intTypePromotion=1
ADSENSE

Đặc điểm lối sống của thanh thiếu niên dưới tác động của công nghệ thông tin-truyền thông

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:14

10
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trên cơ sở điều tra bằng bảng hỏi với 991 thanh thiếu niên có độ tuổi từ 11-30 đang sống và làm việc ở Hà Nội và Đà Nẵng về việc sử dụng các CNTT-TT , kết quả điều tra nghiên cứu cho thấy những thanh thiếu niên có hành vi sử dụng CNTT – TT một cách lạm dụng có những đặc điểm lối sống mang tính tiêu cực, không phù hợp với các chuẩn mực của xã hội và ngược lại. Mời các bạn tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đặc điểm lối sống của thanh thiếu niên dưới tác động của công nghệ thông tin-truyền thông

  1. ĐẶc điỂm lỐi sỐng cỦa thanh thiẾu niên dưỚi tác đỘng cỦa Công nghỆ thông tin - truyỀn thông ThS. Vũ Thu Hà PGS.TS. Phạm Mạnh Hà1 Tóm tắt: Lối sống của thanh thiếu niên (TTN) – đối tượng của giáo dục đã và đang bị tác động mạnh mẽ từ thói quen sử dụng công nghệ thông tin – truyền thông (CNTT-TT) của giới trẻ. Trên cơ sở điều tra bằng bảng hỏi với 991 thanh thiếu niên có độ tuổi từ 11-30 đang sống và làm việc ở Hà Nội và Đà Nẵng về việc sử dụng các CNTT-TT , kết quả điều tra nghiên cứu cho thấy những thanh thiếu niên có hành vi sử dụng CNTT – TT một cách lạm dụng có những đặc điểm lối sống mang tính tiêu cực, không phù hợp với các chuẩn mực của xã hội và ngược lại. Từ khoá: Thanh thiếu niên, Công nghệ thông tin truyền thông, Lối sống. 1. Đặt vấn đề Công nghệ thông tin - truyền thông nói chung và Internet nói riêng hiện nay đã trở thành một công cụ không thể thiếu đối với cuộc sống được thể hiện thông qua tốc độ tăng trưởng số người sử dụng Internet và các phần mềm ứng dụng. Trong một điều tra của We Are Social vào năm 2018 về tình hình phát triển Internet, truyền thông xã hội, kỹ thuật số và điện thoại di động ở châu Á thì số người dùng Internet Việt Nam hiện nay là 64 triệu người, và có đến 55 triệu tài khoản facebook. Trong số người dùng internet ở Việt Nam, những người trẻ tuổi dưới 35 chiếm đến 73%. Trung bình 1 ngày, một người dùng facebook ở Việt Nam sử dụng trung bình 2h37 phút để truy cập vào mạng xã hội [8]. Như vậy, có thể nói số người dùng Internet ở nước ta ngày càng gia tăng, đặc biệt là đối tượng thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên. Công nghệ thông tin đã đem lại tiện ích đối với đời sống xã hội như việc ứng dụng công nghệ thông tin nói chung và Internet nói riêng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Công nghệ thông tin – truyền thông đã có những tác động tích cực không thể phủ nhận đối với thanh thiếu niên như công nghệ thông tin đã làm con người trở nên năng động hơn, nhạy bén hơn, hiểu biết xã hội hơn. 1 Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN, ĐT: 0904.810.212; Email: hapm.psy@gmail.com.
