intTypePromotion=1

Đề tài " Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Nghệ An "

Chia sẻ: Le Dinh Thao | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:92

1
490
lượt xem
256
download

Đề tài " Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Nghệ An "

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm đạt từ 7- 8%; đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, chính trị được giữ vững và ổn định. Lĩnh vực XĐGN cũng đạt được nhiều thành tích nổi bật và được Liên hợp quốc đánh giá cao. Tuy vậy, mặt trái của sự phát triển cũng ngày càng bức xúc, như khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng; sự tụt hậu ngày càng lớn giữa khu vực nông thôn và thành thị, giữa miền núi và đồng...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài " Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Nghệ An "

  1. 1 Luận văn Đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại NHCSXH tỉnh Nghệ An
  2. 2 Contents MỞĐẦU ...................................................... 3 1. Tính cấp thiết của đề tài ............................... 3 2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài .......................... 4 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................... 5 5. Kết cấu của luận văn .................................... 5 CHƯƠNG 1 ................................................... 6 1.1. TỔNGQUANVỀĐÓINGHÈO .................................... 6 P 1.2. TÍNDỤNGVÀHIỆUQUẢTÍNDỤNGĐỐIVỚIHỘNGHÈO ................. 23 1.3. KINHNGHIỆMMỘTSỐNƯỚCVỀNÂNGCAOHIỆUQUẢTÍNDỤNGĐỐIVỚIHỘNGHÈO .......................................................... 36 CHƯƠNG 2 .................................................. 43 2.1. TÌNHHÌNHĐÓINGHÈOTẠI NGHỆ AN .......................... 43 2.1.1. Tổng quan về kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An ....................... 43 2.2. TỔNGQUANVỀQUÁTRÌNHHÌNHTHÀNH, PHÁTTRIỂN, MÔHÌNHTỔCHỨCVÀHOẠTĐỘNGCỦA NGÂNHÀNGCHÍNHSÁCHXÃHỘITỈNH NGHỆ AN .......................................................... 51 2.3. THỰCTRẠNG HIỆU QUẢCHOVAYHỘNGHÈOTẠI NHCSXH TỈNH NGHỆ AN61 2.4. ĐÁNHGIÁHIỆUQUẢCHOVAYHỘNGHÈO .......................... 66 CHƯƠNG 3 .................................................. 70 GIẢIPHÁPNÂNGCAOHIỆUQUẢTÍNDỤNGĐỐIVỚIHỘNGHÈOTẠI NGÂNHÀNGCHÍNHSÁCHXÃHỘITỈNH NGHỆ AN ........................ 70 3.1. MỤCTIÊUCHƯƠNGTRÌNH XĐGN Ở NGHỆ ANGIAIĐOẠN 2006 - 2010 70 3.2. MỤCTIÊUHOẠTĐỘNGCỦA NHCSXH TỈNH NGHỆ ANGIAIĐOẠN 2008 - 2010 ...................................................... 71 3.3. GIẢIPHÁPNÂNGCAOHIỆUQUẢTÍNDỤNGĐỐIVỚIHỘNGHÈOTẠI NHCSXH TỈNH NGHỆ AN .............................................. 71 3.4. MỘTSỐKIẾNNGHỊ ........................................ 87 KẾTLUẬN ................................................... 89
  3. 3 MỞĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đãđạt được nhiều thành tựu quan trọng, tố c độ tăng trưởng GDP hàng năm đạt từ 7- 8%; đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, chính trịđược giữ vững vàổn định. Lĩnh vực XĐGN cũng đạt được nhiều thành tích nổi bật vàđược Liên hợp quốc đánh giá cao. Tuy vậy, mặt trái của sự phát triển cũng ngày càng bức xúc, như khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng; sự tụt hậu ngày càng lớn giữa khu vực nông thôn và thành thị, giữa miền núi vàđồng bằng; tình trạng thiếu việc làm nghiêm trọng; tình trạng ô nhiễm môi trường và lãng phí tài nguyên đất nước.v.v.. Hàng triệu hộ nghèo hiện nay ở V iệt Nam, đ ặc biệt là hộ nghèo ở vù ng sâu, vùng xa không được hưởng những thành quả của sự phát triển. Họđang bơ vơ, lạc lõng trước sự hội nhập toàn cầu vàánh sáng của thế giới văn minh. Những yếu kém trên là nguyên nhân mất ổ n định về xã hội- chính trị, là nỗi đ au của m ột xã hội đang phấn đấu vì lý tưởng dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng- dân chủ- văn minh. Trước thực trạng đó, Đ ảng và Nhà nước ta cũng đã quan tâm đến nhiệm vụ XĐGN; Đại hội VIII của Đảng đ ã xác định rõ XĐGN là mộ t trong những chương trình phát triển kinh tế, x ã hộ i vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài và nhấn mạnh “phải thực hiện tố t chương trình X ĐGN, nhất làđối với vù ng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc. Xây dựng và phát triển quỹ XĐGN bằng nhiều nguồn vốn trong và ngo ài nước; quản lý chặt chẽ, đ ầu tưđúng đối tượng và có hiệu quả”. Chính phủđã phê duyệt và triển khai chương trình, mục tiêu quốc gia X ĐGN, giai đoạn 1998- 2000 và giai đo ạn 2001-2010, như hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng xã nghèo; hỗ trợđồng b ào d ân tộc đặc biệt khó khăn; định canh, định c ư, di d ân, kinh tế mới; hướng d ẫn người nghèo cách làm ăn và khuyến nông- lâm- ngư; hỗ trợ tín dụng cho người nghèo; hỗ trợ người nghèo về y tế; hỗ trợ người nghèo về giáo dục; hỗ
  4. 4 trợ sản xuất, phát triển ngành nghề; đ ào tạo cán bộ làm công tác XĐGN, cán bộ các xã nghèo, chương trình phát triển kinh tế, xã hộ i các xãđặc biệt khó khăn (QĐ số 135/1998/QĐ-TTg), chương trình m ục tiêu quốc gia về việc làm.v.v… Trong lĩnh vực tín dụng cho người nghèo, năm 1996 đã thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo vàđến năm 2003 được tách ra thành Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH), với mục tiêu chủ yếu là cho vay ưu đãi hộ nghèo. Sau hơn 5 năm hoạt độ ng, NHCSXH đã cho vay hàng chục ngàn tỷđồng, cho hàng chục triệu lượt hộ nghèo vàđã góp phần to lớn trong công cuộc XĐGN cho đất nước. Tuy nhiên, sự nghiệp XĐGN vẫn đang còn ở phía trước, với nhiệm vụ ngày càng khó khăn, phức tạp; trong đó , lĩnh vực tín dụng cho hộ nghèo nhiều vấn đề vẫn đang bức xúc như: Quy m ô tín dụng chưa lớn, hiệu quả XĐGN còn chưa cao, hoạt độ ng của NHCSXH chưa thực sự bền vững.v.v… Những vấn đề trên là phức tạp, nhưng chưa có mô hình thực tiễn và chưa đ ược nghiên cứu đầy đủ. Đ ể giải quyết tốt vấn đ ề nghèo đ ói ở V iệt Nam nói chung và tín d ụng cho hộ nghèo nói riêng, đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách có hệ thống, khách quan và khoa học, phải có sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước cũng như toàn x ã hộ i. V ới những lý do nêu trên, tô i mạnh dạn chọn đ ề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đố i với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Nghệ An” làm luận văn tốt nghiệp. 2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Nhằm hệ thống hoá những vấn đ ề lý luận cơ b ản vềđói nghèo, tín dụng đ ối với hộ nghèo. - Phân tích, đánh giá thực trạng và hiệu quả cho vay hộ nghèo tại NHCSXH tỉnh Nghệ An.
  5. 5 - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng hộ nghèo tại NHCSXH tỉnh Nghệ An. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động tín d ụng đối với hộ nghèo. - Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu cho vay hộ nghèo tại chi nhánh NHCSXH tỉnh Nghệ An từ năm 2003 đ ến 2007. 4. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp quan sát khoa học, phương pháp điều tra b ằng bảng hỏi, phương pháp tổng hợp, thống kê, chứng minh, diễn giải, sơđồ, biểu mẩu vàđ ồ thị trong trình b ày luận văn. 5. Kết cấu của luận văn Luận văn ngo ài phần mởđầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, gồ m 3 chương. C hương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả tín dụng ngân hàng đ ối với hộ nghèo. C hương 2: Thực trạng hiệu quả cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Nghệ An (2003-2007). C hương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đố i với hộ nghèo tại N gân hàng Chính sách xã hội tỉnh Nghệ An.
  6. 6 CHƯƠNG 1 CƠSỞLÝLUẬNVỀHIỆUQUẢTÍNDỤNG NGÂNHÀNG ĐỐIVỚIHỘNGHÈO 1.1. TỔNGQUANVỀĐÓINGHÈO 1.1.1. Khái niệm vềđó i nghèo Tình trạng đ ói nghèo ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau về cấp độ và số lượng, thay đổ i theo thời gian. Người nghèo của quốc gia này có thể có mức số ng cao hơn mức sống trung bình của quốc gia khác. Bởi vậy, đểnhìn nhậnvà đánhgiáđược tình trạng đ ói nghèo của một quốc gia, mộ t vù ng và nhận dạng được hộđói nghèo, để từđó có giải pháp phù hợp để XĐGN, đòi hỏ i chúng ta phảicó sựthống nhất về khái niệm và các tiêu chíđ ểđánh giáđói nghèo tại từng thời điểm. Ở nước ta trong những năm qua, thực hiện công cuộc đ ổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nền kinh tế nước ta đãđạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, bên cạnh sự tăng thu nhập và nâng cao đời sống của sốđô ng dân chú ng, vẫn còn tồn tại một bộ phận dân chú ng sống nghèo khổ, đặc biệt là những hộ nô ng dân nghèo số ng tập trung ở các vùng nông thôn, miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa…Chính vì vậy, trong xã hội sự phân hoá giàu nghèo đang diễn ra ngày một sâu sắc, kho ảng cách giàu, nghèo ngày càng rộ ng. Đ ây là một thách thức lớn đ ặt ra đ òi hỏi phải có những chính sách và giải pháp phù hợp, đi đôi với phát triể n kinh tế - xã hộ i phải thực hiện thành cô ng chương trình, mục tiêu quốc gia về XĐGN. Muốn XĐGN b ền vững, thìđiều đầu tiên là p hải trả lời đ ược câu hỏi: Quan niệm thế nào là nghèo, người nghèo là ai và vì sao họ nghèo? Để trả lời đ ược các câu hỏi này chính xác, phải hiểu rõđược bản chất và nội dung của đói nghèo.
  7. 7 Phải khẳng định rằng không cóđịnh nghĩa duy nhất vềđói, nghèo. Đói nghèo là tình trạng kiệt quệ bao gồm nhiều khía cạnh, từ thu nhập hạn chếđến tính dễ bị tổn thương khi gặp phải những tai ương bất ngờ vàít có khả năng tham gia vào quá trình ra quyết định chung. Việt Nam thừa nhận đ ịnh nghĩa chung vềđói nghèo tại Hộ i nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình D ương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan tháng 9/1993: “Nghèo là tình trạng mộ t bộ phận dân cư không được hưởng và thoã mãn các nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đ ược xã hộ i thừa nhận tùy theo trình độ phá t triển kinh tế- xã hội và phong tục, tập quán của địa phương’’[5, trang 122] Đói là tình trạng của mộ t bộ p hận dân cư nghèo có mức sống dưới mức sống tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống. Đói nghèo là tổng hợp khái niệm đói và khái niệm nghèo: Đói và nghèo thường gắn chặt với n hau, nhưng mức độ gay gắt khác nhau. Đó i có mức độ gay gắt cao hơn, cần thiết phải xoá và có khả năng xoá. Cò n nghèo, mức độ thấp hơn và khó xoá hơn, chỉ có thể xoá dần nghèo tuyệt đố i, còn nghèo tương đối chỉ có thể giảm dần. Vì vậy, để giải quyết vấn đềđói nghèo, ta thường dùng cụm từ "Xoáđói giảm nghèo". Cụ thể hơn các khái niệm đói nghèo ta có thể thấy: D ùở d ạng nào, thìđói cũng đi liền với thiếu chất dinh d ưỡng, suy dinh dưỡng. Có thể hình dung các biểu hiện của tình trạng thiếu đói như sau: - Thất thường về lượng: Bữa đó i, bữa no, ăn không đủ b ữa . - V ề mặt năng lượng: Nếu trong một ngày con người chỉđ ược thoả m ãn mức 1.500 calo/ngày, thìđó là thiếu đói (thiếu ăn); dưới mức đó là gay gắt. N ghèo đồng nghĩa với nghèo khổ, nghèo tú ng, túng thiếu. Trong ho àn cảnh nào thì hộ nghèo, người nghèo cũng chỉ vật lộn với những mưu sinh hàng ngày về kinh tế, biểu hiện trực tiếp nhất là bữa ăn. Họ khô ng thể vươn tới các nhu cầu về văn hoá, tinh thần, hoặc những nhu cầu này phải cắt giảm
  8. 8 tới m ức tố i thiểu nhất, gần như không có. Biểu hiện rõ nhất ở các hộ nghèo là hiện tượng trẻ em b ỏ học, thất học, không cóđiều kiện để chữa b ệnh khi ốm đau. Nhìn chung ở hộ nghèo, người nghèo thu nhập thực tế của họ hầu như chỉ dành chi toàn bộ cho ăn; thậm chí khô ng đủ chi ăn, phần tích luỹ hầu như không có. 1.1.2. Tiêu chí vềđói nghèo Theo Ngân hàng Thế giới, biện pháp áp dụng thông dụng nhất đểđo lường đói nghèo là dựa trên mức thu nhập ho ặc mức chi tiêu. Một người đ ược coi là nghèo, nếu mức độ chi tiêu hoặc thu nhập của anh ta xuố ng dưới m ức tối thiểu cần thiết đểđáp ứng cho các nhu cầu căn bản. Mức tối thiếu này đ ược gọ i là “ngưỡng đói nghèo”. Các yếu tốđáp ứng nhu cầu căn bản thay đổi theo thời gian và x ã hội. Do đó, ngưỡng đó i nghèo khác nhau theo thời gian vàđịa điểm và mỗi quố c gia sử dụng các ngưỡng thích hợp với mức độ phát triển, chuẩn mực và giá trị xã hội của mình. Để tổng hợp và so sánh toàn cầu, Ngân hàng thế giới sử d ụng ngưỡng tham chiếu $1 và $2/ngày trong thuật ngữ “sức mua tương đương” (PPP) 1993 (PPP đo lường sức mua tương đố i của đồng tiền các quốc gia). Trong quá trình nghiên cứu đói nghèo và thực hiện chương trình XĐGN ở V iệt Nam, WB đ ãđưa ra hai mức chuẩn nghèo đối với Việt Nam: Thứ nhất, là số tiền cần thiết đ ể mua một số lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu dinh d ưỡng với lượng 2.100 calo/người/ngày, gọ i là chuẩn nghèo về lương thực, thực phẩm; Thứ hai, là số tiền cần thiết bao gồm cả chi tiêu cho lương thực, thực phẩm và chi tiêu cho các nhu cầu cần thiết khác, gọi là chuẩn nghèo chung. Tại Việt Nam hiện nay đang sử dụng mộ t loạt các chỉ tiêu đánh giá về nghèo đói và phát triển xã hộ i: Bộ LĐ- TB&XH (cơ q uan thường trực của Chính phủ trong tổ chức, triển khai, thực hiện XĐGN) dùng phương pháp dựa trên thu nhập của hộ gia đình tuỳ theo từng thời gian. Các hộđược xếp vào
  9. 9 diện nghèo, nếu thu nhập đầu người của họở dưới mức chuẩn đ ược x ác đ ịnh. Mức này khác nhau giữa thành thị, nông thôn và miền núi. Tỷ lệ nghèo được xác định bằng tỷ lệ giữa dân số có thu nhập dưới ngưỡng nghèo so với tổng dân số trong cù ng một thời điểm. N ăm 1997, chuẩn nghèo đó i thuộc phạm vi của chương trình quốc gia (chuẩn nghèo cũ) đểáp dụng cho thời kỳ từ năm 1996 - 2 000 như sau: Hộđói là hộ có thu nhập dưới 13 kg gạo/người/tháng (tương đ ương 45.000 đồng cho tất cả các vùng). Hộ nghèo là hộ có thu nhập tuỳ theo từng vùng ở các m ức tương ứng như nhau: - V ùng nông thôn miền núi, hải đảo dưới 15 kg gạo/người/tháng (tương đương 55.000 đồng). - Vùng nô ng thôn đồng b ằng, trung du d ưới 20 kg gạo/người/tháng (tương đương 70.000 đồng). - Vùng thành thị dưới 25 kg/người/tháng (tương đ ương 90.000 đ ồng). X ã nghèo là xã có tỷ lệ hộđói nghèo từ 40% trở lên, thiếu một trong các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu (đường giao thông, trường học, trạm y tế, đ iện sinh hoạt, nước sinh ho ạt, thuỷ lợi nhỏ và chợ). Trước những thành tích của công cuộc XĐGN, cũng như tốc độ tăng trưởng kinh tế và mức sống. Cuối năm 2000 m ức sống của dân cư tăng lên 1,5 lần, thu nhập GDP đầu người tăng lên 1,47 lần so với năm 1996, chuẩn hộ nghèo đ ãđược điều chỉnh cho phù hợp với chuẩn quốc tế. Theo chuẩn mực phân loại hộ nghèo do Bộ LĐ - TB&XH quy đ ịnh tại văn bản số 1143 ngày 01/11/2000 đã cô ng bố mức chuẩn nghèo mới áp d ụng cho thời kỳ 2001- 2005, thì hộ nghèo là hộ có thu nhập b ình quân đầu người hàng tháng như sau: - 80.000 đồ ng/người/tháng ở các vùng hải đảo và vù ng miền núi nông thô n.
  10. 10 - 100.000 đồng/người/tháng ở các vùng đồng bằng nông thôn. - 150.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. - Xã nghèo là xã có tỷ lệ hộđói nghèo chiếm từ 25% trở lên, thiếu 3 trong số các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu (đường giao thông, điện thắp sáng, trường học, trạm y tế, nước sạch sinh ho ạt, chợ). - Vùng nghèo có thể là một số xã liền kề (hoặc một vùng dân cư) nằm ở vị trí khó khăn, hiểm trở, giao thông khô ng thuận lợi. Các cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn, không cóđ iều kiện phát triển sản xuất vàđ ảm bảo đời sống, là vùng có tỷ lệ hộ nghèo, x ã nghèo cao. Theo tiêu chíđánh giá này, thì thời điểm đ ầu năm 2001 cả nước có khoảng 2,7 triệu hộ nghèo, tỷ lệ 17,3%. Theo quyết định số 170/2005/QĐ- TTg, ngày 08 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp d ụng trong giai đo ạn 2006 - 2010: - Đối với khu vực thành thị: Hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân đ ầu người 1 tháng dưới 260.000 đồng. - Đố i với khu vực nông thôn: H ộ nghèo là những hộ gia đ ình có mức thu nhập bình quân đ ầu người 1 tháng dưới 200.000 đồng. Theo tiêu chí cũ về hộ nghèo, thìđến năm 2005, tỷ lệ hộ nghèo của Việt N am còn 7%, còn theo tiêu chí mới tỷ lệ hộ nghèo tới 22%. Phương pháp xác định đói nghèo do Bộ LĐ- TB&XH nêu trên có những ưu điểm nhất định: Dễ hiểu, d ễ tính toán, dễđiều tra. V iệc đưa ra giới hạn đói nghèo của Bộ LĐ - TB&XH là phù hợp với điều kiện của Việt Nam, tiện lợi cho việc Nhà nước có mộ t bức tranh tổng quát vềđói nghèo, đặc biệt là vùng nông thôn và miền nú i để có thểđưa ra các giải pháp XĐGN trong cả nước. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện việc bình xét hộ nghèo tại một sốđịa phương (xóm, bản, xã, phường) đã khô ng thực hiện đúng theo hướng dẫn của Bộ LĐ- TB&XH về các tiêu chíđánh giá hộ nghèo, cho nên đã dẫn đến tình trạng số hộ nghèo thực tế lớn hơn số hộ nghèo được
  11. 11 cấp thẻ (hộ nghèo trong danh sách) tại từng thời điểm (vấn đề này chú ng tôi sẽđề cập cụ thểở phần sau). Tổng cục Thống kê thì dựa vào cả thu nhậ p và chi tiêu theo đầu người để tính tỷ lệ nghèo. Tổng cục Thống kê xác định ngưỡng nghèo d ựa trên chi phí cho một giỏ tiêu dùng, bao gồm lương thực và p hi lương thực; trong đó, chi tiêu cho lương thực phải đủđảm bảo 2.100 calo mỗi ngày cho 1 người. Các hộđược coi là thuộc diện nghèo, nếu mức thu nhập và chi tiêu không đ ảm bảo giỏ tiêu dùng này. Phương pháp đo lường đó i nghèo b ằng chi tiêu tỏ ra là một phương pháp tố t. Tuy nhiên, m ột trong những hạn chế của phương pháp này là nóđòi hỏ i rất nhiều số liệu, chi phíđiều tra cao, thời gian dài. 1.1.3. Nguyên nhân đói nghèo Đói nghèo là hậu quảđan xen của nhiều nguyên nhân nằm trong các nhóm nguyên nhân. Nhóm nguyên nhân khách quan, do mô i trường tự nhiên (vị trí, khí hậu, đất đai); kinh tế - xã hội (trình độ dân trí thấp, yếu tố tập quán của từng dân tộc, từng vùng miền, chính sách của Nhà nước) và nhóm nguyên nhân do bản thân người nghèo; đi vào phân tích các nguyên nhân như sau: 1.1.3.1. Nhóm nguyên nhân do môi trường tự nhiên; kinh tế - xã hội - Đ iều kiện tự nhiên Đ iều kiện tự nhiên khắc nghiệt đã tác động sâu sắc đến SXKD của các hộ gia đình, đặc biệt là các hộ nghèo. Đói nghèo tập trung khu vực nông thôn: Nghèo cóđặc thù rõ rệt về mặt địa lý. Ở Việt Nam, với 80% dân số và 90% số người nghèo sống ở nông thô n “Những đặ c trưng của người nghèo vẫn giống nh ư trước đây - đói nghèo vẫn là hiện tượng phổ biến ở nông thôn vàđố i với các dân tộc thiểu số, thìm ức độđói nghèo cao và nghiêm trọng hơn so với đa số người Kinh. Các
  12. 12 đặ c trưng khác của đói nghèo, là rủ i ro cao về thu nhập, do th ường xuyên bị thiên tai và tình trạng thiếu việc làm nghiêm trọng ở nông thôn” [16, trang 1]. N ăm 1999, tỷ lệ nghèo đói về lương thực và thực phẩm ở nô ng thô n là 15,9% đa số người nghèo là nông thôn (trên 80%), trình độ tay nghề thấp, ít khả năng tiếp cận nguồn lực trong sản xuất (vố n, kỹ thuật, công nghệ…), thị trường tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn do điều kiện địa lý và chất lượng sản phẩm kém, chủng lo ại sản phẩm nghèo nàn, những người nông d ân nghèo thường không cóđ iều kiện tiếp cận với hệ thống thông tin, khó có khả năng chuyển đổ i việc làm sang các ngành phi nô ng nghiệp. Phụ nữ nông d ân ở vùng sâu, vù ng xa, nhất là phụ nữ ch ủ hộđộc thân, phụ nữ cao tuổ i là những nhóm nghèo dễ bị tổn thương nhất, phụ nữ nghèo lao động nhiều thời gian hơn, nhưng thu nhập thấp hơn, họ cóít quyền quyết định trong gia đình và cộng đ ồng, do đó cóít cơ hội tiếp cận các nguồn lực và lợi ích do chính sách mang lại. Đ iều kiện vị trí không thuận lợi đ ã hạn chế nhiều đến sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và sinh hoạt của các hộ gia đình. Người nghèo tập trung ở các vùng cóđiều kiện sống khó khăn; đa số người nghèo sinh sống ở vùng miền núi, vù ng sâu, vùng xa, vùng nông thô n hoặc ở các vùng đồng bằng sông Cửu Long, miền trung; do sự biến động của thời tiết (b ão, lụt, hạn hán…) khiến cho các điều kiện sinh sống và sản xuất của người d ân càng thêm khó khăn, đặc biệt sự kém phát triển về hạ tầng cơ sởđã làm cho các vù ng này càng bị tách biệt với các vùng khác. “N ăm 2000, kho ảng 20- 30% trong tổ ng số 1.870 xãđặc biệt khó khăn chưa cóđường dân sinh đến trung tâm xã; 40% số xã chưa đủ p hòng học; 5% số xã chưa có trạm y tế; 55% số xã chưa có nước sạch; 40% số xã chưa cóđường điện đến trung tâm xã; 50% số xã chưa đủ công trình thủy lợi nhỏ; 20% số xã chưa có chợ xã hoặc cụm xã. Bên cạnh đó, do điều kiện thiên nhiên không thuận lợi, số người dân thuộ c diện cứu trợđột
  13. 13 xuất hàng năm khá cao, khoảng 1- 1,5 triệu người. Hàng năm số hộ tái đói nghèo trong tổng số hộ vừa thoát khỏi đói nghèo còn lớn” [4, trang 19]. Đói nghèo trong khu vực thành thị: Đa số người nghèo đô thị làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức, công việc khô ng ổn định, thu nhập thấp và bấp bênh. Một số lao động mất việc làm do chuyển đổi cơ cấu kinh tế và chủ sở hữu trong khu vực Nhà nước, dẫn đến điều kiện sống của họ càng khó khăn, mộ t số người thất nghiệp. Các hộ nghèo thường cóít đất đai và tình trạng không cóđất đang có xu hướng tăng lên tại một số nơi. Thiếu đất đai ảnh hưởng đến việc bảo đảm an ninh lương thực của người nghèo, cũng như khả năng đ a dạng hóa sản xuất để hướng tới sản xuất các loại cây trồ ng với giá trị cao. - Đ iều kiện kinh tế - xã hội N gười nghèo, đồng bào dân tộc ít người và các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt thường có trình đ ộ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm đ ược việc làm tốt, ổn định. Mức thu nhập của họ hầu như chỉđảm bảo nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy, khô ng cóđủđiều kiện nâng cao trình độ của mình trong tương lai, để thoát khỏi cảnh đói nghèo. Bên cạnh đó , trình độ học vấn thấp ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đ ến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái… Những ảnh hưởng này tác động không những đối với thế hệ hiện tại, mà cảđối với các thế hệ tương lai. Suy dinh dưỡng ở trẻ em và trẻ sơ sinh là nhân tốảnh hưởng đến khả năng đến trường của con em các gia đình nghèo nhất và sẽ làm cho việc thoát nghèo thông qua giáo dục, trở nên khó khăn hơn. Số liệu thố ng kê về trình độ học vấn của người nghèo cho thấy, khoảng 90% người nghèo chỉ có trình độ phổ thông cơ sở ho ặc thấp hơn. K ết quảđiều tra mức sống cho thấy, trong số người nghèo, tỷ lệ số người chưa bao giờđi học chiếm 12%, tốt nghiệp tiểu học chiếm 39%; Trung học cơ sở chiếm 37%. Chi phí cho giáo dục đối với người nghèo còn rất lớn, chất lượng giáo dục mà người nghèo tiếp cận đ ược còn hạn chế, gây khó khăn cho họ trong
  14. 14 việc vươn lên tho át nghèo. Tỷ lệ nghèo giảm xuống khi trình độ giáo d ục tăng lên; 80% số người nghèo làm các công việc trong nông nghiệp có m ức thu nhập rất thấp. Trình độ học vấn thấp, hạn chế khả năng kiếm việc làm trong các khu vực khác, trong các ngành phi nô ng nghiệp và những công việc mang lại thu nhập cao vàổn đ ịnh hơn. Do trình độ d ân trí thấp, nên việc bất bình đẳng giới thường xảy ra. Bất bình đ ẳng giới cò n sâu sắc hơn tình trạng nghèo đó i trên tất cả các mặt. Ngoài những bất công mà cá nhân người phụ nữ và trẻ em gái phải chịu đựng do bất b ình đẳng giới, thì còn có những tác động bất lợi khác đối với gia đình. Phụ nữ chiếm gần 50% trong tổng số lao độ ng nông nghiệp và chiếm tỷ lệ cao trong số lao độ ng tăng thêm hàng năm trong ngành nô ng nghiệp. Mặc dù vậy, nhưng phụ nữ chỉ chiếm 25% thành viên các khóa khuyến nông về chăn nuôi và 10% các khóa khuyến nông về trồng trọt. Phụ nữít có cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng vàđào tạo; họ thường xuyên gặp khó khăn do gánh nặng công việc gia đình, thiếu quyền quyết định trong hộ gia đ ình và thường được trả cô ng lao động thấp hơn nam giới ở cùng một loại cô ng việc. Phụ nữ có họ c vấn thấp, d ẫn tới tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và bà mẹ cao hơn, sức khỏe của gia đ ình bịảnh hưởng và trẻ em đi học ít hơn. Bất bình đẳng giới cò n là yếu tố làm gia tăng tỷ lệ sinh và tăng tỷ lệ lây truyền H IV do phụ nữ thiếu tiếng nói và khả năng tự bảo vệ trong quan hệ tình d ục. “Nghèo cũng liên quan chặt chẽ tới nhóm dân tộ c, ngay cả khi tất cả các đặc điểm khác nhau là giống nhau, chi tiêu của một người thuộ c dân tộc thiểu số cũng thấp hơn chi tiêu của một người thuộc hộ người Kinh hoặc người Hoa 13%. Trình đ ộ giáo dục cũng tạo sự khác biệt đáng kể; một hộ gia đình chủ hộ có trình đ ộ trung cấp có mức chi tiêu cao hơn mức trung bình gần 19% và nếu chủ hộ có trình độđại học thì mức cao hơn là 31%. Con số này là 29% nếu vợ/chồ ng có trình độ trung cấp và 48% nếu vợ/chồng có trình độđại học” [3, trang 20].
  15. 15 Ngoài yếu tố dân trí ra thì phong tục, tập quán lạc hậu và các tệ nạn xã hộ i như buôn bán thuố c phiện, khai thác khoáng sản bừa bãi và di dân tự do cũng là nguyên nhân dẫn đ ến đó i nghèo. Một số vù ng đồng bào dân tộc hiện nay vẫn còn những hủ tục lạc hậu, như người ốm khô ng đưa đến các trạm y tếđể chữa bệnh mà mời thầy cú ng đến làm lễđể cúng “con ma” ám vào người bệnh (họ cho rằng người ốm là do ma ám). Làm lễ cúng như thế, bệnh của người ốm ngày càng nặng thêm và rất tốn kém về kinh tế, dẫn đến gia đình nghèo càng nghèo thêm. - Chính sách nhà nước Do cơ chế chính sách Nhà nước thiếu ho ặc không đồng bộ về chính sách đ ầu tư xây dựng, kết cấu hạ tầng cho từng vùng nghèo, chính sách khuyến khích sản xuất, chính sách tín dụng, chính sách giáo dục đào tạo, y tế, chính sách đ ất đ ai…đãảnh hưởng đ ến kết quả XĐGN. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao vàổn định trong thời gian qua là một trong những nhân tốảnh hưởng lớn đ ến mức giảm nghèo. Việt Nam đ ã có những thành tích giảm đó i nghèo rất đa dạng và trên diện rộ ng. Tuy nhiên, quá trình phát triển và mở cửa nền kinh tế cũng có những tác động tiêu cực đến người nghèo: Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý , tỷ lệđầu tư cho nông nghiệp và nông thôn còn thấp, chủ yếu m ới tập trung cho thuỷ lợi, các trục công nghiệp chính, chú trọng nhiều vào đầu tư thay thế nhập khẩu, vẫn chưa chú trọng đầu tư các ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động, chưa chú trọ ng khuyến khích kịp thời phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; nhiều chính sách trợ cấp như lãi suất tín d ụng, trợ giá, trợ cước… không đúng đố i tượng, làm ảnh hưởng xấu đ ến sự hình thành thị trường nông thôn, thị trường ở những vùng sâu, vùng xa. Cải cách doanh nghiệp Nhà nước và những khó khăn về tài chính của các doanh nghiệp nhà nước đã d ẫn tới việc mất đi gần 800.000 việc làm trong giai đoạn đầu tiến hành cải cách doanh nghiệp. Nhiều công nhân b ị mất việc
  16. 16 đã gặp rất nhiều khó khăn trong tìm việc làm m ới và bị rơi vào nghèo đói. Phần lớn số người này là phụ nữ, người có trình độ họ c vấn thấp và người lớn tuổ i. Chính sách cải cách nền kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tự do hoá thương mại tạo ra được những độ ng lực tốt cho nền kinh tế, khuyến khích các doanh nghiệp phát triển. Tuy nhiên, một số ngành công nghiệp thu hú t nhiều lao động chưa được chú trọng, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng tạo việc làm chưa đựợc quan tâm và tạo cơ hộ i phát triển. Tình trạng thiếu thô ng tin, trang thiết bị sản xuất lạc hậu, khả năng cạnh tranh của sản phẩm thấp và năng lực sản xuất hạn chếđã làm không ít các doanh nghiệp nhỏ và vừa bị phá sản vàđẩy công nhân vào cảnh thất nghiệp, buộc họ phải gia nhập vào đội ngũ người nghèo. Tăng trưởng kinh tế giúp XĐGN trên diện rộng, song việc cải thiện tình trạnh của người nghèo về thu nhập, khả năng tiếp cận, phát triển các nguồn lực lại phụ thuộc vào loại hình tăng trưởng kinh tế. Việc phân phối lợi ích tăng trưởng trong các nhó m dân cư b ao gồm cả các nhóm thu nhập phụ thuộc vào đặc tính của tăng trưởng. Phân tích tình hình biển đổi về thu nhập của nhóm dân cư cho thấy, người giàu hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế nhiều hơn và kết quảđã làm tăng thêm khoảng cách giàu nghèo. K ết cấu hạ tầng giao thông đến các vù ng sâu, vùng xa, vùng đói nghèo còn thiếu và yếu kém. Việc tiếp cận đến các vùng này còn hết sức khó khăn, đầu tư của Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu, đóng góp nguồn lực của nhân d ân còn hạn chế, chủ yếu bằng lao động. Hệ thống pháp luật kinh tế vẫn chưa đ ầy đ ủ vàđồng bộ, thiếu một sốđạo luật quan trọng. Nhiều văn bản pháp quy dưới luật chưa được ban hành kịp thời và thiếu nhất quán đã gây khô ng ít cản trở trong quá trình thực hiện. Chất lượng một số luật về kinh tế, mộ t số văn bản pháp quy dưới luật còn yếu.
  17. 17 V iệc mở các lớp bồi d ưỡng về khoa học kỹ thuật mới đ ối với hộ nghèo còn ít, hiệu quả chưa cao. Nhà nước chưa định hướng cụ thể cho người dân nên trồng cây gì, nuôi con gì cho phù hợp với điều kiện từng vùng, từng thời kỳ. Rủi ro trong SXKD của hộ nghèo chưa đ ược xử lý kịp thời để hỗ trợ họ . 1.1.3.2. Nhó m nguyên nhân do bản thâ n hộ nghèo Hộ nghèo thường thiếu nhiều thứ như: Tri thức, học vấn, kỹ năng lao độ ng, khả năng tiếp cận thị trường, sức khỏe. N gười nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực (vốn SXKD, kiến thức và kỹ năng làm ăn, tư liệu sản xuất: Đất sản xuất, cô ng cụ lao động, sức kéo…); trong đó, thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng để SXKD là một lực cản lớn nhất trong việc tho át khỏ i đói nghèo. N gười nghèo thường không đủđ iều kiện để vay được nhiều vốn, trong khi nguồ n vốn tự có khiêm tốn hoặc không có. Thiếu vốn là mộ t trong những nguyên nhân trì hoãn khả năng đổi mới sản xuất, áp dụng khoa họ c cô ng nghệ, giống mới…Mặc dù trong khuôn khổ của dựán tín dụng cho người nghèo thuộc chương trình XĐGN quố c gia, khả năng tiếp cận tín d ụng đã tăng lên rất nhiều. Song vẫn cò n khá nhiều người nghèo, đặc biệt là người rất nghèo không có khả năng tiếp cận với các nguồn tín dụng. Một mặt, khô ng có tài sản thế chấp, những người nghèo phải dựa vào tín chấp với các khoản vay nhỏ, hiệu quả thấp đã làm giảm khả năng ho àn vố n. Mặt khác, đa số người nghèo không có kế ho ạch sản xuất cụ thể, ho ặc sử dụng các nguồn vốn vay không đú ng mục đích, do vậy họ khó cóđiều kiện tiếp cận các nguồn vốn và cuối cùng sẽ làm cho họ càng nghèo hơn. Người nghèo, đồng bào d ân tộc ít người và các đối tượng có ho àn cảnh đặc biệt thường có trình độ họ c vấn thấp, nên không có khả năng tự giải quyết các vấn đề vướng m ắc liên quan đến pháp luật. Nhiều văn b ản pháp luật có cơ chế thực hiện phức tạp, người nghèo khó khăn nắm bắt, mạng lưới các dịch vụ pháp lý, số lượng các luật gia, luật sư hạn chế, phân b ố không đều, chủ yếu
  18. 18 ởcác vùng thành phố, thị xã… Nên người nghèo khó tiếp cận; hơn nữa phí dịch vụ pháp lý còn cao so với khả năng tài chính của họ. Hộ nghèo thường gặp khó khăn và thiếu tự tin trong việc giải quyết các vấn đề của chính bản thân mình. Về giao tiếp xã hội, người nghèo thường quan hệ với những người nghèo như mình, hoặc nghèo hơn m ình. Không muốn quan hệ với những người khá giả hơn mình. Từđó, càng làm hạn chế về khả năng tiếp cận tư d uy mới, cũng như kinh nghiệm làm kinh tế giỏ i. Đây là mộ t cản trở lớn trong công cuộc XĐGN. Đ ại đa số hộ nghèo kiến thức và kỹ năng về sản xuất yếu, phương pháp canh tác cổ truyền đãăn sâu vào tiềm thức. Sản xuất tự cung, tự cấp là chính, chưa có khái niệm về sản xuất hàng hoá. Kiến thức về marketting không có; bán các sản phẩm làm ra, nhưng chưa qua chế biến, nên giá trị thấp; sản phẩm làm ra chưa xuất phát từ nhu cầu của thị trường (bán sản phẩm của mình có, chứ không b án cái mà thị trường cần). Người nghèo thường sống ở những vù ng xa xôi hẻo lánh, giao thông đ i lại khó khăn, thiếu phương tiện thô ng tin liên lạc, con cái thất học…Thiếu việc làm, không năng động tìm kiếm việc làm, lười biếng lao động. Do sinh con nhiều, đông con vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của đó i nghèo. Trong gia đ ình các hộ nghèo m ặc dù nhân khẩu nhiều, nhưng số người có sức lao động lại ít. Các hộ gia đình nghèo rất d ễ bị tổn thương bởi những khó khăn hàng ngày và những biến độ ng bất thường xảy ra đối với cá nhân, gia đình hay cộng đồng. Do nguồn thu nhập của họ rất thấp, bấp bênh, khả năng tích luỹ kém, nên họ khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống (mất mùa, mất việc làm, thiên tai, mất nguồn lao động, mất sức khoẻ…). V ới khả năng kinh tế mong manh của các hộ gia đình nghèo trong khu vực nông thôn, những đột biến này sẽ tạo ra nhưng bất ổ n lớn trong cuộc sống của họ. “Các rủi ro trong SXKD đối với người nghèo cũng rất cao, do họ khô ng có trình độ tay nghề và thiếu kinh nghiệm làm ăn. Khả năng đối phó và khắc phục các rủi ro của người nghèo
  19. 19 cũng rất kém, do nguồn thu nhập hạn hẹp làm cho hộ gia đình mất khả năng khắc phục rủi ro và có thể cò n gặp rủi ro hơn nữa.” [4, trang 24]. Bệnh tật và sức khỏe kém cũng là yếu tốđẩy con người vào tình trạng đó i nghèo. Khi b ị b ệnh tật, hộ nghèo phải gánh chịu mất đ i thu nhập từ lao độ ng và chi phí cao cho việc khám chữa b ệnh; do vậy đẩy họ vào chỗ vay mượn, cầm cố tài sản để trang trải chi phí, dẫn đến tình trạng cóít cơ hội cho người nghèo tho át khỏi đói nghèo. Trong khi đó, khả năng tiếp cận các d ịch vụ phòng bệnh của người nghèo còn hạn chế: Tình trạng sức khỏe của người V iệt Nam trong thập kỷ qua đãđược cải thiện, song tỷ lệ người nghèo mắc các bệnh vẫn còn khá cao. Theo số liệu đ iều tra, mức sống năm 1998, số ngày ốm bình quân của nhóm 20% người nghèo là 3 ,1 ngày/năm, so với 2,4 ngày/năm của nhóm 20% người giàu. Bệnh tật và sức khoẻ yếu ảnh hưởng đến việc lao độ ng sản xuất và tìm việc làm của người nghèo. Hộ nghèo do có người không chịu làm việc, hoặc hay uống rượu, hoặc chơi cờ bạc. 1.1.4. Sự cần thiết phải đẩy mạnh xoáđói giảm nghèo 1.1.4.1. Đói nghèo là nguyên nhân gây mất ổn định xã hội, phá hoại môi trường và cả n trở nâ ng cao dân trí Đ a số người nghèo hiện sống tại khu vực nô ng thôn. Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa nông thôn và thành thị là nguyên nhân chính gây nên các vấn đề xã hội. Ở nông thôn đất sản xuất có hạn và ngày càng b ị thu hẹp; ngành nghề phụ m ột số nơi không phát triển và có thu nhập thấp hoặc không có ngành nghề phụ dẫn đ ến thời gian nông nhàn nhiều, hậu quả góp phần làm nảy sinh các tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộ m cắp, nghiện hú t. Các nguồn tài nguyên xuống cấp và cạn kiệt, đánh bắt cá q uá mức và các môi trường tự nhiên biển bị phá hủy; môi trường tự nhiên ở vù ng đất mặn và ven biển bị mất đi; mất đ ất rừng tự nhiên ở các vùng núi, cùng với sự phá hoại hệ sinh thái đa
  20. 20 dạng; các vùng đ ất có vấn đề ngày càng lan rộng do sử dụng đất kém và không đúng cách, ô nhiễm nước mặn, đ ất và nguồn nước khu vực nông thôn. N hững mất m át đi kèm với việc các hộ nghèo buộc phải bán đất, di dân tự do ra thành thị và ven đô, nơi họ sinh sống thiếu ho ặc không có những dịch vụ cơ bản, mộ t bộ phận con cái họ dễ trở thành nạn nhân của tội phạm (trộm cắp, buôn bán hàng cấm, gái mại dâm…) và sự xuống cấp của môi trường xung quanh tăng ở mức ngoài tầm kiểm soát…Nhiều hộ cả vợ chồng bỏ ra thành phố làm ăn, mộ t năm về nhà vài lần, ở nhà các con tự nuôi nhau ho ặc ở nhà với ông bà già, các con thiếu sự quản lý, thiếu tình thương bố mẹ, nhiều trường hợp học hành giảm sú t bị bỏ dở, tham gia trộm cắp…Tại thành phố sự chênh lệch giàu nghèo rõ nét, thiếu việc là m, không cóđất để sản xuất d ẫn đ ến mộ t số người làm ăn phi pháp, tệ nghiện hú t ở thanh niên ngày càng gia tăng…
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2