intTypePromotion=1

Đề tài ' CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT ' - Phần 3

Chia sẻ: Lê Thảo My | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:20

0
570
lượt xem
261
download

Đề tài ' CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT ' - Phần 3

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cán cân vãng lai hiện nay ở Việt Nam hiện nay đã chuyển từ thặng dư nhỏ ở mức 1,2 tỷ đô la Mỹ trong năm 2000 sang thâm hụt khá lớn ở mức 9,2 tỷ đôla Mỹ trong năm 2008. Mặc dù cán cân vãng lãi hình thành xu hướng đi xuống rất rõ nhưng giá trị có biến động khá lớn, trong đó có đột biến xảy ra trong thời gian Khủng hoảng tài chính chấu Á 1997.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài ' CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT ' - Phần 3

  1. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam. 2.1 Tổng quan cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam 2000-2009 Cán cân vãng lai hiện nay ở Việt Nam hiện nay đã chuyển từ thặng dư nhỏ ở mức 1,2 tỷ đô la Mỹ trong năm 2000 sang thâm hụt khá lớn ở mức 9,2 tỷ đôla Mỹ trong năm 2008. Mặc dù cán cân vãng lãi hình thành xu hướng đi xuống r ất rõ nhưng giá trị có biến động khá lớn, trong đó có đột biến xảy ra trong thời gian Khủng hoảng tài chính chấu Á 1997. Tính chất biến động lớn của cán can vãng lai ở Việt Nam về cơ bản giống các nước ASEAN 5 (In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi- líp-pin, Xing-ga-po và Thái Lan) trước khủng hoảng. Tuy nhiên ASEAN 5 đã giải quyết được vấn đề này kể từ Khủng hoảng Tài chính châu Á và duy trì thặng dư. Việc chuyển từ thâm hụt sang thặng dư thực ra là kết quả của quá trình các nước này dịch chuyển dần lên mức giá trị gia tăng cao hơn trong công nghiệp sản xuất chế tạo và đạt được cải thiện đáng kể về năng suất lao động. Việt Nam thì năm nào cũng thâm hụt kể từ thập kỷ 1980, chỉ trừ 3 năm nền kinh tế Đông Nam Á đi xuống nghiêm trọng (1999-2001). Cán cân tài khoản vãng lai chủ yếu bao gồm cán cân thương mại hàng hoá (thâm hụt 12,3 tỷ đôla Mỹ năm 2008) và cán cân chuyển khoản (7,3 tỷ đôla Mỹ), còn dịch vụ và thu nhập thì chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ trong tổng thể cán cân vãng lai (mức tương ứng là 2,3 tỷ đôla Mỹ và 2 tỷ đôla Mỹ). Chuyển khoản giảm mạnh trong năm 2008, một phần do khủng hoảng kinh tế thế giới làm cho lượng kiều hối giảm xuống. Cán cân thu nhập phản ánh việc chuyển lợi nhuận t ừ hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và thông thường mục này ở trạng thái thâm hụt, mặc dù mức thâm hụt này đang tăng lên do tổng lượng vốn đầu tư vào Vi ệt Nam tăng lên qua các năm. Cán cân thương mại dịch vụ gắn kết chặt chẽ với cán cân thương mại hàng hóa chủ yếu là do các dịch vụ được thống kê chủ yếu bao gồm vận tải và bảo hiểm, mặc dù các dịch vụ khác như du lịch và dịch vụ tài chính cũng chiếm tỷ lệ đáng kể. Thương mại hàng hóa là nhân tố chính đóng góp vào thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai, ở mức 12,3 tỷ đôla Mỹ trong năm 2008. Tài khoản vốn ở Việt Nam thông thường có mức thặng dư nhờ luồng vốn Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam 1
  2. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam. đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chảy vào khá lớn (7,8 tỷ đôla Mỹ năm 2008). Do đầu tư trên thế giới nói chung đều giảm, FDI dự kiến chỉ đạt được 1/2 mức nói trên trong năm 2009. Việt Nam tiếp cận với vốn vay nợ ngắn hạn, dưới hình thức đầu tư gián tiếp, có xu hướng tăng lên (mặc dù biến động khá lớn). Tuy nhiên, niềm tin vào thị trường Việt Nam bị suy giảm mạnh trong năm 2008 và luồng vốn gián tiếp giảm mạnh. Số liệu sơ bộ quý 2 năm 2009 cho thấy đầu tư gián tiếp tiếp tục giảm mạnh, làm cho tài khoản vốn bị thâm hụt. Tác động tổng quát của hiệu ứng thâm hụt kép tài khoản vãng lai và tài khoản vốn làm cán cân thanh toán tổng th ể tính riêng cho năm 2009 bị thâm hụt, giảm dự trữ quốc tế trong quý 2 năm 2009. Tu y nhiên, dự báo cả năm tài khoản tài chính sẽ thặng dư mặc dù tài khoản vãng lai thì vẫn lớn hơn khoản thặng dư này, do vậy dự trữ sẽ giảm đi 2,3 tỷ đôla Mỹ trong năm 2009. Mặc dù dự trữ giảm xuống, tình hình cán cân thanh toán của Việt Nam vẫn không bị coi là trầm trọng bởi một số lý do. Thứ nhất, nghĩa vụ nợ ngắn hạn của Việt Nam có thể được thực hiện. Mức dự trữ hiện nay cao hơn so với nhiều năm trước đây đồng thời nghĩa vụ trả nợ ngắn hạn tương đối nhỏ, vì vậy xét về ngắn và trung hạn nhu cầu đối với dự trữ quốc tế không lớn. Dự trữ hiện nay lớn hơn so với giai đoạn 2002 và 2006 (xem Biểu đồ 7), đủ lớn để đảm bảo thanh toán 3 tháng nhập khẩu của năm kế tiếp. Mất cân đối thương mại của Việt Nam cũng đang có những dấu hiệu đ ược cải thiện trong năm 2009. Luồng vốn quốc tế có khả năng sẽ quay trở lại xu hướng như trước đây khi nền kinh tế thế giới phục hồi trong năm 2010. Điều quan trọng là Việt Nam phải giành được niềm tin vào nền kinh tế của mình từ đó hạn chế tối đa hiện t ượng rút v ốn. Đ ể đạt được điều này, không chỉ cần ổn định tình hình kinh tế vĩ mô ở Việt Nam mà còn Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam 2
  3. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam. cần đảm bảo môi trường đầu tư hấp dẫn. Tài khoản Cán cân Thanh toán của Việt Nam từ 2000-2009 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008e 2009f A. Tài khoản vã ng lai 1, 106 682 -604 -1, 931 -957 -560 -164 -6, 992 -9 , 2 3 7 -7, 318 Cán câ n thương mại Hàng Hà ng xuất t heo gi á FOB 14,448 15,027 16,706 20,149 26,485 32,447 39,826 48,561 62,906 53,167 Hà ng nhập theo giá FOB -14,073 -14,546 -17,760 -22,730 -28,772 -34,886 -42,602 -58,921 -75,189 -60,241 Cán câ n thương mại Dịch vụ -550 -572 -750 -778 872 -296 -8 -894 -2 , 3 1 5 -1, 858 Dịch vụ: Có 2, 702 2, 810 2, 948 3, 272 3, 867 4, 176 5, 100 6, 030 6, 300 5, 500 Dịch vụ: Nợ -3 , 2 5 2 -3 , 3 8 2 -3 , 6 9 8 -4, 050 -4 , 7 3 9 -4, 472 -5 , 1 0 8 -6, 924 -8 , 6 1 5 -7, 358 Cán câ n Thu nhập -451 -477 -721 -811 -891 -1, 205 -1 , 4 2 9 -2, 168 -1 , 9 6 9 -2, 486 Thu nhậ p: Có 331 318 167 125 188 364 668 1, 093 1, 068 364 Thu nhậ p: Nợ -782 -795 -888 -936 -1 , 0 7 9 -1, 569 -2 , 0 9 7 -3, 261 -3 , 0 3 7 -2, 850 Cán câ n Chuyển khoản 1, 732 1, 250 1, 921 2, 239 3, 093 3, 380 4, 049 6, 430 7, 330 4, 100 Chuyể n khoản: Có 1, 732 1, 250 1, 921 2, 239 3, 093 3, 380 4, 049 6, 430 7, 330 4, 100 Chuyể n khoản: Nợ B. Tài khoản Vốn Tài khoản Vốn: Có Tài khoản Vốn: Nợ C. Tài khoản Tà i chí nh -316 371 2, 090 3, 279 2, 807 3, 087 3, 088 17,540 9, 175 5, 024 Đầ u t ư trực t iếp ra nước không không không không không không không ngou it ư trực t iếp vào Việ t Đầ à có có có có có có ông có ông kh kh Na m t ư trực t iếp ròng 1, 298 1, 300 1, 400 1, 450 1, 610 1, 954 2, 400 6, 700 Đầ u 889 315 55 7, 800 4, 000 Đầ u t ư giá n t iếp ra nước ngoài Cổ phi ếu Các công cụ nợ Đầ u t ư giá n t iếp vào Việt không không không không không không không không không không Na m 865 1, 313 6, 243 -400 0 có ông có ông có ông có ông có ông kh kh kh kh kh không không không không có có có có có có có có có Các ctông ào snợ phẩ m Đầ u ư v cụ ản 750 Đầ u t ư vào sản phẩ m Đầ u t ư vào sản phẩ m tài Các t ài sản đầu t ư khác ra không không nước ngoài có có Cơ quan quản l ý tiền tệ Chính phủ không không Nác n gà nh khác C gâ n hà ng -2 , 0 8 9 -1 , 1 9 7 624 1, 372 35 -634 -1 , 5 3 5 2, 623 Các t ài sản đầu t ư khác vào không không Việt Nam 475 268 66 457 1, 162 967 995 2, 124 có có Cơ quan quản l ý tiền tệ Chính phủ Ngân hà ng không không Các ngà nh khác 475 268 66 457 1, 162 967 995 2, 124 có có không không có có Tổng, từ Nhó m A đến C 790 1, 053 1, 486 1, 348 1, 850 2, 527 2, 924 10,548 Điề u c hỉnh do sai sót -680 -847 -1, 038 798 -915 -397 1, 400 -342 -100 0 Cá n câ n tổng t hể 110 206 448 2, 146 935 2, 130 4, 324 10,206 -162 -2, 295 E. Dự trữ và hạng mục -110 -206 -448 -2 , 1 4 6 -935 -2 , 1 3 0 -4 , 3 2 4 -10,206 162 2, 295 liê n quan Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam 3
  4. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam. Bảng 2: Tài khoản Cán cân Thanh toán của Việt Nam từ 2000-2009 Nguồn: IMF. Thông qua bảng 2, ta có thể thấy được tình hình tổng quan của Cán cân Thanh toán Việt Nam từ 2000-2009. 2.2Thực trạng của cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam từ 2000 đến nay. 2.2.1 Cán cân tài khoản vãng lai a, Giai đoạn từ 2000 đến 2007 Thực hiện đường lối cải cách, mở cửa nền kinh tế, trong nhiều năm trở lại đây, Việt Nam đã hội nhập một cách sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Các hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam ngày càng được mở rộng và các giao dịch kinh tế quốc tế đã tăng lên một cách nhanh chóng. Trong giai đoạn từ năm 2000- 2007, nhìn chung cán cân vãng lai của Việt Nam bị thâm hụt (trừ các năm 2000,2001), tuy nhiên mức độ thâm hụt chưa nhiều và nhìn chung vẫn ở mức an toàn. Bảng 2.1 Cán cân vãng lai của Việt Nam trong giai đoạn từ 2000-2007 Năm 2 2 2 2 2004 2 2 2 000 001 002 003 005 006 007 C 1.108 6 - - - 479 164 6.992 A 82 603 1.931 1.591 %GDP 3,6 2,1 1,7 4,9 3,5 0,9 0,3 9,8 (Đơn vị : Triệu USD) Căn cứ vào bảng số liệu trên, ta có thể thấy trong hai năm 2000, 2001 cán cân vãng lai của Việt Nam thặng dư, chủ yếu do cán cân thượng mại thặng dư và nguồn chuyển giao vãng lai một chiều thặng dư, đủ sức bù đắp thâm hụt của cán cân dịch vụ và cán cân thu nhập. Tuy nhiên, xu hướng thâm hụt cán cân vãng lai đã trở lại năm 2002-2007, đặc biệt năm 2007 với mức thâm hụt kỷ lục 6.992 tỷ USD tương đương với 9,8% GDP, vượt quá mức an toàn 5%. Hầu hết các nước trong khu vực Châu Á (Thái Lan, Philippin, Malaysia, Trung Quốc…) năm 2007 đều có thặng dư tài khoản vãng lai trong khi đó Việt Nam lại thâm hụt với mức độ lớn. b,Gai đoạn từ 2008 đến nay Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam 4
  5. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam. Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ vào cuối năm 2007 đã lan nhanh và ảnh hưởng sâu rộng, trở thành cuộc khủng hoảng lớn nhất kể từ cuộc đại suy thoái 1929-1933. Các tác động của cuộc khủng hoảng trên lan tràn trên diện rộng, không chỉ trong hoạt động của các ngân hàng, mà tất cả các nền kinh tế, các thị trường bước vào thời kì suy thoái nghiêm trọng, cán cân vãng lai của hầu hết các Theo số liệu ước tính của IMF, trong năm 2008 cán cân vãng lai của Vi ệt Nam thâm hụt 11.100 triệu USD, tương đương 10,3 % GDP, vượt ngưỡng an toàn 2 lần, cao hơn nhiều so với con số cao kỉ lục của thâm hụt cán cân vãng lai 2007 (6,992 triệu USD), tất cả những con số này cho thấy thâm hụt cán cân vãng lai của Việt Nam đã thật sự đáng báo động. Nguyên nhân do những ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế thế giới tới nền kinh tế Việt Nam, lạm phát trong nước tăng cao trong những tháng đầu năm 2008, giá xăng dầu trên thế giới tăng cao… Sang năm 2009, thâm hụt cán cân vãng lai tuy có giảm nhưng vẫn ở mức cao. Dự đoán năm 2010, cán cân vãng lai lại thâm hụt tăng trở lại. Bảng 2.2: Cán cân vãng lai của Việt Nam từ năm 2008-2010 Năm 2008 2009 2010 CA -11,1 -8,0 -10,6 Nguồn: SBV, IMF, WB (Năm 2010 là ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư) Đơn vị: tỷ USD Bảng 2.3 : Cán cân vãng lai 6 tháng đầu năm 2010 Thời gian Ước Quý II/2010 Ước 6 tháng đầu năm Quý I/2010 CA -1.892 -1.678 -3570 Đơn vị: Triệu USD - Nguồn: NHNN Sau đây chúng ta đi vào phân tích thực trạng của các cán cân bộ phận của cán cân vãng lai. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam 5
  6. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam. 2.2.1.1Cán cân thương mại (TB) Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại 7 tháng từ năm 2004 – 2009 Giai đoạn từ năm 2000-2007 a. Ta có bảng số liệu sau: Bảng 2.4: Cán cân thương mại của Việt Nam từ năm 2000-2007 Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 XK 14.448 15.027 16.706 20.149 26.485 32.447 39.826 48.561 NK 14.072 14.546 17.760 22.730 30.339 34.886 42.602 58.921 TB=XK- 376 481 -1.054 -2.581 -3.854 -2.439 -2.776 -10.360 NK % so với 1,2 1,5 -3,0 -6,5 -8,6 -4,6 -4,6 -14,5 GDP(%) Đơn vị: triệu USD Nhìn vào bảng trên, ta thấy trong hai năm 2000,2001 cán cân thương mại của Việt Nam thặng dư. Bước sang năm 2002 cán cân thương mại l ại thâm h ụt 1.054 triệu USD, con số này tiếp tục lên cao trong các năm 2003, 2004. Đến năm 2005, 2006 mức thâm hụt cán cân thương mại tuy có giảm nhưng vẫn ở mức cao, và dặc biệt trong năm 2007, cán cân thương mại thâm hụt ở mức kỷ lục cao lên tới 10.360 triệu USD, chủ yếu do tốc độ tăng của xuất khẩu nhỏ hơn tốc độ tăng của nhập khẩu. Giai đoạn từ năm 2008 đến nay b. Ta có bảng số liệu sau: Bảng 2.5: Cán cân thương mại của Việt Nam từ năm 2008 – 2010 Năm 2008 2009 2010 TB -14,2 -8,9 -10,1 Nguồn: SBV, IMF, WB (Năm 2010 là ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư) Đơn vị: tỷ USD Năm 2008. cán cân thương mại tiếp tục thâm hụt cao hơn năm 2007, lên tới 14,2 tỷ USD. Nguyên nhân chính là do giá cả hàng hóa trên thế giới tăng cao. Theo Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam 6
  7. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam. Tổng cục Thống kê, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu tháng 12/2008 ước tính đạt 4,9 tỷ USD, tăng 16,2% so với tháng trước chủ yếu do sản lượng dầu thô khai thác tăng, mức tiêu thụ hàng dệt may mạnh hơn vào tháng cuối năm và lượng gạo xuất khẩu đã tăng trở lại. Tính chung cả năm 2008, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu ước tính đ ạt 62,9 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2007, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 34,9 tỷ USD, tăng 25,7%, chiếm 49,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực kinh tế trong nước đạt 28 tỷ USD, tăng 34,7%, chiếm 50,3%. Trong tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu năm 2008, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm tỷ trọng 31%, nhóm hàng nông sản chiếm 16,3%. Các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam trong năm 2008 là Hoa Kỳ đ ạt 11,6 tỷ USD, ASEAN đạt 10,2 tỷ USD, EU đạt 10 tỷ USD, Nhật Bản đạt 8,8 tỷ USD. Các thị trường nhập khẩu của Việt Nam, ASEAN đạt 19,5 tỷ USD, Trung Quốc đạt 15,4 tỷ USD, EU đạt 5,2 tỷ USD, Nhật Bản đạt 8,3 tỷ USD. Một thực tế có thể nhận thấy là trong nhiều năm trở lại đây, Việt Nam xuất siêu với Hoa Kỳ và EU nhưng nhập siêu từ Trung Quốc và các nước ASEAN rất lớn, trong năm 2008, Việt Nam đã nhập siêu hơn 10 tỷ USD với Trung Quốc và hơn 9 tỷ USD với các nước ASEAN, nguyên nhân là do suy thoái kinh tế thế giới khiến cho thị trường các nước này cũng bị giảm sút và hàng hóa giá rẻ của các nước này đã ồ ạt nhập khẩu vào Việt Nam. Năm 2009 là năm kinh tế thế giới chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, giá cả hàng hóa thế giới sau thời kì tăng giá vào khoảng 3 quý đầu năm 2008 đã có chiều hướng giảm mạnh trên thị trường thế giới cùng với xu hướng giảm mạnh của giá dầu, điều này gây ra khó khăn cho hoạt động xuất khẩu của nhiều nước và Việt Nam. Từ bảng số liệu của IMF, chúng ta nhận thấy, thâm hụt cán cân thương mại Việt Nam gia tăng rất nhanh qua các năm. Trong khi IMF dự báo mức thâm hụt cán cân thương mại năm 2009 là 7 tỉ đô la Mỹ trong bối cảnh suy thoái kinh tế, thì thông tin trong tháng 11-2009 cho biết, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ước tính con số đó cho cả năm 2009 là 11 tỉ đô la Mỹ. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam 7
  8. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam. Nếu như trong các năm 2005-2006, kiều hối (chiếm hơn 90% khoản mục “Chuyển giao”) đã vượt quá nhu cầu cần bù đắp thâm hụt cán cân thương mại, làm giảm nhẹ đáng kể thâm hụt của cán cân vãng lai, thì nay, tình hình trên đã trở nên xấu hơn nhiều trong năm 2009. Thông tin từ Ngân Hàng Nhà nước chi nhánh TPHCM cho biết, trong 10 tháng đầu năm, lượng kiều hối nhận được tại các ngân hàng trên địa bàn vào khoảng 2,6 tỉ đô la Mỹ, chỉ bằng 60% so với cùng kỳ năm ngoái. Chúng ta biết rằng, TPHCM là nơi nhận gần 60% tiền kiều hối cả nước. Con số kiều hối cả nước nhận được trong năm 2009 được giới chuyên môn ước tính sẽ xấp xỉ 6 tỉ đô la. Kết hợp với nguồn số liệu của IMF, nếu như các luồng tiền ròng về dịch vụ và thu nhập của năm 2009 không đổi so với năm 2008 (thâm hụt xấp xỉ 4,2 tỉ đô la) thì với thâm hụt thương mại ước tính 11 tỉ đô la, sau khi trừ đi 6 tỉ đô la ki ều hối, thì thâm hụt cán cân vãng lai có thể ước tính ở mức 9-10 tỉ đô la Mỹ cho năm 2009. Bảng 2.6: Cán cân thương mại của Việt Nam 6 tháng đầu năm 2010 Thời gian Ước quý II/2010 Ước 6 tháng đầu năm Quý I/2010 TB -1.892 -1,678 -3,570 Nguồn:NHNN Đơn vị: triệu USD Qua bảng số liệu ở trên, cho thấy 6 tháng đầu năm 2010 cán cân thương mại vẫn thâm hụt. Theo ước tính của cơ quan lập báo cáo, cán cân thương mại năm 2010 có thể thâm hụt 10,1 tỷ USD Có thể đến thời điểm hiện tại và thậm chí trong một thời gian nữa thặng dư cán cân vốn và tài chính vẫn có th ể bù đ ắp cho thâm hụt cán cân vãng lai nhưng về lâu dài thì vấn đề mấu chốt vẫn phải cải thiện được cán cân thương mại vì đây mới là nguồn cung ngoại tệ bền vững nhất. Điều này không dễ dàng gì vì giá cả trên thế giới đang tăng, trong khi đó các biện pháp kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu của VN lại chưa thể một sớm một chiều triển khai được, ví dụ việc xây dựng và thực hiện các hàng rào kỹ thuật đối với hàng nhập khẩu chuyên ngành, phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ để tăng xuất khẩu v.v... Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam 8
  9. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam. Để bù đắp tài chính cho nhập siêu thường có 3 giải pháp: Tín dụng thương mại (các nhà nhập khẩu xin được thanh toán chậm); vay bằng ngoại tệ (ngân hàng rồi cho doanh nghiệp vay lại hoặc doanh nghiệp vay trực tiếp); trích từ dự tr ữ ngoại hối của NHTƯ (thị trường thiếu ngoại tệ, NHTƯ phải lấy ngoại tệ trong dự trữ quốc gia ra để đáp ứng nhu cầu mua ngoại tệ của thị trường). Nhìn lại cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam thấy một nền kinh tế được bù đắp thương mại dựa vào kiều hối và vay nợ thì chưa thể bền vững. Vấn đề mấu chốt để giải quyết vấn đề thâm hụt cán cân vãng lai và ổn đ ịnh s ức mua của đồng VN là phải giảm nhập siêu về từ 20%/tổng kim ngạch xuất khẩu trở xuống. Bên cạnh đó, hệ thống ngân hàng phải thu hút được tất cả các nguồn ngoại tệ có trong nước và tập trung lại để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ. Đ ể thực hiện được hai vấn đề trên thì vai trò điều tiết của Nhà nước (áp dụng những biện pháp để ảnh hưởng đến thị trường ngoại hối) là rất quan trọng. 2.2.1.2Cán cân dịch vụ (SE) Đối với nhiều nước phát triển thì cán cân dịch vụ là một phần quan trọng trong cán cân vãng lai nói riêng và cán cân thanh toán quốc tế nói chung, tuy nhiên đối với Việt Nam thì cán cân dịch vụ chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong cán cân vãng lai cũng như toàn bộ cán cân thanh toán. Bảng 2.7: Cán cân dịch vụ của Việt Nam từ năm 2000-2010 Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 SE -550 -572 -749 -778 61 -219 -8 -1.300 XK 2.702 2.810 2.948 3.272 3.867 4.176 5.100 6.030 NK 3.252 3.382 3.697 4.050 3.806 4.395 5.108 6.924 XK trong Năm 2008 2009 2010 SE -1.000 -1.200 -1.900 Nguồn: SBV, IMF, WB (Năm 2010 là ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư) Đơn vị: triệu USD Nhìn vào bảng số liệu trên, có thể thấy quy mô xuất khẩu của Vi ệt Nam nói chung còn rất nhỏ. Xét trên khía cạnh về tỷ trọng của xuất khẩu dịch vụ trong Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam 9
  10. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam. tổng kim ngạch của xuất khẩu nói chung (bao gồm cả hàng hóa dịch vụ) thì tỷ trọng của xuất khẩu dịch vụ vừa nhỏ lại vừa có xu hướng giảm đi, nguyên nhân chính là do sức cạnh tranh của ngành dịch vụ nước ta trên thị trường thế giới còn chưa cao, tốc độ tăng của kim ngạch xuất khẩu dịch vụ luôn thấp, còn thấp hơn tốc độ tăng của xuất khẩu hàng hóa. Mặt khác, cơ cấu xuất khẩu dịch vụ còn một số điểm bất hợp lí và chuyển dịch chậm. Dịch vụ du lịch (xuất khẩu tại chỗ) luôn chiếm tỷ trọng cao nhất (55,2% tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ) nhưng tốc độ tăng còn thấp và “mật độ” khách du lịch quốc tế đến Việt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực, ở Châu Á và trên thế giới. Ngoài du lịch, một số dịch vụ khác chiếm tỷ trọng rất nhỏ, như dịch vụ bảo hiểm, chỉ chiếm 1,1%, dịch vụ bưu chính viễn thông chiếm tỷ trọng 1,7%, dịch vụ tài chính chỉ chiếm 5,5%. Về mặt tổng thể, cán cân dịch vụ của nước ta hầu hết đều thâm hụt qua các năm. Đến năm 2007 thì thặng dư 14,3 tỷ USD và năm 2008 con số thặng dư chỉ còn 0,3 tỷ USD. Trong năm 2009, cán cân thanh toán của Việt Nam thâm hụt 8,8 tỷ USD.Theo ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cán cân thanh toán quốc t ế của Việt Nam trong năm 2010 có thể thâm hụt gần 4 tỷ USD. Như vậy, rất có thể đây là năm thứ 2 liên tiếp Việt Nam có thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể ở mức khá cao. 2.2.1.3Cán cân thu nhập (IC) Theo IMF cán cân thu nhập bao gồm cả các khoản thu nhập của người lao động (là các khoản tiền lương, tiền thưởng và các khoản thu nhập khác bằng tiền, hiện vật do người không cư trú trả cho người cư trú và ngược lại) và các khoản thu nhập đầu tư (là các khoản thu từ lợi nhuận đầu tư trực tiếp, lãi từ đầu tư vào giấy tờ có giá và các khoản lãi đến hạn phải trả của các khoản vay giữa người cư trú và người không cư trú). Tuy nhiên, trong cán cân thanh toán quốc tế của Vi ệt Nam công bố cũng như của Ngân hàng thế giới và IMF thì hạng mục này chỉ bao gồm thu nhập đầu tư do thiếu dữ liệu của người thu nhập lao động. Do vậy trong Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam 10
  11. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam. phạm vi bài nghiên cứu của nhóm chúng tôi cũng chỉ xin đề cập tới các khoản thu nhập về đầu tư trong cán cân thu nhập của Việt Nam. Bảng 2.8: Cán cân thu nhập của Việt Nam từ năm 2000-2010 Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 IC -451 -477 -721 -811 -891 -1.219 -1.429 -2.168 Thu 331 318 167 125 188 364 668 1093 Chi 782 795 888 936 1.079 1.583 2.097 3.261 Năm 2008 2009 2010 IC -4.900 -4.900 -5.400 Nguồn: SBV, IMF, WB (Năm 2010 là ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư)-Đơn vị: triệu USD Phần thu từ đầu tư của Việt Nam thì chủ yếu là tiền lãi của các khoản tiền gửi của người cư trú Việt Nam ở các ngân hàng nước ngoài. Tuy nhiên những khoản tiền lãi đó rất nhỏ, thậm chí còn giảm đi vì ta rút ngoại tệ về cho vay trong nước. Ngược lại, những khoản phải thanh toán ngày càng tăng lên do phải trả lãi cho các khoản nợ nước ngoài. Những khoản nợ này khá lớn, hàng năm Việt Nam phải trả lãi khoảng mấy trăm triệu USD. Thêm vào đó những khoản chuyển lợi nhuận đầu tư cũng tăng lên do các dự án FDI được thực hiện dần. Tuy các khoản lãi tiền gửi có tăng lên nhưng các khoản chuyển lợi nhuận và trả lãi nợ nước ngoài tăng mạnh dẫn đến thu nhập đầu tư ngày càng bị thâm hụt. Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới kéo theo suy thoái kinh tế thế giới hầu hết NHTW các nước thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng, cắt giảm lãi suất, trong đó điểm hình như FED, trong năm 2008 đã 8 lần cắt giảm lãi suất, xuống mức thấp kỷ lục là 0,25%...điều này sẽ tác động làm giảm lãi suất của các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ của người cư trú ở nước ngoài, làm giảm nguồn thu chủ yếu của cán cân thu nhập của Việt Nam. Mặt khác, do khó khăn về mặt tài chính nên nhiều doanh nghiệp FDI, chi nhánh các công ty nước ngoài có xu hướng chuyển khoản các khoản lợi nhuận về nước để hổ trợ công ty mẹ, làm tăng các khoản chi trong cán cân dịch vụ do đó trong hai năm 2008, 2009 cán cân thu nhập của Việt Nam tiếp tục thâm hụt với mức độ cao hơn so với năm 2007 và các năm Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam 11
  12. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam. trước đó. Dự đoán trong năm 2010, cán cân thu nhập vẫn thâm hụt với mức cao hơn. 2.2.1.4Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều (Tr) Từ năm 2000 đến nay, cán cân chuyển giao vãng lai một chiều luôn thặng dư, là nguồn tài trợ quan trọng cho thâm hụt cán cân vãng lai của Việt Nam. Bảng 2.9: Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều của Việt Nam từ năm 2000-2010 Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Tr 1.732 1.250 1.921 2.239 3.093 3.380 4.049 6.430 Tư 1.585 1.100 1.767 2.100 2.919 3.150 3.800 6.180 nhân Chính 147 150 154 139 174 230 249 250 phủ Năm 2008 2009 2010 Tr 8.100 7.000 6.900 Nguồn: SBV, IMF, WB (Năm 2010 là ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư) Đơn vị: triệu USD Nhìn vào bảng số liệu trên có thể thấy, trong cán cân chuyển giao vãng lai của Việt Nam thì bộ phận chiếm tỷ trọng chủ yếu là chuyển giao tư nhân, còn bộ phận chuyển giao chính phủ chiếm tỷ trọng không đáng kể và thường xu hướng ổn định. Chuyển giao tư nhân của Việt Nam chủ yếu là chuyển tiền của người Việt Nam sống ở nước ngoài (kiều hối)… Tháng 10/1999, Thủ tướng đã kí quyết định số 170/1999/QD-TTG theo đó đã khuyến khích kiều hối của người Việt Nam ở nước ngoài gửi về. Kết quả là trong năm 2000, nguồn chuyển giao tư nhân đạt tới 1585 triệu USD. Hơn nữa, việc thiết lập thêm những kênh chuyển tiền mới đã giúp cho người Việt Nam ở nước ngoài yên tâm chuyển tiền qua các kênh chính thức và giúp giảm các chi phí chuyển tiền cũng như các rủi ro. Thêm vào đó, chính sách thu hút kiều hối ngày càng thông thoáng chẳng hạn như cho phép người Vi ệt Nam trực tiếp mang tiền về nước mà không giới hạn số lượng chỉ cần khai báo hải quan, cho phép Việt kiều mua nhà hay đầu tư tại Việt Nam… Đặc biệt, việc Chính Phủ cho phép mở rộng đối tượng làm đại lí chi trả kiều hối đã tạo thêm nhiều kênh chuyển tiền từ nước ngoài về, làm tăng sự cạnh tranh giữa các tổ chức dịch vụ chi trả ngoại tệ tạo áp lực buộc các tổ chức này phải giảm chi phí Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam 12
  13. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam. chuyển tiền và nâng cao chất lượng dịch vụ. Chính những điều này đã tạo nên sự tăng vọt của lượng kiều hối chuyển về nước từ năm 2003 trở lại đây, khiến cho chuyển giao tư nhân của Việt Nam tăng lên không ngừng, nhờ đó Chính phủ bù đắp được một phần thâm hụt của cán cân vãng lai. Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế sẽ khiến cho đại bộ phận thu nhập của người lao động trên thế giới giảm xuống, cuộc sống trở nên khó khăn hơn, trong đó có bộ phận người Việt Nam sống ở nước ngoài, do đó sẽ khiến cho dòng kiều hối chảy về Việt Nam trong những năm gần đây giảm sút. Theo ước tính của cơ quan lập báo cáo, thu nhập đầu tư (bao gồm trả nợ lãi các khoản vay nước ngoài, lãi từ hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài…) thâm hụt 5,4 tỷ USD. Chỉ duy nhất mục chuyển tiền trong cán cân vãng lai có thặng dư khoảng 6,9 tỷ USD. Bảng 2.10: Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều 6 tháng đầu năm 2010 Thời gian Ước Quý II/2010 Ước 6 tháng đầu năm Quý I/2010 Chuyển tiền một 2.051 1.828 3.879 chiều (ròng) Đơn vị: Triệu USD - Nguồn: NHNN Cụ thể, tính chung 6 tháng đầu năm 2010, chuyển tiền một chiều ròng đ ạt gần 3,9 tỷ USD, tăng 24% so cùng kỳ năm 2009. Chuyển tiền kiều hối 6 tháng đầu năm 2010 đạt khá (ước khoảng 3,6 - 3,7 tỷ USD, tăng hơn 20% so cùng kỳ năm 2009). Ngay cả quý II, dù không phải là "mùa kiều hối", lượng kiều hối vẫn duy trì được ở mức khá cao (bình quân 500-600 triệu USD/tháng). 2.2.1.5Mối quan hệ giữa tiết kiệm, đầu tư và thâm hụt cán cân vãng lai. Giữa tiết kiệm, đầu tư và cán cân vãng lai có mối quan hệ với nhau thông qua đẳng thức: CA = S – I Như đã phân tích ở trên, cán cân vãng lai của Việt Nam phần lớn là thâm hụt trong giai đoạn trong giai đoạn từ 2000-2010 (trừ hai năm 2000, 2001). Nhìn vào đẳng thức trên có thể thấy nguyên nhân làm cho cán cân vãng lai của Vi ệt Nam thâm hụt liên tục trong thời gian qua là do đầu tư ở mức cao so với mức tiết kiệm của quốc gia, thâm hụt NSNN liên tục xuất hiện qua các năm, các nguyên nhân này Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam 13
  14. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam. có thể xuất hiện một cách đơn lẻ hoặc đồng thời xuất hiện tác đ ộng lên cán cân vãng lai. Chúng ta sẽ đi phân tích từng nhân tố làm cho cán cân vãng lai của Việt Nam trong thời gian qua. a. Đầu tư ở mức cao so với tiết kiệm. Nền kinh tế nước ta chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á 1997, luồng vốn FDI chảy vào Việt Nam trong 2 năm 2000, 2001 giảm thị trường chứng khoán còn trong giai đoạn đầu phát triển, khiến cho hoạt đ ộng đ ầu tư trở nên kém sôi động. Bên cạnh đó, đầu tư luôn ở mức thấp hơn so với tiết kiệm nên trong hai năm này có thể thấy cán cân vãng lai của ta đã thặng dư. Từ năm 2002 trở lại đây thì đầu tư lại có xu hướng cao hơn so với tiết kiệm, điều này cũng tất yếu dẫn đến cán cân vãng lai của Việt Nam liên tục thâm hụt, một số nguyên nhân chính làm cho đầu tư trong giai đoạn này tăng cao là: Thứ nhất, do để theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này, NHNN Việt Nam đã thực hiện một chính sách tiền tệ nới lỏng (từ năm 2007 trở lại trước) kích thích đầu tư trong nước. Trong năm 2008 tuy đã thực hiện quyết liệt một chính sách tiền tệ theo hướng thắt chặt song cũng do độ trễ của chính sách tiền tệ mà lạm phát lên cao, điều này tiếp tục làm cho cán cân thương mại của Việt Nam xấu đi, hơn cả năm 2007. Năm 2009 do lạm phát được đẩy lùi cùng với một chính sách tiền tệ nới lỏng để kích cầu, đầu tư trong nước để chống suy giảm kinh tế nên sức cạnh tranh thương mại của Việt Nam được cải thiện, mức thâm hụt của cán cân vãng lai giảm đi so với năm 2008, xuống chỉ còn 8 tỷ USD. Tuy nhiên, sang năm 2010, theo dự đoán thì mức thâm hụt có xu hướng tăng lên đến 10,6 tỷ USD. Thứ hai, do sự tăng trưởng nóng của thị trường chứng khoán Việt Nam. Trong các năm 2006, 2007 thị trường chứng khoán Việt Nam được coi như bùng nổ, VN Index có lúc đã chạm ngưỡng 1100 điểm. Với sự sôi đ ộng của thị tr ường như vậy, một loạt các doanh nghiệp đã thực hiện IPO để huy động vốn cho sản xuất. Với lượng vốn đầu tư được huy động qua kênh thị trường chứng khoán, rõ ràng là mức đầu tư của Việt Nam đã tăng lên rất nhiều. Hệ quả tất yếu c ủa vi ệc này là sự gia tăng thâm hụt của cán cân vãng lai. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam 14
  15. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam. Thứ ba, cùng với việc tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài trong những năm gần đây khiến cho dòng vốn FDI chảy vào Việt Nam tăng mạnh, đặc biệt là trong hai năm 2008 và 2009, sự tăng trưởng của FDI cũng khiến cho tổng đầu tư của cả nước tăng lên, dẫn đến thâm hụt cán cân vãng lai, do sự tăng trưởng của FDI cũng mang lại sự tăng về nhập khẩu cho Việt Nam, trong khi các dự án của FDI ở Việt Nam chủ yếu tập trung ở lĩnh vực bất đ ộng sản, lĩnh vực ít có khả năng xuất khẩu. Mức tiết kiệm quốc gia thấp. b. Nhìn chung mức tiết kiệm của Việt Nam còn khá thấp so với nhu cầu đ ầu tư trong nước. Từ năm 2000-2005 mức tiết kiệm có xu hướng tăng lên, do thu nhập c ủa người dân tăng nên mức tiết kiệm cũng tăng. Tuy nhiên trong năm 2006 thì mức tiết kiệm bắt đầu có xu hướng giảm xuống, nguyên nhân chủ yếu là do mức tiêu dung tăng cao đột biết. Trong hai năm 2006, 2007 có thể thấy có nhiều nguyên nhân dẫn tới sự thay đổi trong cơ cấu tiêu dùng của người dân Việt Nam. Một trong những nguyên nhân chính là hiệu ứng tài sản do sự tăng trưởng nhanh chóng của thị trường chứng khoán, cũng như thị trường bất động sản của Việt Nam gây ra. 2.2.2Cán cân vốn (Capital Balance – K) Bảng 2.11: Cán cân vốn của Việt Nam từ năm 2000 – 2010 Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 K -754 220 1.980 2.533 2.753 3.087 3.088 17.540 Năm 2008 2009 2010 K 13.400 12.300 9.200 Nguồn: SBV, IMF, WB (Năm 2010 là ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư)-Đơn vị: triệu USD Cán cân vốn của Việt Nam bao gồm các bộ phận cơ bản: vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn đầu tư gián tiếp (FII), các khoản nợ ngắn hạn, tín dụng thương mại, các khoản nợ trung – dài hạn và tài sản ngoại tệ của các Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam 15
  16. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam. Nhìn vào cán cân vốn của Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2010 có thể thấy rõ xu hướng chuyển dịch của cán cân vốn từ thâm hụt vào năm 2000 đến bắt đầu có thặng dư vào năm 2001 và tiếp tục thặng dư mạnh trong các năm tiếp theo cho tới trước cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 nổ ra, kể từ sau cuộc khủng hoảng thì thặng dư của cán cân vốn bắt đầu có xu hướng giảm xuống. Sau đây nhóm chúng tôi xin đi vào phân tích thực trạng của các thành phần vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, là những thành phần dễ bị ảnh hưởng nhiều nhất khi khủng hoảng kinh tế xảy ra. 2.2.2.1Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Bảng 2.12: Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam từ 2000 – 2009 Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 FDI 1.298 1.300 1.400 1.450 1.610 1.889 2.315 6.550 10.000 7.400 Nguồn: SBV, IMF, WB Đơn vị: triệu USD Nhìn vào bảng số liệu trên, ta thấy trong năm 2000 con số FDI đ ược giải ngân đạt 1.298 trệu USD, thấp hơn nhiều so với năm 1999, trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á vừa mới kết thúc, nên sự suy giảm đ ầu t ư n ước ngoài tại Việt Nam cũng có nguyên nhân khách quan gắn với cuộc khủng hoảng tiền tệ trong khu vực và tiếp đó là sự suy giảm kinh tế thế giới. Mặt khác, tuy là nước chịu ảnh hưởng không nhiều từ cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á song Việt Nam lại là một trong số những nước có FDI sụt giảm mạnh nhất. Tình hình giảm sút của FDI của Việt Nam trong thời gian này ngoài nguyên nhân khách quan nêu trên còn có nguyên nhân chủ quan xuất phát từ hệ thống pháp luật thiếu minh bạch, nhất quán, cho đến việc thực thi pháp luật không nghiêm minh, thủ tục hành chính phiền hà, chi phí đầu tư và kinh doanh tương đối cao, đã làm cho môi trường kinh doanh của Việt Nam kém hấp dẫn hơn trước. Từ năm 2001 đến năm 2004 là thời kì phục hồi chậm của hoạt động FDI, quân số FDI giải ngân hàng năm vẫn tăng lên song tốc độ tăng trưởng rất chậm. Từ năm 2005, hoạt động đầu tư nước ngoài ở Việt Nam mới thật sự khởi sắc, khi Việt Nam thật sự trở thành một điểm đến hấp dẫn cho các nhà đ ầu tư nước ngoài với sự thông thoáng hơn trong cơ chế cũng như nhiều ưu đãi hấp dẫn Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam 16
  17. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam. cho các nhà đầu tư nước ngoài, con số dự án đăng ký có vốn đầu tư nước ngoài năm 2005 là 970 dự án, với tổng số vốn đăng ký đạt khoảng 2 tỷ USD. Năm 2006 đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ. Tới năm 2007 thì đầu tư nước ngoài đã thực sự bùng nổ ở Việt Nam với những con số hết sức ấn tượng, tổng số đã có 1.544 dự án đăng ký với tổng số vốn đăng ký đạt 20,3 tỷ USD, tổng số vốn giải ngân là 6,5 tỷ USD, nguyên nhân chính là do năm 2007 là năm đầu Việt Nam thực hiện các cam kết của mình khi gia nhập WTO, tạo điều kiện thông thoáng hơn cho các nhà đầu tư. Dòng tiền FDI của năm 2008 là 7 tỷ USD, tăng vọt so với các năm tr ước giúp làm bội thu cán cân thanh toán tài khoản vốn. Tuy nhiên, so với các nước Đông Nam Á thì thu hút vốn FDI của Việt Nam chỉ đứng thức 4 sau Singapore (22,7 tỷ USD), Thái Lan (10,1 tỷ USD), Malaysia (8,1 tỷ USD); và trong các năm này, xu hướng dòng vốn FDI không tập trung vào các ngành công nghiệp chế biến và nông nghiệp, mà tập trung vào các ngành bất động sản, khách sạn, nhà hàng (chiếm 63%) nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao. Sự dịch chuyển dòng vốn FDI như vậy cần được xem xét dưới góc độ hiệu quả kinh tế, trình độ công nghệ đi kèm với FDI và năng lực xuất khẩu trong tương lai. Trong năm 2009 con số FDI được giải ngân đạt 7.400 trệu USD, thấp hơn so với năm 2008 là 2.600 triệu USD. Theo Cục Đầu tư nước ngoài- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục là nhân tố quan trọng giúp giảm thâm hụt cán cân thanh toán, trong hoàn cảnh thâm hụt cán cân thương mại 6 tháng khoảng trên 6,5 tỷ USD. Với mức giải ngân vốn FDI tháng 6/2010 đạt 900 triệu USD, tổng mức giải ngân 6 tháng đầu năm đã đạt 5,4 tỷ USD, tăng khoảng 6% so với cùng kỳ năm 2009. Tính bình quân từ đầu năm đến nay, chúng ta đã giải ngân khoảng 900 triệu USD vốn FDI mỗi tháng. Một điều đáng chú ý là, chỉ tiêu thu hút vốn đăng ký mới tiếp tục khởi sắc. Trong tháng 6, đã có 78 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký trên 800 triệu USD. Như vậy tính chung 6 tháng, đã có 438 dự án đăng ký cấp mới với tổng vốn cam kết đầu tư đạt trên 7,9 tỷ USD, so với Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam 17
  18. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam. năm 2009 tuy chỉ bằng 80% về số dự án nhưng tăng tới 43% về vốn. Nếu tính cả các dự án tăng vốn, trong nửa đầu đầu năm 2010, các nhà đầu t ư nước ngoài đã đăng ký số vốn bằng khoảng hơn 80% cùng kỳ năm trước, đạt ở mức 8,43 tỷ USD. Không ai phủ nhận vai trò tích cực của FDI đối với sự tăng tr ưởng kinh tế của các quốc gia; tuy nhiên, cần phải hiểu biết những mặt trái của FDI nhằm có chính sách thu hút và sử dụng FDI hiệu quả hơn. Tác động tích cực của FDI trước tiên là dòng ngoại tệ vào làm tăng tài khoản vốn giúp nâng cao khả năng thanh khoản của tài khoản quốc gia; nhưng tác động tiêu cực của vốn FDI thường bị tác động bởi ba nhân tố chủ yếu: 1) Tác động thông qua cán cân thương mại; 2) tác động thông qua chuyển lợi nhuận đầu tư ra nước ngoài; 3) Tác động do tăng chi phí mua patent, know-how nhằm độc quyền kỹ thuật cao. 2.2.2.2Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) Đầu tư gián tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư xuyên biên giới. Nó chỉ các hoạt động mua tài sản tài chính nước ngoài nhằm kiếm lời. Hình thức đầu tư này không kèm theo việc tham gia vào các hoạt động quản lý và nghiệp vụ vủa doanh nghiệp giống như trong hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài. Việt Nam đã có những thành công trong thu hút FDI, song việc thu hút FII thì vẫn còn nhiều những hạn chế. Bảng 2.13: Đầu tư gián tiếp nước ngoài của Việt Nam từ 2000 – 2009 Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 FII -- -- -- -- -- 865 1.313 6.243 - 600 100 Nguồn: SBV, IMF, WB Đơn vị: triệu USD Sau cuộc khủng hoảng năm 1997, nguồn vốn FII vào Việt Nam có xu hướng tăng, nhưng quy mô còn rất nhỏ và chiếm tỷ lệ thấp so với vốn FDI, đầu t ư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2004 trong báo cáo của IMF về Việt Nam thậm chí còn không được ghi nhận. Năm 2005, nguồn vốn FII vào Việt Nam mới thực sự khởi sắc, với vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam ước đạt 865 triệu USD, cùng Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam 18
  19. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam. với sự tăng trưởng nóng của thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2006 và nửa đầu 2007, con số vốn đầu tư gián tiếp đổ vào Việt Nam cũng tăng lên rất nhanh, lên đến 1.313 triệu USD vào năm 2006 và 6.243 triệu USD vào năm 2007. Một phần nguyên nhân khiến FII tăng trưởng cao trong các năm 2006 và 2007 là có s ự hoạt động mạnh mẽ của các quỹ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ dẫn tới TTCK toàn cầu suy giảm, trong đó có TTCK Việt Nam khiến cho FII có xu hướng thoái lui khỏi TTCK Việt Nam vào nửa cuối năm 2008. Tuy nhiên năm 2009, khi TTCK Việt Nam bắt đầu có những tín hiệu hồi phục với những phiên tăng điểm liên ti ếp và khá bền vững thì dòng vốn này đã có xu hướng quay trở lại. Luồng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) tiếp tục duy trì xu hướng thặng dư. Trong quý II/2010, các nhà đầu tư nước ngoài mua ròng trên thị trường chứng khoán khoảng 500 triệu USD. Tính chung 6 tháng đầu năm 2010, vốn FII ròng đạt mức thặng dư 1,8 tỷ USD . Vốn FII thặng dư lớn là do đầu năm 2010, Chính phủ Việt Nam đã phát hành thành công 1 tỷ USD trái phiếu ra thị trường quốc tế (theo phương pháp luận thống kê cán cân thanh toán quốc tế giao dịch này phải được thống kê vào hạng mục FII thay vì vay nợ của Chính phủ). Nếu loại trừ phát hành trái phiếu của Chính phủ thì trong 6 tháng đầu năm 2010 các nhà đầu tư nước ngoài vẫn mua ròng trên thị trường chứng khoán Việt Nam khoảng 800 triệu USD (bao gồm cả thị trường OTC), trong đó quý I/2010 là 290 triệu USD. 2.3 Những tồn tại trong cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam hiện nay Những diễn biến của cán cân thanh toán Việt Nam cùng tình hình kinh tế hiện nay cho thấy nền kinh tế nước ta đang chứa đựng những nguy cơ tiềm ẩn có thể dẫn đến những rối loạn trên thị trường nghiêm trọng hơn là nguy cơ khủng hoảng. Thâm hụt cán cân thương mại nói riêng và cán cân vãng lai nói chung - kéo dài như hiện nay là hết sức nguy hiểm. Tình trạng nhập siêu đang gia tăng. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam 19
  20. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam. Nguồn bù đắp cho thâm hụt cán cân thương mại là chủ yếu là từ cán - cân vốn. Việt Nam có tỷ lệ thu hút vốn khá cao, tuy nhiên lại chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn , mang tính chất đầu cơ cao tập trung vào một số lĩnh vực gây bong bóng kinh tế (thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản). Nguồn vốn đầu tư vào Việt Nam có chất lượng không cao và khó - kiểm soát, đối với nguồn vốn ODA và FDI, tốc độ giải ngân rất chậm. Đây cũng là một yếu tố làm giảm hiệu quả và chất lượng của vốn đầu tư vào Việt Nam, hơn nữa, còn hạ thấp uy tín của Việt Nam trên thị trường tài chính quốc tế. Dự trữ ngoại hối của Việt nam tăng lên mạnh trong những năm gần - đây, năm 2007 dự trữ đạt khoảng trên 20 tỷ USD. Song theo kinh nghiệm của các quốc gia bị khủng hoảng và phải phá giá đồng tiền, thì tỷ lệ dự trữ ngoại hối theo phần trăm kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt nam vẫn thuộc hàng thấp. Chương 2: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản