intTypePromotion=3

Dân ca các dân tộc Pu Péo, Sán Dìu, Dao, Lô Lô, Cao Lan: Phần 2

Chia sẻ: ViDili2711 ViDili2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:439

0
57
lượt xem
0
download

Dân ca các dân tộc Pu Péo, Sán Dìu, Dao, Lô Lô, Cao Lan: Phần 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nối tiếp phần 1, phần 2 của tài liệu "Dân ca các dân tộc Pu Péo, Sán Dìu, Dao, Lô Lô, Cao Lan" tiếp tục trình bày các nội dung chính sau: Dân ca Dao, đôi nét về dân tộc Dao và dân ca Dao, xịnh ca Cao Lan, dân ca trong lễ hội Lô Lô,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Dân ca các dân tộc Pu Péo, Sán Dìu, Dao, Lô Lô, Cao Lan: Phần 2

  1. DÂN CA DAO sưu tầm, biên dịch ĐỖ QUANG TỤ - NGUYỄN LIEN
  2. ĐÔI NÉT VÈ DÂN TỘC DAO VÀ DÂN CA DAO xếp theo thứ tự số lượng dân số, dân tộc Dao đứng hàng thứ chín sau các dân tộc Kinh (Việt), Tày, Thái, Hoa (Hán), Khmer, Mường, Nùng, M ông(l); và cư trú trên các địa bàn sau đây: Tây Bắc: Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái. Đông Bắc: Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên. Trung du: Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Tây. Tây - Nam Bắc Bộ: Hòa Bình Duyên Hải: Quảng Ninh Bắc Trung Bộ: Thanh Hóa Người Dao thuộc hai nhóm lớn Kiềm M iền (Đại Bản, Tiểu Bản) và Kìm Mùn (Làn Tẻn, Quần Trắng) sinh sổng tập trung và xen kẽ ở các địa bàn kể trên. Riêng ngirời Dao Bình Đầu (nhóm Làn Tẻn) chi hiện diện ở Lai Châu; người Dao Tuyển (Làn Tẻn) có mặt đông đúc nhất ở Lào Cai, Hà Giang và Tuyên Quang. Từ năm 1936, đồng bào Dao, tiêu biểu là các tiếu nhóm n> Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ờ Việt Nam năm 2009, người Dao có 75 ] .067 người (đứng hàng thứ 9). 313
  3. Đại Ban, Tiều Bàn Cao Băng đã sớm tham gia cách mạng do Đ ảne C ộn 2 sản Đ ông Dương lãnh đạo và thời gian liếp theo đã cùng toàn dân V iệt N am nhất tề đứng dậy khởi nẹhTa giành chính quyền, lập ra nước V iệt Nam dân chủ cộnghòa , ' Kinh qua hai cuộc kháng chicn chống thực dân xâm lược Pháp và chốne. Mỹ cứu nước thốns nhât Tô quôc, xây dưng chu nghĩa xã hội, dồng bào Dao đã vươn lên, liến những bước dài trong sự nghiệp phát triển cuộc sông vật chất và tinh thần. Dân tộc Dao là dân tộc yêu thích văn thơ và giỏi ca ngâm. Nam giới “Phiêu chòi” chuyên làm thơ tôn vinh lliần thánh gia tiên, thơ nghicm huấn răn dạy con cháu và khuvên thiện xã hội: thơ ca ngợi eiang sơn gấm vóc. Thế hệ “Phiêu chòi đương đại” nối sót “Phiêu chòi truyên thông’- kế thừa tinh hoa văn học dân gian đã sáng tác nhiều trường thi, đoản thi ca ngợi Tổ quốc Việt Nam , Đ ảng Cộng sản và lãnh tụ anh minh. Thơ nừ giới đằm thám yêu thương, dạt dào khát vọng vượt lên sô phận, nhất mực thủy chung trong tình yêu - hôn nhân và quan hệ xã hội. Trước Cách m ạng tháng Tám , nữ giới không có điều kiện học chữ Dao - Hán nên sáng tác theo cam xúc. được ý nào, câu nào thì “giữ kỹ trong đầu óc” và “chôn chặt trong tim ” đợi khi có dịp là đem ra biểu đạt qua hát cưới, hát giao duycn sau lúc nông nhàn. Chị em nào xuất thân gia tộc Phiêu chòi hoặc dòne họ Pháp sư, thì có nhiêu cơ hội “học lỏm ” ông cha rồi truyền lại cho bạn bè đồng quê hương. 314
  4. Từ Cách mạng tháng Tám trở về đây, nữ giới ngày càng thông thạo quốc ngữ, biết sử dụng chừ quốc ngữ làm công cụ diễn tả nội tâm. Các bà các chị làm thơ động viên nhau sản xuất, dũng cảm gánh vác việc bản, việc nhà đê chông con yên tâm dánh giặc ngoại xâm. Song giữa hai giới có một chút khác biệt: nam giới sáng tác thơ đê hát và “tộ” (tức ngâm đọc). Nữ giới làm vãn vần để hát. Họ không ngâm ngợi như cánh mày râu. Và họ cũng không nhận mình là người làm thơ; danh tử thi sĩ thi nhân đối với họ hoàn toàn xa lạ. c ầ n chỉnh sửa bài văn vần, họ dùng cách nhâm hát để thực hiện. Người Dao rất cảm kích trước sự quan tâm đầy đù của Nhà nước về văn hóa dân tộc nói chung và ca hát nói riêng. Văn hóa văn nghệ Dao được trình diễn trên khăp mọi miên đất nước, được trân trọng bảo vệ và phát huy giá trị toàn diện. Có ai hỏi tại sao nền thơ ca Dao dành đạt thành tựu nổi bật như thế, đồng bào Dao rất tự hào và chân thành bộc bạch: - Từ xa xưa người Dao đã đặc biệt coi trọng ca hát, cổ nhân từng nói: “Nơ - hắng dấm, nơ - hắng co, diệu nơ - hắng hồng” nghĩa là “năng uống, năng hát, lại năng hồng” ; hồng là biểu tượng của hạnh phúc, tình yêu, hôn nhân, thịnh vượng. “Không ca biếng hát cũng là già” - Căn cứ vào sự tích Bàn Vương, nhóm Dao Kiêm Miền khăng định: Chính bà Lưu Tam là người có công làm ra “nghìn ca khúc” để truyền dạy nhân dân mà điệu hát là Páo Dung. Có vùng quả quyết bà là vợ ông Bàn Vương; có nưi quan niệm bà là tiên nữ giáng trần. 315 I
  5. Khi ra khỏi nhà, xóm bản, quê hương, người D ao có hai điều phòng thân: - Phòng gậy - Phòng lời Phòng gậy tức là kiếm gậy tốt đi đường, gậy chống đất giúp người lấy đà leo dốc, hãm trụ khi xuống dôc. Gậy còn là vũ khí chặn ngăn thú dữ. Gậy là bạn đường đáng tin cậy của khách lừ hành. Phòng lời để chủ động giao tiếp, giao lưu; sẵn sàng hưởng ứng cuộc chơi, cuộc hát m à không bị động. Hát cho hay, cho sắc sảo để kết nghĩa bạn bè, để tự tôn bản thân và vinh danh dòng họ quê hương. Người Dao khá nghiêm khắc đối với hiện tượng xa chệch dòng “Co sang” (Ca xướng) truyền thống: - Cợt nhả vô lối “ Sàng ca pậy nắng quỷa súi túa Ọuỷa liu súi tuông bêu tũa pin” H át cợt nhả như chống g ậ y khảm nước Qua nước rồi, vứt bỏ gậy đi. - Trống bỏi vô luân “ Lô vìa chỉng tong tạp pẹ huấn Lồ liủ di - ậm toong hó phủi lìn” Lúa cũ không giã được nên bột Già rồi không p h ả i tuổi hát chơi Vi đặc trưng của hát chơi là giao tình nam nữ. - Xỏ xiên - gây chuyện - xấc xược 316
  6. Biết người đi đường là bậc trung niên mà cô gái vẫn buông lời: “Anh đi đâu bảo em biết nào ” Người đàn ông đứng tuổi hát trả tức thì: “Ổng cỏ síp miến suông đô duẩn Bủa mụi công cồng cán chau công Bủa mụi công cồng cán nhiếp mía Nhap văng mậy con mậy nhỉa nhồng” Bo đi củng ma khe sâu về Bảo con cố cúi làm cỏ nương Báo con củi cúi cổ làm cỏ Có quang goc ngô. ngô ra hoa Câu cuối nói thanh mà ý tục. Vì vậy, người ta quy định hai loại “Co sang” (Ca xướng) cơ bản: - Xã hội: hát ngoài đời - Nghi lễ: thánh ca tại lễ đàn Trong hai loại cơ bản, lại chia ra nhiều thể loại căn cứ vào mấy tiêu chuẩn chính: - Nội dung chù đề - Đối tượng phục vụ Ví dụ: Phục vụ xã hội: * Hà Giang có: - Phây quyển dưng: hát về tình yêu - Chíp khé dung: tiếp đón khách - Hốp tíu dung: mời rượu 317
  7. - Phúng khé dung: tiễn khách - Giáo miền dung: răn dạy người - Cô hàn dung: than mồ côi * Thái Nguyên có: -T ồ n tòi doi lủng: hát giao duyên nam nữ - Páo dune hợp tíu: hát khi uống rượu - Mài pi ảo tôn tòi: dùng cho người đã thành gia thât - Hão ton: hát ru - Lồ sấy: ru con * Lào Cai có: - Hát cưới Dao Tuyển: vàn an dung - Hát cưới Dao Đỏ: sình cha lầy * Yen Bái có: - Hát cưới Dao Trắng - Páo a dẻo: hát chơi của ngưòi lớn và trỏ em - Páo phây - Xứ de: ứng xử - Dung om: hát đô Phục vụ nghi lê: * Tuycn Quang có: - Tom đàng dung: hát lễ Châu Đàng lớn - Piền hùng sâu co: hát cúng Bàn V ươns * Lào Cai có: - Um cú dung: hát cúng hồn lúa và ngũ cốc khác - Chà phin dung: thỉnh mời gia tiên 318
  8. * Yên Bái có: - Sài dung: hát tưởng nhớ gia tiên trong lễ làm chay - Châu đàng dung: thánh ca Bàn Vương - Tẩu pi - àng dung: chuộc vía cho trẻ em Người Dao gọi chung ca hát là “co sang” theo tiếng chữ là ca xướng, tiếng thường là “dung” có phân biệt: - Páo dung: ca hát cùa Dao Kiềm Miền bao gồm Đại Bản, Tiểu Bản. - Áy dung: ca hát của Dao Kìm Mùn bao gồm Dao Làn Tên, Quần Trẳng, Binh Đầu. Ca là hát lên từ một bài văn vẩn 6 từ (lục ngôn), 7 từ (thất ngôn) với sô lượng câu dòng không hạn định. Không có ký âm, không có nhạc cụ đệm, trừ Tồng lình nhỏ (chuông đồng) sử dụng ở lễ đàn khi “lạ m icn” (chicu thần). Páo dung, Áy dung là danh từ chỉ ca hát ngoài xã hội. Bài ca lề nghi gọi tăl là “ Dung”. “Sang” (xướng) trong tiếna Dao đồna nghĩa với "Tộ" (đọc) nhưng có ngân nga, cao giọng. Có nơi dùng cụm lừ “Hấp tíu dúng” (hát uống rượu) dể định nghĩa “ Sang” là nghệ thuật đọc và ngâm, “Sang" thường dùng tại nghi lỗ tín ngưỡng và giới hạn trong tầng lớp "phiêu chòi” khi đọc sách vãn chươns. “ Sang" phù hợp với thể thơ 3, 4, 5 từ. “Lạ m iên” (chiêu thần) vận dụns thể thơ 3, 4, 5 từ tương tự Đông dao của người Kinh. Điệu Lạ miên cũng được người già, trẻ em dùng khi đọc tam. tứ. neìi tự kinh vi nó dồn dập sống dộng. Một số nhạc gia cho biết: Qua ký âm hóa Páo dung, điều 319
  9. dễ cảm nhận là ca điệu Páo dung ít phong phú vê âm điệu, âm giai. Hiệu quả chuồi âm thanh rất hạn chê vê phương diện âm sắc và âm vực, tạo ra nhạc điệu trầm giãi. Páo dung chỉ thu hút người nghe chủ yếu từ ngôn từ văn học. Xin giới thiệu cùng bạn đọc m ột số bài Co sang truyên thống và hiện đại của hai nhóm Dao K iềm M iền và Kìm Mùn bước đầu sưu tầm ở các tỉnh Yen Bái, Lào Cai, Hà G iang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái N guyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, H òa Bình, Sơn La, Lai Châu m à 60% là “Co sang” Yên Bái, thuộc hai loại cơ bản xã hội và nghi lễ. Thơ và dân ca cổ hầu hết không có tên bài. Noi gương tác giả Dao đương đại, các vị Chủ thư và Phiêu chòi đã sử dụng mấy từ chủ đề của từng bài để đặt tên. Tên riêng của các bài trong sách này là kết quả chọn lựa giữa nhà sưu tầm và người cung cấp. T ÌN H V À C Ả N H N H Ụ T TÀU TÔ N G KHÓI N hụt tàu tông khói sa chiều choáng Chùn tuông súi m ịn sởi sinh dơm Phàn dĩ hùng là vần chang pụa Phicu chòi tài sới kít mầu phiêm. Dịch: Mặỉ trời biển Đ ông soi khắp bãi M ặt nước thuyền trôi, sóng động thuyền 320
  10. Ba tấc chỉ hồng văn chương dệt Tú tài nhập cuộc dạ vô tâm. (Trích từ sách “Páo dung sâu” của người Dao Tiền xã Toàn Sơn, Đà Bắc, Hòa Binh). CO SAI CO SÍN Quà goi chạu tàu síu phiểm ti - eng Chào sâu ấy sấu sâu dầm tủ Co sai co sín chỉm niêm niêm Meng dăm chúi phẩn cùn nìn sẩy. Dịch: Hoa nở trên cây lòng vui thích Giơ tay muốn lấy, lấy chẳng được Kẻ đẩy người đây dạ vấn vương Số mệnh không cùng, chỉ hoài thương. (Ghi theo người Dao Bỉnh Đầu xã Hồ Thầu, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu). H ự u PHONG YẾN CA DI ÂU PỎNG DÌN CÓ * Tủi cha tỉnh ghì bù quản chay D ật quần tết tỉng dêm hùi tàu. * Chùy chay cháu dồn bù bàn nộ 321
  11. Chu làu tàm m ây tai tỏng sẻng D ất nhẩy choóng dì bịt tay tin Tin chẳn nhôn mạn quây tám lâu. * Tạp anh tảm quản m ây tò tau Teu sắm dăm con cha coóng đoòng Cọôc đắn sìu sẻng ban tôi nhộn Diều ngò hù ây dặn sìu toòng. * Bù tu dàng đàu tỉm dăm ây p ẻ c tim ký nếm phãm hòng chau Tếu bịt và toòng hò com tan Tàm sìu tay tin va bàm mằn. Bài hát diễn ra ở đám cưới Dao Tuyển lúc săp chia tay rước dâu lên đường giữa ba ông nhà gái và ba cô nhà trai. Có đôi chút bịn rịn sau một ngày m ột đêm “lời ca đẹp, rượu nồng say” . HÁT M ỪNG TIỆC RƯỢU * Thôi tạ ơn xong, không việc trọng Tạm biệt chư óng để trở về. * Mọi sự chu toàn không phẫn nộ Song muôn ba cô lưu lại đây M ột hai nghiêm biệt nơi đế điện
  12. Ngàn vàng muốn mua quỷ tam dương 'Ij. * Đáp ứng ba ông em vui tấu Tiểu kim không dám ngồi cung đường(2> Nước thuận nội triều vạn năm nhuận Kiều Nga hòa ỷ tận triều đình
  13. * M ụng hòa chàng hò pôi cô quây Tòi lọ nàn cánh họp gong nhảng. Tổng chánh vàn nhồn tay tòi cha Tài chảnh hò chùy hi tỉu nhiêu. HÁT Ở M ÂM ỒNG CH ÁN H ĐOÒ N G Ông Chánh Đoòng đáp 3 cô nhà trai đón dâu: * Ta mới gặp nhau ngày đêm trọn Ngôn ngữ ân tình chưa thỏa tâm. * Những m ong hóa thành bao vật quý Theo các cô về tới Nam Châu (nhà trai). Tiễn thánh vể nguồn, đế xa giả Còn ta nào biết về xử nào. (Ghi theo người Dao Tuyển thôn Xuân Hòa xã Tân Dương, huyện Bảo Yen, tỉnh Lào Cai) Hai bài thơ ca cùa hai thanh niên Dao Đại Bản dưới đây thê hiện tâm trạng và cách ứng xử cua họ. - Hàn tan (Đơn thân) là chàng trai nông dân nghèo hiện dương. - Co sin (Cô thân) là nhà quý tộc trẻ tuổi ở âm gian. 324
  14. HÀN TAN Hàn tan phắng tài mậu vắng phẩy Pơi cù pin súi mịn phấy buây Bủa phin mài ên danh chùn tang Mậu ên sùi pịn súi thùi buây Bủa phin mài cha pin quây diếu Tan cháy mậu cha mộng súi sing di âu. Dịch: ĐƠN THÂN Một mình tưởng nhớ đến em Chang dám dối lời như bồ câu nọ Trên mặt nước hồ bay hoài mãi Nhủ em có lòng bơi thuyên tới Không có lòng mặc nước cháy trôi Có chồng rỗi thì nên về sớm Bên hồ vô vọng xanh xanh Không nhà không cửa mình anh sầu buồn. (Sưu tầm tại Quang Minh - Châu Quế Phong Dụ Thượng - Văn Yên - Yên Bái) CO SIN (Bài Co sin này không kịp chép nguyên bản vì: - Chủ sách ở Khai Trung đem sách đi cúng xa. - Chủ sách ở Trung Tâm cho họ hàng mượn sách chưa kịp lay về. 325
  15. CÔ THÂN M ặt trời qua sông không qua sớm Rọi sáng nhà tôi ánh dương xa Thiên gia vạn nhà trời không chiếu Chiếu m ỗi mình ta kẻ không nhà. M ặt trời sang sông chẳng sang sớm Rọi sáng buồng tôi ánh minh dương Nghìn ph òng vạn ph òng trời đâu chiếu C hỉ chiếu mình tôi kẻ không buồng (Buồng còn có nghĩa thứ hai: vợ hoặc người yêu) Chàng lặng ỉm và cậy nhờ số mệnh. Theo sách Bàn Vương các xã Khai Trung, Trung Tâm - Lục Y ên - Yên Bái - Dao Đỏ) CỘ N G Đ Ò N G X Ã HỘI DÁM CHOÀNG CH IẾU Dất nhật dấm chiếu phăm nhật chuối Phăm nhật dấm chuối dấm choàng chiếu Chiếu chín chiếu hô pại miền siên Chiếu chấn tó pui dào sệt nhi àn. 326
  16. Dịch: KHÔNG THÀNH RƯỢU Một ngày nống rượu say ba ngày Không say ba ngày không thành rượu Rượu trước rượu sau hại thản người Rượu lắm chén, buồn chết người. (Rút từ sách Bàn Vương ở xã Toàn Son - Đà Bắc - Hòa Bình). Thời phong kiến, tai họa thường xuyên giáng xuống đầu người Dao song cũng có thời kì trời lành đất dịu, vua quan và thứ dân một dạ hợp hòa. Người Dao ứng dụng thời khắc quý hiếm này vào hôn nhân hôn lễ. CHỨC ẢNH DƯƠNG QUAN “CHỌC ENG DÀNG CUỐNG” Bàng ghi-ẹng chủn tết eng sắc nộn Mằn có lọ nghiếp tai pèng đì Chọc eng dòng cuống tay bong lêt Hòng đì nhuy chang cang đàn hì Tủ on nhuy phùn ỏn dằn hí Mằn óc quốc thai sinh lùi mành Ngụ hi sìu nhùn goạng dẹc nhùn Nghi loòng lo khói sinh doòng lằn. 327
  17. Dịch: DƯ ƠNG Q U A N G R Ạ N G N G Ờ I Vạn trượng tiết xuân sắc trời dịu Dân hát m ừng vui cảnh thái bình D ương quang rạng ngời xe vua xuồng N gọc tướng ánh hồng giáng trần gian Thánh thần thảy ngự nơi ngọc án Dân yên nước thịnh nghe sấm vang Năm khí nguyên tạo m uôn loài thuận N ghi lang giáng hải trông vảy rồng. (Sưu tầm tại X uân H òa - Tân Dương Bảo Y ên - Lào C ai - D ao Tuyển) Thảm họa động đất hai năm D ao, M ão đã tàn phá xã hội cộng đồng Dao dưới triều Nguyên Thuận Đe Trung Hoa (năm 1368). Tai nạn khủng khiếp này được người Dao đưa vào sách cúng, sach hát, sách sử đế con cháu ghi nhớ suốt đời. Tên bài hát rất khác nhau, vừa dùng ca vừa dùng ngâm. Bài “Diệu tom han dung phây” trích dưới đây của đồng bào Dao Đại Bản, D ao Tiểu Bản ở Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái N guyên, Cao B ằn g ... + Được rút ra ở các sách Bàn Vương, Bàn Vương thư, Bàn H oàng ca thư: Diần M ao nhậy nin thin tải han Xiềm sên tũa mụa tricn chiu in Tháo sấu quyền xoong mậu liệp mai Tháo sấu họ toòng puấn mậu kinh 328
  18. Tháo sấu xiềm cán mẩu súi lậu Diếu phấy phái nhiều mầu mản sin Diần mao nhậy min thin tải han Xiềm sên tũa mụa trien chiu khâu Tháo sấu siềm sên mẩu súi lậu Tháo sấu pèng tín khúng khán mầu Kẽ mụa chậu tào xuất khuýa in Chiu mụa xuất tài iên tũ khuýa Sủi đía sình tòi xui xuất in Súi đía sình tòi xui khuýa âu Đồ mà con đía xuất sình in Tông pin ỏm Ù dùn diệu pá pã pin tài Nhần vả pã pin tú pải lìu Chiều chiêu guyền guyến xuất tài khán Thin tẩy tông Thin sái phía sâu quây búa king Thin sái trụ xi - em thin chảng liệp rô S i l l irụ \ i - em tài pái phing Tliin tàv Tông Thin sai số sâu quây búa chiêu Thin sái trụ xi - em thin chảng liệp Tồ sái trụ ây tẩy dịa chiều. Dịch: Dân, Mão hai năm, trời họa lớn Tre gỗ, chuối rừng ra khỏi hết 329
  19. Đến nỗi công kho gạo chắng còn Đen nôi trường học, sách cũng không Đến nỗi đầm sâu không luồng lạch K iệt cạn khiến chết nghìn vạn cá Dần, M ão hai năm trời đại hạn Rừng sâu, nứa chuối chảy hết khô Luồng lạch đầm sâu cũng chẳng còn Đen noi ruộng bằng không nhìn thấy Khói lửa xuyên thân bổc ngọn cây Lửa từ cây chuối p h ụ t ra Rêu xanh đáy nước phun ra khói Đáy nước rêu đả phụt lửa âen Gốc cây gai rừng bốc khói xanh Bên Đ ông ảm đen M ây đen từ ph ía Đ ông đến Người nói bên Đ ông thiệt hại rồi Châu châu huyện huyện chạy lại xem Trời đất động Nhà vua viết giấy báo về kinh Vua mặc áo lập đàn lễ trời Tháy trò pháp sư mặc áo lễ sao Trời đất động 330
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản