như nhau. Nhưng nếu trong thực tiễn điều kiện XH chưa có bình đẳng trong lĩnh  vực VH, giáo dục thì ngôn ngữ dân tộc không đạt được lý tưởng của nó, tức là   chưa thể thành ngôn ngữ của tất cả mọi người trong quốc gia. Trong quá trình   này ngôn ngữ  DT ngày càng được bổ  sung phong phú hơn do nhu cầu phát  triển KH của đất nước. Điều đó cũng kích thích phương ngữ hay thổ ngữ phải 
  17. 17 tự  bổ  sung, làm giàu thêm vốn từ  vựng cổ  của mình bằng những từ  vựng và  phong cách mới. VD: ở nước ta ngôn ngữ của các DT thiểu số nếu muốn phát triển được  đều phải theo khuynh hướng chung đó. Việc sử  dụng thành thạo ngôn ngữ  dân tộc quốc gia sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất, hiệu quả nhất trong việc bổ  sung làm giàu cho ngôn ngữ  địa phương hay ngôn ngữ  của các dân tộc thiểu  số. 2.Sự hình thành và phân loại các ngữ hệ chính trên thế giới. *Ngữ hệ là gì: ­Khái niệm: ngữ hệ là một nhóm ngôn ngữ có quan hệ về nguồn gốc lịch sử,   được thể hiện trên các phương diện: từ vị cơ bản, ngữ pháp, thanh điệu và ngữ   âm. Ngữ hệ là một nhóm ngôn ngữ có chung nguồn gốc phát sinh từ một ngôn  ngữ gốc, còn gọi là ngôn ngữ mẹ hay ngôn ngữ cơ bản. Những ngôn ngữ  này   có chung một hệ thống ký hiệu và quy tắc kết hợp giống nhau. Giữa chúng chỉ  khác nhau về  phát âm và vốn từ  vựng, còn ngữ  pháp và hệ  thống âm vị  là  những bộ phận cơ bản của kết cấu ngôn ngữ, có thể  có sự  khác biệt, nhưng   rất ít. Trong nghiên cứu ngữ hệ, việc nghiên cứu từ vị cơ bản là rất quan trọng   nhất. Từ  vị  cơ  bản là các từ  chỉ  các hiện tượng, sự  vật tự  nhiên, các hoạt   động của con người trong đời sống từ  xa xưa đến nay như  trạng thái tình  cảm, thời tiết, quan hệ gia đình, các từ chỉ số đếm. ­Nguyên nhân hình thành các ngữ hệ: +Sự  hình thành các ngữ  hệ  liên quan đến sự  phân chia các khối cộng   đồng người, nên đồng thời cũng phân chia luôn thành các ngôn ngữ khác nhau   có cùng nguồn gốc.
  18. 18 Ngữ hệ ra đời từ một ngôn ngữ gốc do sự thiên di của các thị tộc, bộ lạc đến  các vùng khác nhau tạo thành các ngôn ngữ khác nhau có quan hệ thân thuộc với  nhau. Như vậy sự hình thành ngữ hệ có liên quan mật thiết đến nguồn gốc tộc   người. Khi người hiện đại Homo sapiens xuất hiện cách đây 4­5 vạn năm  cộng đồng thị  tộc, bộ  lạc ra đời. Do sự  phát triển không ngừng của công cụ  SX thì sự thiên di của thị tộc, bộ lạc ngày càng lớn, xu thế phân ly tộc người ở  thời kỳ này diễn ra mạnh mẽ do đó ngôn ngữ  tộc người bị chia tách theo các   tập đoàn người di cư, các ngôn ngữ  khác nhau do sự  cách biệt địa lý cả  về  không gian và thời gian với ngôn ngữ gốc, hình thành nên các nhóm ngôn ngữ  có quan hệ về nguồn gốc lịch sử gọi là các ngữ hệ. +Thời gian xuất hiện: các ngữ hệ xuất hiện vào thời kỳ CXNT, cách đây   13000 – 4000 năm. Như vậy ngữ hệ ra đời gắn liền với sự phân chia thị tộc, bộ lạc, một tập   thể  người nói một ngôn ngữ  bị  phân chia thành nhiều bộ  phận với phương   ngôn khác nhau, rồi phát triển thành các ngữ hệ khác nhau. * Cách phân loại ngôn ngữ và ngữ hệ trên thế giới Hiện nay trên thế giới chưa có một ngôn ngữ chung cho tất cả mọi người, mà   chỉ có những ngôn ngữ riêng, cụ thể của từng dân tộc. Cho đến nay có nhiều cách  phân loại ngôn ngữ dựa vào các tiêu chí bên ngoài như: số lượng người nói, chủng  tộc, ranh giới địa lý...Song cách phân loại khoa học và chính xác là phải dựa vào đặc  trưng ở ngay trong bản thân ngôn ngữ. Tựu chung lại có hai cách phân loại: ­Chia theo hình thái học (loại hình) Căn cứ  vào dấu hiệu cấu trúc cơ  bản của các ngôn ngữ  rồi sắp xếp lại  với nhau theo các loại hình. Chia ra: +Ngôn ngữ  đơn lập: còn được gọi là NN đơn tiết (Hán, Việt, Triều Tiên,   Nhật...)
  19. 19 Ngôn ngữ đơn lập không có trợ từ, các từ trong câu không biến thành số  ít, số nhiều, giống đực, giống cái...Các từ trong câu tách rời nhau. Trật tự các  từ trong câu quy định ý nghĩa của câu. Cấu trúc của câu tuân thủ chặt chẽ. VD: tiếng Việt, tiếng Hán: đi, ăn, cơm, các từ  đều có ý nghĩa riêng, khi  ghép lại theo các trật tự khác nhau cho ta ý nghĩa khác nhau. +Ngôn ngữ dính: Phần Lan, Mông Cổ... Là những ngôn ngữ có thành phần trợ từ. Mỗi một ý nghĩa của từ thường  được biểu hiện bằng một phụ gia nhất định. VD: tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, từ ev: căn nhà; ev ler: những căn nhà. A đam: đàn   ông, A đam lav: những người đàn ông. +Ngôn ngữ biến hình: biến cách (Nga, Pháp...) Thành phần phụ rất phong phú, phức tạp và mỗi phụ gia có ý nghĩa riêng  vừa biến cách, vừa chỉ số ít, số nhiều. VD: tiếng Anh; I, my, me; you, your; play, plays. +Ngôn ngữ đa thức tổng hợp (hỗn hợp): thổ dân châu Mỹ, TBN, BĐN, Anh... Ngôn ngữ này biểu hiện một tổng thể phức tạp, các câu hợp lại thành từ,  cơ cấu ngữ pháp phát ngôn cũng đồng thời là ngôn ngữ của từ. VD: tiếng Anh điêng: câu Inikviklisa có nghĩa là nhà có đám lửa nhỏ bốc   cháy. Đó là những từ được ghép lại: inikv: lửa, ikl: nhà, is: nhỏ, a: bốc cháy. Tóm lại có nhiều cách phân loại NN, nhưng cách phân loại theo theo cội  nguồn và theo loại hình là cách phân loại được nhiều người chấp nhận. ­Chia theo phổ hệ (còn gọi là phân chia theo dòng họ,theo cội nguồn):cơ   sở để phân chia ngữ hệ Dựa trên cơ sở so sánh nguồn gốc lịch sử tìm ra sự giống nhau về từ vựng,   âm tiết, ngữ  pháp của từng ngôn ngữ  để  quy các ngôn ngữ  giống nhau về  một  gốc. +Cách phân loại dựa trên cơ sở nguồn gốc chung của ngôn ngữ, từ một   nguồn gốc, một ngôn ngữ mẹ.
  20. 20 VD: từ ngôn ngữ Thái cổ đã phân chia ra nhiều ngôn ngữ khác nhau: Thái   đen, Thái trắng. +Phân loại theo phổ hệ người ta dùng phương pháp so sánh ngôn ngữ lịch sử   tìm ra sự giống nhau về từ vựng, âm tiết, ngữ pháp là những yếu tố bảo lưu lâu   dài. Chú ý: khi nghiên cứu so sánh phải tìm hiều kĩ lưỡng từ vựng, vì các ngôn ngữ  khi tiếp xúc với nhau dẫn đến sự vay mượn từ vị chứ không phải chung nguồn gốc. VD: tiếng Việt có hơn 70% từ Hán­Việt Việt  – Mường:  gà­ca,  gái­cải, gạo­cáo, gốc­cốc,  măng­băng, bếp­núc,  tre­pheo...Tiếng Việt: chim, tiếng khmú: xim;  * Các ngữ hệ chính trên thế giới: Phân loại ngôn ngữ là việc làm khá phức tạp. Hiện nay các nhà khoa học   tạm chia ngôn ngữ thế giới thành 20 ngữ hệ. Tuy nhiên có ngôn ngữ đã được   xếp vào ngữ  hệ, có ngôn ngữ  chưa được xếp vào ngữ  hệ  nào mà phải tạm   quy vào nhau hoặc để  thành một nhóm riêng như  tiếng Nhật và tiếng Triều   tiên. Theo danh mục công bố năm 1985, thế giới có các ngữ hệ chính sau: Ấn âu, Xemít­khamít, Hán tạng, Nam đảo, Nam á, Antai, Uran, Cáp ca dơ,  Trucốtxơ,   Nigherơ,   Ninxahara,   Côisan,   Thái,   Anđamăng,   papua,   Ôxtralia,  Eskimô, Anh điêng, Đaraviza và nhóm ngôn ngữ Anh điêng khác. Ấn âu có khoảng 2 tỉ  người gồm các nhóm  Ấn độ, Iran, Slavơ, Hi Lạp,   Ban tích, Giéc manh, Roman. Xe mít­kha mít có khoảng 200 triệu người gồm các dân tộc Ả­rập và một  số cư dân ở châu Phi. Hán tạng hơn 1 tỉ người gồm 2 nhóm chủ yếu là Hán ở Trung Quốc, Đài   loan khoảng 1,3 tỉ  người. Tạng miến (gồm người Tạng, người Miến  ở một   số nước châu Á) 70 triệu người. Ngữ chi Hán: Hoa, Sán chỉ, Sán dìu, Cao lan.  Ngữ chi Tạng miến: Tạng, Miến, Lôlô, Hà nhì.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản