intTypePromotion=1

Đánh giá đa dạng di truyền nguồn gen cây mãng cầu ta tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bằng chỉ thị phân tử RAPD

Chia sẻ: ViChoji2711 ViChoji2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:4

0
10
lượt xem
0
download

Đánh giá đa dạng di truyền nguồn gen cây mãng cầu ta tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bằng chỉ thị phân tử RAPD

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu đánh giá đa dạng di truyền nguồn gen cây mãng cầu ta tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bằng chỉ thị RAPD đã được thực hiện từ tháng 3/2018 đến tháng 10/2018.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đánh giá đa dạng di truyền nguồn gen cây mãng cầu ta tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bằng chỉ thị phân tử RAPD

Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 1(98)/2019<br /> <br /> ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG DI TRUYỀN NGUỒN GEN CÂY MÃNG CẦU TA<br /> TẠI TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU BẰNG CHỈ THỊ PHÂN TỬ RAPD<br /> Đỗ Văn Thịnh1, Phạm Thị Mười1, Trương Quốc Ánh2, Bùi Anh Xuân2,<br /> Nguyễn Đắc Thành2, Lương Thế Minh2, Chung Anh Dũng2, Mai Văn Trị1<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Nghiên cứu đánh giá đa dạng di truyền nguồn gen cây mãng cầu ta tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bằng chỉ thị RAPD<br /> đã được thực hiện từ tháng 3/2018 đến tháng 10/2018. Mẫu lá của 40 cá thể mãng cầu ta qua tuyển chọn được thu<br /> thập để ly trích DNA, sản phẩm DNA được khuếch đại bằng 10 chỉ thị RAPD. Kết quả cho thấy, dựa vào sơ đồ quan<br /> hệ di truyền có thể chia 40 cá thể thu thập thành 2 nhóm với hệ số tương đồng di truyền dao động từ 0,76 đến 1.<br /> Trong đó, nhóm I gồm 39 cá thể, nhóm II gồm 1 cá thể. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy mức độ đa dạng di truyền<br /> của 40 cá thể thu thập, đồng thời cho thấy sự khác biệt giữa nhóm mãng cầu địa phương và mãng cầu ta du nhập mà<br /> có thể khai thác cho các chương trình chọn tạo giống.<br /> Từ khóa: Mãng cầu ta, đa dạng di truyền, RAPD, Bà Rịa - Vũng Tàu<br /> <br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> Mãng cầu ta (Annona squamosa L.) còn gọi là 2.1. Vật liệu nghiên cứu<br /> na là cây ăn quả được trồng rộng rãi ở nước ta. Bà Vật liệu gồm 40 cá thể mãng cầu ta được tuyển<br /> Rịa - Vũng Tàu là một trong những tỉnh trồng nhiều chọn và thu thập từ một nghiên cứu trước đó của<br /> mãng cầu ta. Loài cây ăn quả này dễ trồng, có giá Nguyễn Tuấn Vũ và cộng tác viên (2018) tại tỉnh Bà<br /> trị kinh tế cao, có tiềm năng xuất khẩu và mang lại Rịa - Vũng Tàu (Bảng 1). Các cây mãng cầu ta được<br /> thu nhập tốt cho người trồng. Qua điều tra cho thấy, sử dụng làm mẫu được kí hiệu lần lượt từ BRVT01<br /> giống sản xuất đại trà hiện nay có nhược điểm là quả đến BRVT40.<br /> nhỏ và nhiều hạt. Do đó việc nghiên cứu chọn tạo<br /> 2.2. Phương pháp nghiên cứu<br /> giống để cải thiện những tính trạng trên là cần thiết.<br /> Ngày nay, với sự phát triển của các kỹ thuật sinh học Ly trích và kiểm tra DNA: DNA của các mẫu lá<br /> phân tử, nghiên cứu đánh giá đa dạng di truyền sử mãng cầu ta được ly trích theo phương pháp CTAB<br /> dụng chỉ thị DNA đã được ứng dụng rộng rãi trong (Doyle and Doyle, 1990). Sau khi ly trích, DNA sẽ<br /> nghiên cứu và chọn lọc giống cây trồng (Nguyễn được kiểm tra bằng cách điện di trên gel agarose 2%<br /> (w/v), mẫu có vạch DNA rõ nét, không bị đứt gãy,<br /> Đức Thành, 2014). Trên thế giới, nhiều nghiên cứu<br /> và có độ tinh sạch cao sẽ được sử dụng cho phản<br /> ứng dụng chỉ thị phân tử RAPD (Random Amplified<br /> ứng PCR.<br /> Polymorphic DNA) phân tích đa dạng di truyền trên<br /> chi na (Annona) đã được thực hiện, trong đó có cây Phản ứng khuếch đại DNA với 10 đoạn mồi<br /> mãng cầu ta (Ronning et al., 1995, Bharad et al., RAPD (Bảng 2), sản phẩm PCR được sử dụng để<br /> chạy điện di trên gel agarose 2%, nhuộm gel bằng<br /> 2009; Ahmad et al., 2010; Guimarães et al., 2013;<br /> ethidium bromide và chụp gel bằng tia UV, kết quả sẽ<br /> Anugari et al., 2016). Ở Việt Nam, chỉ thị phân tử<br /> được sử dụng để xây dựng cây phân nhánh di truyền<br /> RAPD đã được ứng dụng để đánh giá đa dạng di<br /> bằng phần mềm NTSYSpc 2.11a theo phương pháp<br /> truyền của một số cây trồng nhưng chưa thực hiện<br /> UPGMA (Sneath and Sokal, 1973). Phân tích sơ đồ<br /> trên cây mãng cầu ta. Gần đây, nguồn gen cây mãng<br /> hình nhánh và đánh giá mối quan hệ di truyền giữa<br /> cầu ta ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (BRVT) đã được các cây mãng cầu ta dựa trên ma trận hệ số tương<br /> khảo sát với 40 cây cá thể trong quần thể mãng cầu đồng (Nei and Li, 1979). Giá trị PIC (Polymorphic<br /> ta trong sản xuất có những khác biệt hình thái được information content) được sử dụng để đánh giá hiệu<br /> thu thập và bảo tồn (Nguyễn Tuấn Vũ và ctv., 2018). quả của mồi trong việc phân biệt kiểu gen đặc trưng<br /> Nghiên cứu này được tiến hành để đánh giá đa dạng của cây. Giá trị PIC được xác định theo công thức:<br /> di truyền nguồn gen cây mãng cầu ta tại tỉnh Bà Rịa PIC = 1 – Σ(Pi2); Trong đó: Pi là tần số của alen i<br /> - Vũng Tàu mà đại diện là 40 cá thể được thu thập của kiểu gene được kiểm tra, phạm vi giá trị PIC từ<br /> nêu trên bằng chỉ thị phân tử RAPD. 0 (không đa hình) tới 1 (đa hình hoàn toàn).<br /> 1<br /> Trung tâm Nghiên cứu Cây ăn quả miền Đông Nam bộ, Viện Cây ăn quả miền Nam<br /> 2<br /> Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam<br /> <br /> 22<br /> Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 1(98)/2019<br /> <br /> Bảng 1. Danh sách địa điểm thu thập 40 mẫu mãng cầu ta tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu<br /> Mẫu Tên chủ vườn và địa điểm thu thập Tọa độ*<br /> Trần Văn Thêm (Ấp Phước Thới, xã Phước Long Thọ,<br /> 1-3 [N10029’52,6” E107017’10,5”] ± 10 m<br /> huyện Đất Đỏ)<br /> 4-6 Lê Văn Tùy (Khu phố Phước Sơn, T.T. Đất Đỏ, huyện Đất Đỏ) [N10030’19,8” E107017’4,0”] ± 11 m<br /> Huỳnh Văn Tú (Ấp Phước Thới, xã Phước Long Thọ, huyện<br /> 7-8 [N10030’50” E107017’12,4”] ± 15 m<br /> Đất Đỏ)<br /> Nguyễn Văn Hùng (Ấp Phước Thới, xã Phước Long Thọ,<br /> 9 - 10 [N10031’03” E107017’23”] ± 6 m<br /> huyện Đất Đỏ)<br /> Phạm Tuấn Ngọc (Khu phố Thanh Long, TT. Đất Đỏ, huyện<br /> 11 - 13 [N10030’51,9” E107016’25,8”] ± 21 m<br /> Đất Đỏ)<br /> 14 - 17,<br /> Võ Văn Siêng (Ấp Tân Hòa, xã Long Tân, huyện Đất Đỏ) [N10032’15,8” E107017’48,3”] ± 12 m<br /> 29 - 30<br /> Nguyễn Văn Nguyện (Khu phố Thanh Long, TT. Đất Đỏ,<br /> 18 [N10031’16,8” E107016’31,5”] ± 18 m<br /> huyện Đất Đỏ)<br /> 19 - 21 Lý Hùng Cường (Ấp Tân Hòa, xã Long Tân, huyện Đất Đỏ) [N10032’21” E107017’43,2”] ± 6 m<br /> 22 - 24 Phạm Hữu (Ấp Cây Cám, xã Láng Dài, huyện Đất Đỏ) [N10030’53,7” E107020’40,1”] ± 7 m<br /> 25 - 28 Đỗ Sung (Ấp Cây Cám, xã Láng Dài, huyện Đất Đỏ) [N10031’19,3” E107020’40,1”] ± 5 m<br /> 31,<br /> Đào Văn Hiếu (Ấp Phú Lâm, xã Hòa Hiệp, huyện Xuyên Mộc) [N10040’21,0” E107032’12,0”] ± 59 m<br /> 36 - 40<br /> Trung tâm Nghiên cứu Cây ăn quả miền Đông Nam Bộ<br /> 32** [N10038’5,0” E10708’27”] ± 11 m<br /> (Khu phố Nông Trường, phường Hắc Dịch, Tx. Phú Mỹ)<br /> 33** Đặng Văn Phức (Ấp 2, xã Tóc Tiên, Tx. Phú Mỹ) [N10037’24,9” E10705’35,2”] ± 9 m<br /> 34 - 35 Nguyễn Tiến Hoàng (Ấp 2, xã Tóc Tiên, Tx. Phú Mỹ) [N10035’49,4” E10707’0,2”] ± 10 m<br /> Ghi chú: *: Tọa độ vị trí thu thập được xác định bằng App GPS Map + trên Window phone; **: giống du nhập.<br /> <br /> Bảng 2. Danh sách 10 đoạn mồi RAPD được sử dụng trong phản ứng PCR<br /> STT Tên mồi Trình tự (5’-3’) STT Tên mồi Trình tự (5’-3’)<br /> 1 OPA02 TGCCGAGCTG 6 OPB08 GTCCACACGG<br /> 2 OPA11 CAATCGCCGT 7 OPB10 CTGCTGGGAC<br /> 3 OPB01 GTTTCGCTCC 8 OPB12 CCTTGACGCA<br /> 4 OPB05 TGCGCCCTTC 9 OPB15 GGAGGGTGTT<br /> 5 OPB07 GGTGACGCAG 10 OPB17 AGGGAACGAG<br /> <br /> 2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu<br /> Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 3/2018 đến số alen cao nhất là 291 alen và chỉ thị OPB10 cho số<br /> tháng 10/2018 tại phòng thí nghiệm Công nghệ sinh alen ít nhất là 136. Số alen ở từng mẫu qua 10 chỉ thị<br /> học của Trung tâm Nghiên cứu Cây ăn quả miền RAPD cũng có sự khác nhau đáng kể (Bảng 3).<br /> Đông Nam bộ và phòng thí nghiệm Công nghệ sinh Tính đa hình của các chỉ thị RAPD còn được<br /> học, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam. đánh giá thông qua giá trị lượng thông tin đa hình<br /> (PIC). Giá trị PIC của từng chỉ thị phụ thuộc vào số<br /> III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN lượng alen được phát hiện ở vị trí locus đó và tần số<br /> Kết quả ly trích DNA cho thấy tất cả 40 mẫu DNA của các alen. Giá trị PIC càng lớn thì lượng thông<br /> đều có độ tinh sạch cao đủ điều kiện cho phản ứng tin đa hình mà chỉ thị đó cung cấp càng nhiều và<br /> PCR. Kết quả điện di sản phẩm PCR trên gel agarose ngược lại. Trong tổng số 40 mẫu mãng cầu ta thực<br /> 2% của 40 mẫu mãng cầu ta với 10 đoạn mồi RAPD hiện phản ứng PCR với 10 chỉ thị RAPD cho thấy<br /> cho thấy có tổng số 2308 alen được khuếch đại với giá trị PIC biến thiên từ 0,727 - 0,982, cao nhất ở chỉ<br /> sự đa hình rất cao, số alen trung bình của mỗi chỉ thị OPA11 và thấp nhất là chỉ thị OPB07, giá trị PIC<br /> thị RAPD là 230,8. Chỉ thị OPA02 khuếch đại được trung bình là 0,838 (Bảng 3).<br /> <br /> 23<br /> Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 1(98)/2019<br /> <br /> Bảng 3. Sự đa hình của 10 đoạn mồi RAPD BRVT14, BRVT15, BRVT16, BRVT29, BRVT19,<br /> trên 40 mẫu mãng cầu ta tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu BRVT20, BRVT21 và BRVT33. Trong nhóm này<br /> thông qua số alen và giá trị PIC 5 cá thể BRVT03, BRVT04, BRVT05, BRVT06 và<br /> STT Mồi Số alen PIC BRVT07 có quan hệ chặt về mặt di truyền với hệ<br /> 1 OPA02 291 0,874 số tương đồng di truyền là 1; Tương tự các cá thể<br /> BRVT08, BRVT09 và BRVT34, BRVT35 cũng có<br /> 2 OPA11 185 0,982<br /> mối quan di truyền chặt (hệ số tương đồng bằng 1).<br /> 3 OPB01 280 0,835<br /> Nguyên nhân có thể là do các cây này được nhân<br /> 4 OPB05 290 0,878 từ cùng nguồn gốc nên có nền di truyền hoàn toàn<br /> 5 OPB07 226 0,727 giống nhau. Nhóm I.2 có 2 cá thể là BRVT30 và<br /> 6 OPB08 239 0,833 BRVT31, hai cá thể này có mối quan hệ rất gần nhau<br /> 7 OPB10 136 0,841 về mặt di truyền với hệ số tương đồng đạt 0,91.<br /> 8 OPB12 280 0,799 Nhóm II gồm 1 cá thể là BRVT32 có mối quan<br /> 9 OPB15 228 0,749 hệ di truyền với nhóm I ở mức hệ số tương đồng di<br /> 10 OPB17 153 0,860 truyền là 0,76. Do đó, chỉ thị RAPD với 10 đoạn mồi<br /> như Bảng 2 có thể phân nhóm được các cá thể có<br /> Trung bình 230,8 0,838<br /> nguồn gốc địa phương (nhóm I) và cá thể du nhập<br /> Mối quan hệ di truyền của 40 cá thể mãng cầu (nhóm II) cũng như phản ánh được sự đa dạng di<br /> ta nghiên cứu được thể hiện thông qua hệ số tương truyền giữa các cá thể địa phương.<br /> đồng di truyền và sơ đồ quan hệ di truyền ở Hình 1. Ngoài ra, BRVT32 và BRVT33 là hai cá thể du<br /> Kết quả cho thấy hệ số tương đồng di truyền của 40 nhập, tuy nhiên từ kết quả phân tích đa dạng di<br /> cá thể mãng cầu ta nghiên cứu dao động từ 0,76 đến truyền được trình bày trong hình 1 hai cá thể này<br /> 1 và được thành 2 nhóm chính như sau: lại thuộc hai nhóm khác nhau, nguyên nhân có thể<br /> Nhóm I có mối quan hệ gần về mặt di truyền với là do hai cá thể này được nhân giống từ hai nguồn<br /> hệ số tương đồng dao động từ 0,85 đến 1 và có thể có nền di truyền khác xa nhau. Bên cạnh đó, cá thể<br /> chia nhóm này thành 2 nhóm phụ gồm nhóm I.1 có BRVT33 lại thuộc nhóm I (nhóm có nguồn gốc địa<br /> 37 cá thể là BRVT01, BRVT02, BRVT03, BRVT04, phương), có thể nguồn gốc của cá thể này có nền<br /> BRVT05, BRVT06, BRVT07, BRVT08, BRVT09, di truyền tương tự với nền di truyền của các cá thể<br /> BRVT40, BRVT10, BRVT39, BRVT11, BRVT34, địa phương và mặc dù thuộc nhóm I nhưng cá thể<br /> BRVT35, BRVT36, BRVT37, BRVT38, BRVT22, BRVT33 được tách thành 1 nhánh riêng với hệ số<br /> BRVT24, BRVT23, BRVT25, BRVT26, BRVT27, tương đồng di truyền đạt 0,86 so với các cá thể mãng<br /> BRVT28, BRVT12, BRVT17, BRVT18, BRVT13, cầu ta địa phương.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 1. Kết quả phân nhóm di truyền của 40 cá thể mãng cầu ta<br /> dựa trên hệ số tương đồng di truyền (coefficient) của 10 đoạn mồi RAPD<br /> <br /> 24<br /> Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 1(98)/2019<br /> <br /> Đánh giá đa dạng di truyền nguồn gen mãng TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> cầu dựa vào chỉ thị phân tử RAPD đã được nhiều Nguyễn Đức Thành, 2014. Các kỹ thuật chỉ thị DNA<br /> nghiên cứu sử dụng. Bharad và cộng tác viên (2009), trong nghiên cứu và chọn lọc thực vật. Tạp chí Sinh<br /> đã sử dụng 26 chỉ thị phân tử RAPD để đánh giá học, 36(3): 265-294.<br /> đa dạng di truyền 11 mẫu thuộc chi Annona gồm Nguyễn Tuấn Vũ, Lê Thị Huyền, Phạm Thị Mười, Đỗ<br /> AKCa01, AKCa02, AKCa03, AKCa04, AKCa05, Văn Thịnh, Huỳnh Kỳ và Mai Văn Trị, 2018. Kết<br /> AKCa06, AKCa07, AKCa08, AKCa09, AKCa10 và quả điều tra, thu thập và bảo tồn nguồn gen cây<br /> Balanagar thu thập tại Ấn Độ, kết quả có 19 chỉ thị mãng cầu ta tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tạp chí Khoa<br /> phân tử RAPD là đa hình và 3 mẫu AKCa05, AKCa07 học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam, 4(89): 92-98.<br /> và AKCa10 là hoàn toàn khác nhau về kiểu gen, Ahmad I., S. Bhagat, T.V.R.S. Sharma, K. Kumar,<br /> 8 kiểu gen còn lại là tương tự nhau. Kết quả nghiên P. Simachalam and R.C. Srivastava, 2010. ISSR<br /> cứu của Ahmad và cộng tác viên (2010), cho thấy and RAPD marker based DNA fingerprinting<br /> trong tổng số 20 chỉ thị RAPD sử dụng có 14 chỉ thị and diversity assessment of Annona spp. in South<br /> khuếch đại được DNA với 48 băng, trong đó có 25 Andamans. Indian Journal of Horticulture, (67):<br /> băng đa hình (52%) trong tổng số 17 kiểu gen thu 147-151.<br /> thập và được chia thành 2 nhóm chính với các mức Anugari, H., H.L. Dhaduk, S. Kumar, J.J. Dhruve, M.J.<br /> độ di truyền khác nhau. Tương tự, từ 20 kiểu gen Parekh and A.A. Sakure, 2016. Molecular diversity<br /> thu thập thuộc chi Annona, Anugari và cộng tác viên of Annona species and proximate fruit composition<br /> (2016), sử dụng 11 chỉ thị RAPD sử dụng để đánh of selected genotypes. Biotech., (6): 204-214.<br /> giá đa dạng di truyền cho kết quả có 152 băng được Bharad S.G., P.L. Kulwal and S.A. Bagal, 2009.<br /> khuếch đại (80,01% đa hình), hệ số tương đồng di Genetic diversity study in Annona squamosa by<br /> truyền từ 0,44 đến 0,92 và phân thành 7 nhóm, giá morphological, biochemical and RAPD markers.<br /> trị PIC biến động từ 0,86 đến 0,92. Như vậy, kết quả Acta Hort., (839): 615-623.<br /> phân tích đa dạng di truyền 40 cá thể mãng cầu ta Doyle J.J. and J.L. Doyle, 1990. A rapid DNA isolation<br /> trong nghiên cứu này cũng phù hợp với nghiên cứu procedure for small quantities of fresh leaf material.<br /> của Bharad và cộng tác viên (2009), Ahmad và cộng Phytochemical Bulletin, (19): 11-15.<br /> tác viên (2010), Anugari và cộng tác viên (2016). Guimarães J.F.R., S. Nietsche, M.R. Costa, G.B.R.<br /> Moreira, M.C.T. Pereira and W. Vendrame, 2013.<br /> IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ Genetic diversity in sugar apple (Annona squamosa L.)<br /> 4.1. Kết luận by using RAPD markers. Revista Ceres, 60(3):<br /> 428-431.<br /> Kết quả nghiên cứu thể hiện mức độ đa dạng di<br /> truyền của 40 cá thể thu thập tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Nei M. and W.H. Li, 1979. Mathematical models for<br /> Tàu với hệ số tương đồng di truyền dao động từ studying genetic variation in terms of restriction<br /> 0,76 - 1 và phân thành hai nhóm chính, đồng thời endonucleases. Proc. Natl. Acad. Sci. USA, (76):<br /> cho thấy sự khác biệt giữa nhóm mãng cầu địa 5269-5273.<br /> phương và mãng cầu ta du nhập. Dù sự khác biệt Ronning C.M., R.J. Schnell and S. Gazit, 1995. Using<br /> không lớn nhưng có thể ứng dụng khác biệt này randomly amplified polymorphic DNA (RAPD)<br /> trong các chương trình chọn tạo giống. markers to identify Annona cultivars. J. Amer. Soc.<br /> Hort. Sci., 120(5): 726-729.<br /> 4.2. Đề nghị Sneath P.H. and R.R. Sokal, 1973. Numerical<br /> Ứng dụng kết quả nghiên cứu này làm cơ sở cho taxonomy - The principles and practice of numerical<br /> chương trình chọn tạo giống mãng cầu mới theo các classification. W.H. Freeman and Company, San<br /> mục đích khác nhau. Francisco, USA.<br /> <br /> Evaluation of genetic diversity of sugar apple<br /> in Ba Ria - Vung Tau province by RAPD markers<br /> Do Van Thinh, Pham Thi Muoi, Truong Quoc Anh, Bui Thi Xuan,<br /> Nguyen Dac Thanh, Luong The Minh, Chung Anh Dung, Mai Van Tri<br /> Abstract<br /> Study on the genetic diversity of sugar apple in Ba Ria - Vung Tau province was carried out from March - October,<br /> 2018 by using RAPD markers. Leaf samples of 40 selected sugar apple genotypes were collected for DNA extraction<br /> and DNA extracts were amplified by 10 RAPD primers. The results showed that these selected sugar apple genotypes<br /> were divided into two main groups with the genetic similarity coefficient from 0.76 to 1. The first group consisted of<br /> <br /> 25<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2