  2. Kỷ yếu Hội thảo quốc tế 596 Các vấn đề mới trong khoa học giáo dục: tiếp cận liên ngành và xuyên ngành Bên cạnh những tác động tích cực của công nghệ thông tin – truyền thông chúng ta không thể không nói đến những ảnh hưởng tiêu cực của việc lạm dụng công nghệ thông tin – truyền thông đối với đạo đức, lối sống của một bộ phận thanh thiếu niên Việt Nam hiện nay. Khảo sát mới đây của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao cho thấy, trung bình mỗi năm có 10.000 vụ phạm pháp hình sự do người vị thành niên thực hiện. Lứa tuổi, tình trạng người phạm tội có xu hướng ngày càng trẻ hóa. Người phạm tội từ 18 - 30 tuổi chiếm khoảng 70%, dưới 18 tuổi chiếm 8% và chiều hướng trẻ hoá tội phạm ngày càng tăng cao [9]. Theo điều tra mới đây, từ Bộ Thông tin & Truyền thông cho thấy, thời gian truy cập Internet được nhiều em học sinh dành để chơi game trực tuyến và lướt web những trang có nội dung không lành mạnh chiếm gần 70% trong tổng số các máy truy cập net ở nước ta. Từ việc sử dụng công nghệ thông tin - truyền thông thiếu định hướng, thiếu kiểm soát đã gây ra nhiều hệ lụy không nhỏ tới đạo đức, lối sống, ứng xử của bộ phận giới trẻ, điều này đã và đang tạo ra những lo lắng cho các bậc cha mẹ, các nhà quản lý giáo dục và toàn xã hội. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Những tác động của công nghệ thông tin - truyền thông tới đối tượng thanh niếu niên ngày càng mạnh hơn và nếu chúng ta không kiểm soát được những tác động mang tính tiêu cực sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình giáo dục và hình thành phẩm chất, nhân cách, lối sống của thế hệ trẻ theo hướng mà xã hội không mong đợi. Chính vì lẽ đó, việc tìm ra mối liên hệ giữa việc sử dụng công nghệ thông tin – truyền thông của giới trẻ tới những đặc điểm lối sống của họ là một việc làm quan trọng và cần thiết hiện nay. 2. Một số khái niệm cơ bản Khái niệm “lối sống” Trong tiếng Anh, “Lối sống” được diễn đạt chủ yếu theo hai cách: “Way(s) of Life” và Way(s) of Living”. Ngoài ra khái niệm này còn được diễn đạt theo một số cách nói thông dụng như: “Life style” hoặc “Life form”. Phạm Hồng Tung cho rằng: “Lối sống của con người là các chiều cạnh chủ quan của văn hóa, là quá trình hiện thực hóa các giá trị văn hóa thông qua hoạt động sống của con người. Lối sống bao gồm tất cả những hoạt động sống và phương thức tiến hành các hoạt động được một bộ phận lớn hoặc toàn thể nhóm hay cộng đồng người chấp nhận và thực hành trong một khoảng thời gian tương đối ổn định, đặt trong mối tương quan biện chứng của các điều kiện sống hiện hữu và trong các mối liên hệ lịch sử của chúng” (Phạm Hồng Tung, 2011). Các định nghĩa về lối sống trên đây được các tác giả tiếp cận từ góc độ văn hóa học. Lối sống gắn liền với các đặc điểm văn hóa của cộng đồng và các giá trị văn hóa
  3. Phần 4. MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC CHỦ THỂ GIÁO DỤC 4.0 597 của cá nhân. Theo Lê Đức Phúc: “Lối sống là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ những hình thức hoạt động mang tính ổn định, đặc trưng cho cá nhân hay nhóm. Những hình thức này được quy định bởi trình độ nhận thức về lẽ sống cũng như điều kiện thỏa mãn những nhu cầu liên quan đến giá trị văn hóa (Lê Đức Phúc, 2009). Như vậy, có thể hiểu lối sống của thanh niên để chỉ cách thức sống của nhóm xã hội này, được thể hiện qua cách suy nghĩ và cách thực hiện các hoạt động sống có tính chất tương đối ổn định. Lối sống được quy định bởi các yếu tố chủ quan như: đặc điểm đạo đức, trình độ học vấn, giới tính, đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi… và các yếu tố khách quan như: đặc điểm môi trường sống, môi trường làm việc, và các điều kiện kinh tế - xã hội khác. Với những phân tích nêu trên, ta thấy lối sống cá nhân có mối quan hệ nhất định với những đặc điểm sinh học, cấu tạo cơ thể. Tuy nhiên những yếu tố tự nhiên này chưa đủ để giải thích về sự đa dạng của lối sống, cách cư xử của các cá nhân trong xã hội. Nguồn gốc nảy sinh, hình thành, định hình lối sống chủ yếu thông qua quá trình cá nhân xã hội hóa trong môi trường xã hội mà anh ta là thành viên. Lối sống của cá nhân được nảy sinh, hình thành và củng cố từ khi còn nhỏ ngay trong môi trường gia đình, môi trường xã hội hóa đầu tiên. Trong quá trình phát triển và trưởng thành, cá nhân tham gia vào các môi trường xã hội mới như nhóm bạn bè, nhà trường và cộng đồng, ở những môi trường xã hội này, cá nhân tiếp tục học hỏi những giá trị, chuẩn mực, đạo đức, lối sống đặc trưng của nhóm và biến chúng thành bản sắc riêng của mình thông qua hoạt động và giao tiếp. Trong hoạt động sống của mình, lối sống cá nhân được thể hiện trong các hoạt động cụ thể như lao động, học tập, giao tiếp ứng xử, vui chơi giải trí… Vì thế, khi nghiên cứu lối sống của con người chúng ta có thể nghiên cứu qua cách mà cá nhân bộc lộ ra ngoài qua các hoạt động chủ đạo như học tập, lao động, giao tiếp và quan hệ xã hội. Khái niệm “công nghệ thông tin - truyền thông” ICT là chữ viết tắt của Information and Communication Technologies (công nghệ thông tin và truyền thông), được hiểu là một “tập hợp đa dạng các công cụ và tài nguyên công nghệ được sử dụng để giao tiếp, tạo ra, phổ biến, lưu giữ và quản lý thông tin”. Các công nghệ này bao gồm máy tính, Internet, công nghệ truyền thông (đài và vô tuyến), và điện thoại. Trong số những thành tựu quan trọng nhất mà loài người đạt được trong thời gian gần đây, những phát triển nhảy vọt của các kỹ thuật truyền thông là một hiện tượng gây kinh ngạc và có những ảnh hưởng mạnh mẽ nhất. Bên cạnh sự cải tiến
  4. Kỷ yếu Hội thảo quốc tế 598 Các vấn đề mới trong khoa học giáo dục: tiếp cận liên ngành và xuyên ngành không ngừng về tốc độ, dung lượng và tính đa dạng, các phương tiện CNTT-TT tăng nhanh về kỹ thuật, chủng loại lẫn khả năng chuyển tải, lưu trữ thông tin. Những thay đổi ấy làm cho các phương tiện truyền thông có khả năng lan xa và thấm sâu, làm thay đổi cả bản chất của xã hội cũng như đời sống tâm lý, các chuẩn mực văn hoá và những thói quen của con người. Với những tiến bộ vượt bậc về khoa học, kỹ thuật, công nghệ, CNTT-TT ngày nay có những đặc điểm cơ bản như sau: Tốc độ thông tin nhanh, ranh giới bị xóa nhòa, dễ tiếp cận Một trong những thành tựu tiêu biểu của CNTT-TT đó là mạng Internet. Trên môi trường Internet con người có thể truy cập vào các kho tư liệu khổng lồ với một tốc độ nhanh chóng và dễ dàng. Thông tin nhanh chóng giúp cá nhân luôn được cập nhật những diễn biến xảy ra xung quanh mình và những nơi khác để từ đó định hướng hành vi ứng xử phù hợp, kịp thời nhưng nó một tác dụng ngược đó là khi thông tin đến quá nhanh trong khi chúng ta không đủ thời gian để xử lý thông tin xem đó có phải là thông tin thật hay không. Tính hấp dẫn, phong phú, khó kiểm soát Những ứng dụng trên môi trường CNTT-TT rất đa dạng và phong phú, đáp ứng được gần như đầy đủ nhu cầu thông tin, giải trí, giao tiếp, học tập của con người. Có thể nói CNTT-TT tạo ra kho tư liệu khổng lồ mà ở bất cứ đâu, thời gian nào chúng ta cũng có thể khai thác. Tuy nhiên, chính sự phong phú và đa dạng của các nguồn thông tin và các ứng dụng trong môi trường CNTT cũng tạo ra nhiều thách thức cho người sử dụng bởi bên cạnh những thông tin tốt, nội dung tốt, ứng dụng tốt đáp ứng các nhu cầu lành mạnh của con người thì vẫn còn tồn tại nhiều thông tin với nội dung không tốt cho sự phát triển nhân cách con người và xã hội. Điều này đòi hỏi người sử dụng phải có kỹ năng sử dụng và lựa chọn thông tin đúng đắn, có nhận thức đầy đủ những tác hại mà thông tin có thể mang lại cho mình thì mới có thể miễn nhiễm với những gì độc hại trên hệ thống CNTT-TT. Tính tương tác CNTT-TT tạo môi trường để các cá nhân có thể xây dựng được các kết nối với nhau một cách trực tuyến nhanh chóng, chính xác và tiện lợi mà không bị giới hạn ở biên giới quốc gia, giới tính, tuổi tác hay những khác biệt văn hóa. Khái niệm “thanh thiếu niên” Theo Liên hợp quốc1, thanh niên là những người trong độ tuổi từ 15 đến 24 tuổi. Những số liệu thống kê của Liên hợp quốc đối với thanh niên được dựa trên định nghĩa này, ví dụ như bản niên giám thống kê hàng năm của Liên hợp quốc về nhân 1 http://www.unesco.org/new/en/social-and-human-sciences/themes/youth/youth-definition/
  5. Phần 4. MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC CHỦ THỂ GIÁO DỤC 4.0 599 khẩu học, giáo dục, việc làm và sức khỏe. Chúng ta nhận thấy rằng thanh thiếu niên có thể được hiểu như là một giai đoạn chuyển tiếp từ sự phụ thuộc của thời thơ ấu đến sự độc lập tuổi trưởng thành. Đó là lý do nhóm tuổi thanh niên có đặc điểm tâm lý dễ thay đổi hơn các nhóm tuổi cố định khác. Số tuổi là cách dễ nhất để xác định nhóm này, đó là những công dân từ 11 – 30 tuổi. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng cách tính tuổi dựa vào Luật Thanh niên cụ thể: Thanh thiếu niên Việt Nam là những công dân Việt Nam từ 11 tuổi đến 30 tuổi. Thanh thiếu niên có những đặc trưng tâm lý, nhân cách riêng có so với những lứa tuổi khác và được hình thành, bộc lộ ra bên ngoài thông qua các hoạt động chủ đạo của họ tiến hành trong hiện thực khách quan. 3. Tác động của công nghệ thông tin và truyền thông tới đạo đức lối sống của thanh thiếu niên 3.1. Phương pháp nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu Để thực hiện nghiên cứu, với số lượng mẫu được ấn định từ trước là 1000 người, chúng tôi lựa chọn phương pháp lấy mẫu phân tầng để đảm bảo đại diện cho mỗi nhóm. Ở tầng 1, chúng tôi lựa chọn 2 thành phố lớn, một đại diện khu vực phía bắc là Hà Nội và một đại diện khu vực miền Trung là Đà Nẵng. Ở mỗi địa phương chúng tôi xác định lấy 500 mẫu. Ở tầng 2, tại mỗi địa phương chúng tôi lựa chọn 2 địa bàn nghiên cứu là một quận nội thành, đại diện cho khu vực đô thị phát triển, nơi tập trung nhiều thanh thiếu niên là học sinh, sinh viên, người đi trong các công ty, doanh nghiệp, hai là một huyện ngoại thành nơi tập trung nhiều học sinh ngoại thành, thanh niên lao động trong các khu công nghiệp, hoặc sản xuất nông nghiệp, phi nông nghiệp tại gia đình. Ở mỗi khu vực chúng tôi lấy mẫu là 250 phiếu. Ở tầng 3, chúng tôi tiến hành lấy phiếu điều tra dựa trên các tiêu chí như độ tuổi, giới tính, công việc hiện tại... Ở mỗi tiêu chí chúng tôi tiến hành lấy mẫu theo phương pháp bóng tuyết ở khu vực tập trung nhiều trường đại học, cao đẳng, khu công nghiệp... Sau khi các điều tra viên (đã được tập huấn về phương pháp lấy mẫu) ở các địa phương tiến hành điều tra bằng phương pháp bảng hỏi và thu phiếu về được 991 phiếu đảm bảo các yêu cầu về thông tin để tiến hành xử lý số liệu và phân tích. Dưới đây là một thông tin về khách thể nghiên cứu sau khi đã được xử lý sơ bộ. Về giới tính, với số lượng là 991 khách thể trong đó nữ giới là 560 người, chiếm 56.7%, nam giới là 428 người, chiếm 43.3%.3 người không trả lời. Về độ tuổi từ 11 – 16 chiếm 42,1%; từ 16 – 23 chiếm 31,3%; và từ 23 – 30 là 26,6%. Trong cố 991 phiếu, Có 703 khách thể đang là học sinh, sinh viên chiếm 70.9%; 94 người đang chờ việc làm chiếm 9,5%; 194 khách thể đang đi làm chiếm 19,6%.
  6. Kỷ yếu Hội thảo quốc tế 600 Các vấn đề mới trong khoa học giáo dục: tiếp cận liên ngành và xuyên ngành 3.2. Lối sống của thanh thiếu niên dưới tác động của công nghệ thông tin – truyền thông Để xác định được CNTT-TT đã tác động tới đạo đức, lối sống TTN theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực là điều không hề đơn giản. Bởi lẽ để nhận định hệ giá trị đạo đức, lối sống của ai đó là chưa tích cực, hay chưa phù hợp không thể theo ý muốn chủ quan mà cần dựa vào quan điểm, thái độ xã hội về giá trị đạo đức, lối sống trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Các giá trị đạo đức được hình thành qua hoạt động thực tiễn và hoạt động thực tiễn chính là nơi bộc lộ rõ nhất những giá trị đạo đức, lối sống của con người. Ở lứa tuổi TTN, trong vô số những hoạt động thực tiễn mà họ thực hiện thì hoạt động học tập, lao động, quan hệ xã hội và giao tiếp vẫn là những hoạt động chủ đạo, là nơi bộc lộ rõ nét nhất những giá trị đạo đức mà cá nhân học được qua thực tiễn. Và để làm rõ những giá trị đạo đức, lối sống của TTN hiện nay có chịu sự tác động của CNTT-TT hay không, trước hết, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về hành vi sử dụng CNTT-TT của TTN hiện nay và sau đó lấy kết quả này để xác định mối quan hệ qua lại giữa đặc điểm hành vi sử dụng CNTT-TT với các đặc điểm của lối sống TTN thể hiện qua 3 hoạt động chủ đạo là giao tiếp, lao động, học tập và trách nhiệm xã hội. Về mức độ lạm dụng CNTT – TT của TTN hiện nay, chúng tôi đã sử dụng bảng tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện internet của Young (1996) (Internet addiction Diagnostic Questionnaire – IADQ) để xác định tỉ lệ lạm dụng CNTT-TT. Trong nghiên cứu này, chúng tôi có thay một số thuật ngữ để có được bản test phù hợp. Sau khi tổng hợp các kết quả trả lời của TTN, chúng tôi thu đươc kết quả như sau: Về tỉ lệ lệ thuộc vào CNTT-TT của TTN có đến 14,5% TTN, 54% có dấu hiệu và chỉ có 31,5% không lệ thuộc internet. Khi so sánh về độ tuổi chúng tôi thấy cũng nhận thấy sự khác biệt khá rõ. Ở nhóm tuổi thiếu nhi, tỉ lệ lệ thuộc CNTT-TT chỉ là 10,1%, nhóm tuổi đầu thanh niên có tỉ lệ này là 13,2% và ở nhóm tuổi thanh niên, tỉ lệ lạm dụng tăng vọt với 22,4% (p
  7. Phần 4. MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC CHỦ THỂ GIÁO DỤC 4.0 601 lối sống của mình trong hoạt động thực tiễn. Bằng kiểm định t.test giữa hai biến số độc lập, chúng tôi nhận thấy có những đặc điểm như sau: Bảng 1. So sánh giá trị trung bình giữa hai nhóm TTN với lối sống biểu hiện trong học tập và lao động trong mối quan hệ với việc sử dụng công nghệ thông tin – truyền thông Mức độ Độ lệch Sai số N Mean hoàn thành chuẩn chuẩn Luôn chấp hành mọi quy Không lệ định, quy tắc của cơ quan, 299 2.58 .571 .033 thuộc trường học Luôn phấn đấu trong công Hoàn toàn lệ việc, học tập để đạt kết quả 132 1.88 .820 .071 thuộc cao nhất Tham gia tích cực vào hoạt Không lệ động của lớp/cơ quan/ 299 2.50 .576 .033 thuộc trường học Sẵn sàng đảm nhiệm những Hoàn toàn lệ công việc khó khăn khi được 129 1.62 .652 .057 thuộc giao Luôn đấu tranh cho quan Không lệ 296 2.69 .507 .029 điểm của mình đến cùng thuộc Luôn chấp hành mọi quy định, quy tắc của cơ quan, Hoàn toàn lệ 132 1.97 .771 .067 trường học thuộc Luôn phấn đấu trong công Không lệ việc, học tập để đạt kết quả 299 2.33 .635 .037 thuộc cao nhất Tham gia tích cực vào hoạt Hoàn toàn lệ động của lớp/cơ quan/ 132 1.83 .830 .072 thuộc trường học Không lệ Sẵn sàng đảm nhiệm những 299 2.26 .644 .037 thuộc công việc khó khăn khi được giao Hoàn toàn lệ 132 1.89 .713 .062 thuộc Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy ở TTN không lạm dụng CNTT-TT trong cuôc sống có xu hướng lựa chọn lối sống tích cực nhiều hơn hẳn so với nhóm TTN có mức độ lạm dụng CNTT-TT cao. Cụ thể, với hành vi “luôn chấp hành mọi quy tắc, nội quy của cơ quan, trường học” thì nhóm TTN không lạm dụng CNTT-TT có biểu hiện rõ hơn với điểm TB là 2,58 so với điểm TB của nhóm TTN lạm dụng CNTT-TT là 1,88, đặc biệt sự khác biệt trung bình này có ý nghĩa thống kê khi pvalue
  8. Kỷ yếu Hội thảo quốc tế 602 Các vấn đề mới trong khoa học giáo dục: tiếp cận liên ngành và xuyên ngành
  9. Phần 4. MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC CHỦ THỂ GIÁO DỤC 4.0 603 thấy rõ hơn sự khác biệt này. Cụ thể với hành vi không tranh cãi, gây mất đoàn kết, nhóm TTN không lạm dụng CNTT-TT có biểu hiện rõ nét hơn với điểm TB là 2,58 trong khi đó nhóm lạm dụng có điểm TB chỉ là 1,88 (mức có biểu hiện nhưng không rõ), hơn nữa với p.value
  10. Kỷ yếu Hội thảo quốc tế 604 Các vấn đề mới trong khoa học giáo dục: tiếp cận liên ngành và xuyên ngành không lạm dụng là 2,57 và nhóm lạm dụng là 2,52; hay “Sống biết lựa thời để thành công với điểm trung bình tương ứng là 2,39 và 2,54. Điều khá bất ngờ đó là qua kiểm định T.test chúng tôi nhận thấy nhóm TTN lạm dụng CNTT-TT lại có mối quan tâm nhiều tới tình hình đất nước so với nhóm không lạm dụng. Điểm TB tương ứng là 2,0 và 2,09 (p.value
  11. Phần 4. MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC CHỦ THỂ GIÁO DỤC 4.0 605 Bảng 2. So sánh điểm trung bình giữa hai nhóm về biểu hiện lối sống thể hiện tính trách nhiệm xã hội Độ Sai số Lối sống Mức độ lệ thuộc N TB lệch chuẩn chuẩn Không lệ thuộc 299 2.68 .604 .035 Không tham gia các hoạt động của các tổ chức trái pháp luật Hoàn toàn lệ 132 2.58 .618 .054 thuộc Tích cực thực hiện các hoạt Không lệ thuộc 299 2.21 .627 .036 động thiện nguyện vì cộng đồng Hoàn toàn lệ 132 2.39 .575 .050 thuộc Luôn tránh liên quan đến Không lệ thuộc 299 2.49 .610 .035 những rắc rối, phiền phức (chính trị/pháp luật) Hoàn toàn lệ 132 2.26 .684 .060 thuộc Luôn đặt mục tiêu bằng mọi giá Không lệ thuộc 299 1.98 .719 .042 phải kiếm được nhiều tiền để cuộc sống được tốt hơn Hoàn toàn lệ 132 2.25 .658 .057 thuộc Luôn dành thời gian để cập Không lệ thuộc 299 2.08 .731 .042 nhật tin tức về an ninh, chính Hoàn toàn lệ trị, kinh tế của đất nước 132 2.40 .697 .061 thuộc Luôn bắt kịp xu hướng mới học Không lệ thuộc 296 1.95 .706 .041 hỏi được từ nước ngoài/trên Hoàn toàn lệ mạng xã hội 132 2.32 .713 .062 thuộc Không lệ thuộc 143 2.29 .812 .068 Thỉnh thoảng có vi phạm luật giao thông Hoàn toàn lệ 114 2.32 .779 .073 thuộc Đối với hành vi thể hiện lối sống tích cực như không tham gia các hoạt động của các tổ chức trái pháp luật, nhóm không lạm dụng CNTT biểu hiện rõ hơn với điểm TB là 2,68 so với nhóm lạm dụng CNTT là 2,58; Dành thời gian để cập nhật tin tức của đất nước thì nhóm lạm dụng CNTT lại biểu hiện rõ hơn với điểm TB là 2,39 so với 2,21 của nhóm còn lại. Với hành vi tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện thì nhóm không lạm dụng CNTT-TT biểu hiện rõ hơn với điểm TB là 2,49.
  12. Kỷ yếu Hội thảo quốc tế 606 Các vấn đề mới trong khoa học giáo dục: tiếp cận liên ngành và xuyên ngành Đối với những hành vi biểu hiện lối sống tiêu cực, nhóm TTN lạm dụng CNTT có biểu hiện rõ hơn, cụ thể: Hành vi học đòi các xu hướng từ nước ngoài biểu hiện rõ ở nhóm lạm dụng CNTT với điểm TB là 2,32 so với nhóm không lạm dụng là 1,95; hành vi vi phạm luật giao thông của nhóm lạm dụng cũng nhiều hơn hẳn với điểm TB là 2,25 so với 1,98 của nhóm còn lại. Qua phân tích trên có thể dễ dàng nhận thấy nhóm không lạm dụng CNTT-TT dành nhiều thời gian để tham gia các hoạt động ngoài cộng đồng nhiều hơn so với nhóm lạm dụng. Đây là một minh chứng cho thấy việc sử dụng CNTT-TT có ảnh hưởng mạnh mẽ tới xu hướng đạo đức và lối sống của TTN. Như vậy, có thể nói việc sử dụng CNTT-TT của TTN có mối tương quan chặt chẽ với xu hướng lối sống, theo đó những TTN lệ thuộc quá mức vào CNTT-TT thường có các giá trị đạo đức và lối sống tiêu cực, đi ngược lại với mong muốn chung của xã hội. Do đó, cần phải tìm ra được những yếu tố có ảnh hưởng quan trọng tới hành vi sử dụng CNTT-TT của TTN và những cơ chế tác động của nó. Kết quả nghiên cứu này là căn cứ quan trọng để chúng ta đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm tăng cường tính tích cực của CNTT-TT tới đạo đức, lối sống TTN và giảm thiểu những tác động tiêu cực của nó. 4. Kết luận và kiến nghị Tác động CNTT-TT tới đạo đức, lối sống của TTN là tác động gián tiếp thông qua hành vi sử dụng thiết bị. Mức độ lạm dụng CNTT-TT là nhân tố làm biến đổi những giá trị đạo đức, lối sống. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy xét ở mặt bằng chung chúng ta thấy đa phần TTN đều thể hiện được những giá trị đạo đức phù hợp với mong muốn chung của xã hội, chỉ một bộ phận không nhiều TTN lựa chọn một số giá trị phản đạo đức làm kim chỉ nam cho hành động của mình. Có thể nói, CNTT-TT thông qua hành vi sử dụng của TTN đã có mối quan hệ chặt chẽ tới xu hướng đạo đức và lối sống của các bạn TTN, theo đó các bạn TTN nào lạm dụng CNTT-TT thì xu hướng đạo đức, lối sống biểu hiện nhiều ở góc độ tiêu cực. Trong khi những TTN có lối sống tích cực như không tham gia vào các tổ chức chống đối, vi phạm pháp luật, hay tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện thường rơi vào nhóm không lạm dụng CNTT. Như vậy, thực tiễn cho thấy hành vi sử dụng CNTT-TT của TTN có mối quan hệ nhân quả tới đặc điểm, lối sống của TTN biểu hiện ở các mặt hoạt động của họ trong cuộc sống.
  13. Phần 4. MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC CHỦ THỂ GIÁO DỤC 4.0 607 Khuyến nghị Gia đình là môi trường giáo dục quan trọng trong việc định hướng, phát triển các giá trị đạo đức và lối sống TTN. Chỉ khi nào TTN học được từ gia đình những giá trị đạo đức, lối sống tốt đẹp, thì lúc đó các em mới có đủ sức đề kháng lại trước những tác động xấu của môi trường xã hội, trong đó có những tác động tiêu cực của CNTT-TT. Về phía nhà trường, cần khuyến khích thanh thiếu niên sử dụng những thế mạnh của công nghệ thông tin – truyền thông vào hoạt động một cách hiệu quả, hướng dẫn các bạn cách sử dụng, khai thác và nghiên cứu nguồn tài liệu vô hạn trên internet; hướng dẫn họ biết cách chọn lọc những thông tin có ích, có giá trị để tiếp thu lĩnh hội, đồng thời giúp nhận biết những thông tin sai lệch, thông tin giả... để phòng ngừa. Qua các hoạt động ngoại khoá, nhà trường khuyến khích học sinh, sinh viên tham gia tích cực vào các hoạt động này, đồng thời phát huy thế mạnh của các em trong việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin để hoạt động thêm hiệu quả và hấp dẫn. Qua đó giúp học sinh, sinh viên hứng thú hơn với các hoạt động nhà trường và giảm bớt sự lệ thuộc vào các hoạt động trực tuyến khác. Tài liỆu tham khảo 1. TS. Trịnh Hòa Bình “Dịch vụ trò chơi trực tuyến ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế (năm 2010”) của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. 2. Trần Thị Minh Đức, Lê Thị Thanh Thủy và Kiều Anh Tuấn ( 2013), Game bạo lực với thanh thiếu niên: Phân tích từ góc độ tâm lý xã hội. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 3. PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hà (2006), “Tác động của Game online tới Thanh thiếu niên” của làm chủ trì, tiến hành năm 2006. 4. Phạm Minh Hạc, Thái Duy Tuyên (2015), Định hướng giá trị con người Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập (Tái bản lần 2). NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội. 5. Lê Đức Phúc (2009), Tâm lý học Văn hoá, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 6. Phạm Hồng Tung (2011), Thanh niên và lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế. NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội. 7. Luật Thanh niên (2005), Luật số 53/2005/QH11 8. https://digitalreport.wearesocial.com/
  14. Kỷ yếu Hội thảo quốc tế 608 Các vấn đề mới trong khoa học giáo dục: tiếp cận liên ngành và xuyên ngành 9. http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=81&NewsId=412179 10. Eziaku K. Ukoha, Media violence and violent behavior of Nigerian youths: Intervention strategies, Nigerian education Research and Development Council. 11. Blacke Te’Neil Lloyd, Media influence on identity formation and social competence: Does music video impact adolescent development? Dissertation in education 2000 12. The psychology of the Internet, Wallace, PatriciaCambridge University Press, 2001 13. Savahl, Shazly; September, Roseline; Odendaal, Willem, Information and communication technology: A descriptive study of children’s communication patterns. South African Journal of Psychology, 2008 14. Gordon M. Hart; Effects of Video Game on Adolescents and Adults; Cyberpsychology & Behavior 12 (2009). 15. Patricia M. Wallace, The psychology of the internet, NXB Đại học Cambridge – Anh, 1999. 16. Ma. Regina M. Hechanova and Jennifer Czinca; Internet addiction in Asia: Reality or Myth?; http://www.idrc.ca. 17. Kimberly Young, Cristiano Nabuco de Abreu (4/2010), Internet addiction: A Handbook and guide to Evaluation and Treatment; John Wiley & Sons, Inc. 1818  Management in the 1980’s, Harold J. Leavitt and Thomas L. Whisler, Harvard Business Review, 1958-11. The lifestyle of young people is affected by the use of ICTs Abtracts: The lifestyle of young people is affected by the use of ICTs. Research conducted on 991 young people living in Hanoi and Danang. Research results: Young people who abuse ICT often have a standard deviation lifestyle Keyword: youth; ICTs, lifestyle.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2