intTypePromotion=1

Đề tài: "PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI Ở VIỆT NAM"

Chia sẻ: Tien Dat Dat | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:202

0
331
lượt xem
95
download

Đề tài: "PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI Ở VIỆT NAM"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ở Việt Nam, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển nói chung và từ hoạt động hàng hải nói riêng nhìn chung ítđược đề cập một cách trực tiếp. Tuy nhiên, tài nguyên biển thì lại được nghiêncứu khá cụ thể. Có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ hoặc các đề tài nghiên cứu như là nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan chuyên môn về vấn đề này được thực hiện khá công phu. ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: "PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI Ở VIỆT NAM"

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI LƯU NGỌC TỐ TÂM PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI Ở VIỆT NAM CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ MÃ SỐ: 62.38.01.07 (MÃ SỐ CŨ: 62.38.50.01) LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Vũ Thu Hạnh PGS. TS. Nguyễn Hồng Thao HÀ NỘI - 2012
  2. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi. Nội dung cũng như các số liệu trình bày trong luận án hoàn toàn trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN ÁN LƯU NGỌC TỐ TÂM
  3. MỤC LỤC MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1 Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI ................. 11 1.1. KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI ............................................................................................................ 11 1.1.1. Khái niệm môi trường biển và ô nhiễm môi trường biển............................ 11 1.1.2. Hoạt động hàng hải và ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải .. 17 1.1.3. Khái niệm kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải...... 24 1.2. PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI ................................................................................................ 30 1.2.1. Khái niệm pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ................................................................................................................ 30 1.2.2. Các nguyên tắc của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải .................................................................................... 35 1.2.3. Nội dung cơ bản của pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ............................................................................................... 38 1.2.4. Vai trò của pháp luật đối với việc kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ..................................................................................... 52 1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ..................................................................................... 57 1.3. PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG VIỆC XÂY DỰNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI............................................... 60 1.3.1. Pháp luật quốc tế về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ................................................................................................................ 60 1.3.2. Kinh nghiệm xây dựng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải của một số quốc gia có biển trên thế giới.................... 66 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................................... 72 Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI Ở VIỆT NAM................. 73 2.1. ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI Ở VIỆT NAM QUA CÁC GIAI ĐOẠN ............................................... 73
  4. 2.1.1. Giai đoạn trước năm 1986 .......................................................................... 73 2.1.2. Giai đoạn từ 1986 đến nay .......................................................................... 75 2.2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TÀU BIỂN VÀ THUYỀN BỘ ...................... 78 2.2.1. Các qui định pháp luật về tàu biển ............................................................. 78 2.2.2. Các qui định pháp luật về thuyền bộ........................................................... 85 2.3. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG CẢNG BIỂN .................................................. 89 2.3.1. Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển khi mở cảng biển ............................... 90 2.3.2. Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển khi tàu cập cảng, rời cảng, quá cảnh.92 2.3.3 Trách nhiệm phòng chống cháy nổ và phòng ngừa ô nhiễm môi trường tại cảng biển......................................................................................................... 95 2.4. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG GIAO THÔNG TRÊN BIỂN ......................... 98 2.4.1. Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển theo đặc thù của các hoạt động giao thông trên biển ...................................................................................................... 98 2.4.2. Kiểm soát chất thải đối với các hoạt động giao thông trên biển ................. 99 2.5. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG NGỪA VÀ KHẮC PHỤC SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI............................................ 104 2.5.1. Pháp luật về phòng ngừa sự cố môi trường trong hoạt động hàng hải .... 104 2.5.2. Pháp luật về khắc phục sự cố môi trường trong hoạt động hàng hải ....... 112 2.6. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÍ ĐỐI VỚI KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI ...... 124 2.6.1. Trách nhiệm hành chính .......................................................................... 125 2.6.2. Trách nhiệm hình sự ................................................................................ 131 2.6.3. Trách nhiệm dân sự .................................................................................. 134 2.7. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÁC CƠ QUAN QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI .. 138 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ......................................................................................... 145 Chương 3. NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI Ở VIỆT NAM ............................................................................................................ 146 3.1. CƠ SỞ CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI .................................. 146 3.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển nói riêng ..................................... 146
  5. 3.1.2. Mục tiêu của việc kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải .............................................................................................................. 148 3.1.3. Yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ............................................................... 151 3.2. NHỮNG KIẾN NGHỊ CỤ THỂ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ CÁC QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI .................................... 156 3.2.1. Hoàn thiện các qui định pháp luật thực định của Việt Nam về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải.......................................... 156 3.2.2. Tăng cường sự tham gia, kí kết chuyển hóa các điều ước quốc tế vào pháp luật Việt Nam về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ... 167 3.2.3. Nâng cao hiệu quả của các cơ quan quản lí nhà nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ............................................ 171 3.2.4. Nâng cao hiệu quả các giải pháp kinh tế, khoa học kĩ thuật và tuyên truyền giáo dục về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ............. 174 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ......................................................................................... 184 KẾT LUẬN ............................................................................................................ 185 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT
  6. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Biển và đại dương chiếm 71% bề mặt của trái đất. Lịch sử tiến hóa của loài người luôn gắn kết với biển. Nền văn minh nhân loại càng cao, nền kinh tế càng phát triển thì giá trị của biển càng được tôn vinh. Biển mang lại cho con người những giá trị to lớn về kinh tế, về môi sinh và về khoa học. Tuy nhiên, cùng với nhu cầu ngày càng tăng về các giá trị từ biển, con người đã và đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho biển và các nguồn tài nguyên biển từ các hoạt động trên biển, trong đó có hoạt động hàng hải. Vùng biển Việt Nam rộng khoảng 1 triệu km2, án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch giữa ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa Châu Á, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực. Bờ biển Việt Nam dài 3260km, bao bọc lãnh thổ Việt Nam ở cả 3 hướng Đông, Nam và Tây Nam, tính trung bình cứ 100 km2 đất liền có 1km bờ biển (tỉ lệ này cao gấp 6 lần tỉ lệ trung bình của thế giới). Biển Việt Nam rất thuận lợi để phát triển các ng ành kinh tế mũi nhọn như dầu khí, hải sản, vận tải biển, cảng biển và kết cấu hạ tầng, công nghiệp tàu biển, du lịch biển và các ngành dịch vụ biển khác… Hội nghị lần thứ Tư Ban chấp hành trung ương Đảng khóa X đã đưa ra Nghị quyết về Chiến lược Biển đến năm 2020, “phấn đấu đưa kinh tế biển đóng góp khoảng 53 - 55% GDP và 55 - 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước”. Với những đặc điểm đó, hoạt động hàng hải Việt Nam cũng rất thuận lợi để phát triển nhằm các mục đích thương mại, an ninh quốc phòng, du lịch, dịch vụ, thăm dò khai thác tài nguyên, khảo sát đo đạc biên vẽ hải đồ…, mang lại nhiều giá trị kinh tế cho sự phát triển của đất nước. Theo quan điểm của Đảng về chiến lược Biển Việt Nam, kinh tế hàng hải được sử dụng làm yếu tố đột phá để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững kinh tế biển, góp phần bảo đảm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia về biển, đảo. Định hướng chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2020 đưa mục tiêu phát triển kinh tế hàng hải đứng vị trí thứ hai sau khai thác chế biến dầu khí và các loại khoáng sản; đến sau 2020 đứng vị trí thứ nhất cần ưu tiên phát triển trong 5 ngành kinh tế biển. Có thể nói Đảng ta đã đánh giá đánh giá một cách toàn diện về vai trò, vị trí của biển và kinh tế biển, của hoạt động hàng hải đối với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước. Vì vậy, cũng chính từ các hoạt động hàng hải này, môi trường biển và các nguồn tài nguyên biển đã và đang đứng trước các nguy cơ ô nhiễm và suy thoái. Hàng năm, biển Việt Nam phải đối diện với tình trạng ô nhiễm nước biển trầm trọng do các sự cố từ giao
  7. 2 thông vận tải thủy, các nguồn tài nguyên biển đang bị giảm sút. Mặc dù có nhiều giải pháp đang được tính đến nhưng hiệu quả thực sự không cao. Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ các hoạt động hàng hải còn nhiều hạn chế. Bộ luật Hàng Hải 2005 chỉ có 4 điều quy định về việc phòng ngừa ô nhiễm môi trường. Luật bảo vệ môi trường 2005 mới chỉ dừng lại ở các quy định mang tính nguyên tắc về bảo vệ môi trường biển nói chung. Hệ thống các cơ quan quản lí nhà nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam nói chung còn nhiều bất cập. Mới đây, Tổng cục Biển và Hải đảo (trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường) được thành lập theo Nghị định số 25/2008/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 4/3/2008 Qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Bên cạnh đó, nhiều điều ước quốc tế về vấn đề này được ký kết mà Việt Nam là một quốc gia thành viên càng đòi hỏi Việt Nam phải có một hệ thống pháp luật đủ mạnh, một hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước đủ tầm để giải quyết được các vấn đề thực tế đặt ra. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu các vấn đề thực trạng hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong các hoạt động hàng hải, tìm ra những bất cập, hạn chế để từ đó tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về vấn đề này là một đòi hỏi bức thiết cả về lý luận và thực tiễn. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Môi trường biển nói chung luôn là một đề tài được quan tâm bởi những ưu thế của biển về kinh tế, chính trị, văn hóa, du lịch, an ninh quốc phòng, môi trường…, mặt khác nó lại liên quan đến nhiều lĩnh vực, đòi hỏi sự hợp tác của nhiều quốc gia trên thế giới. Hoạt động hàng hải đã và đang mang lại hiệu quả to lớn về nhiều mặt. Vì vậy, có nhiều đề tài và công trình nghiên cứu được công bố có liên quan đến lĩnh vực này. Trên thế giới, các đề tài nghiên cứu về bảo vệ môi trường biển nói chung và có liên quan đến kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ các hoạt động hàng hải nói riêng được thực hiện trong nhiều năm qua. Các công trình tiêu biểu là “Bảo vệ môi trường biển ASEAN khỏi ô nhiễm dầu và những đóng góp của Nhật đối với khu vực” của tác giả Chia Lin Sien, Viện Kinh tế phát triển Singapore năm 1994 (Chia Lin Sien: Protecting the Marine Environment of ASEAN from Sip-generated Oil Pollution and Japan’s Contribution to the Region, Institute of Developing Economies, Singapore, 1994); cuốn “Dầu khí trong bảo vệ môi trường biển” của Hoa Kì năm 1975 (National Academy of Sciencies: Petroleum in the Marine Environment, Washington, DC, 1975); cuốn “Sổ tay về ô nhiễm biển” do GARD xuất bản năm 1985 (Gold E.: Handbook marine pollution, GARD, 1985); “Triển vọng của gas và dầu từ biển” xuất bản tại New York/Canada năm 1983 (Mangone: The future of gas and oil from the sea, New
  8. 3 York/London, 1983); hay cuốn “Luật ô nhiễm biển của khu vực Australasian” (White M.: Marine Pollution Laws of the Australasian Region, The Federation Press, 1994)... Tổ chức Hàng hải thế giới cũng xuất bản một số ấn phẩm như “Sổ tay Dịch vụ vận tải biển” năm 1997 (IMO, 1997. Guidelines for Vessel Traffic Services. Resolution A.857(20), adopted on 27 November 1997, London.); Sửa đổi hướng dẫn cho việc xác định và chỉ định các vùng biển đặc biệt nhạy cảm (PSSSAs) năm 2005 (IMO, 2005. Revised guidelines for the identification and disignation of particularly sensitive sea areas (PSSAs). Resolution A.982(24), adopted on 1 December 2005, London)… Các công trình nêu trên chủ yếu tập trung vào một số nội dung tiêu biểu là: (i) bảo bệ môi trường biển nói chung trước các tác động tiêu cực kể cả do con người cũng như do thiên nhiên; (ii) đánh giá những hậu quả xảy ra từ những tác động tiêu cực đó, (iii) chỉ ra đặc thù về mặt sinh học, hóa học của từng vùng biển, (iv) nêu ra ưu thế của các loại hình dịch vụ vận tải biển. Những công trình này đều đã đóng góp một phần vào việc bảo vệ môi trường biển, tạo ưu thế cho hoạt động hàng hải phát triển. Tuy nhiên, do giới hạn của từng công trình, chúng đã không đề cập tới việc kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải cũng như phân tích hoạt động này dưới góc độ luật học. Ở Việt Nam, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển nói chung và từ hoạt động hàng hải nói riêng nhìn chung ít được đề cập một cách trực tiếp. Tuy nhiên, tài nguyên biển thì lại được nghiên cứu khá cụ thể. Có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ hoặc các đề tài nghiên cứu như là nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan chuyên môn về vấn đề này được thực hiện khá công phu. Đó là đề tài cấp Nhà nước KH-06-07 thực hiện năm 2000, “Nghiên cứu xây dựng giải pháp quản lý tổng hợp vùng bờ biển Việt Nam, bảo đảm an toàn sinh thái và phát triển bền vững” (lưu trữ tại Bộ KH&CN) Hà Nội; Đề tài KC.CB.01.10.TS “Nghiên cứu thiết kế loại tầu cá cỡ nhỏ có khả năng hoạt động an toàn trên vùng biển xa bờ (khu vực Trường Sa - DK1)” do Tổng Công ty Hải sản Biển Đông thực hiện năm 2003; Đề tài KC.CB.01.16 TS “Nghiên cứu công nghệ xử lý nước thải trong các vùng nuôi tôm tập trung” do Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản 2 chủ trì thực hiện đề tài năm 2004; Đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự suy thoái môi trường và đề xuất các giải pháp sử dụng đất và nước ở các vùng nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh đang giảm năng suất” do Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản 3 chủ trì thực hiện đề tài năm 2006, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước “Cơ sở khoa học về vấn đề khai thác chung trong các vùng biển theo Luật Biển quốc tế và thực tiễn của Việt Nam” do Trung tâm Luật Biển và Hàng hải quốc tế thuộc Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà nội thực hiện năm 2008…
  9. 4 Bên cạnh đó, một số đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ đã được thực hiện nhằm bảo tồn tài nguyên biển, có liên quan tới kiểm soát ô nhiễm môi trường biển như: đề tài “Cơ sở khoa học hình thành hệ thống quan trắc môi trường để cảnh báo môi trường, dịch bệnh vùng đồng bằng Sông Cửu Long” do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản II thực hiện năm 2002; Đề tài “Đánh giá môi trường trong nuôi trồng thuỷ sản ven biển Việt Nam và đề xuất các giải pháp quản lí” do Viện Kinh tế và Qui hoạch Thủy sản thực hiện năm 2002; Đề tài “Chiến lược bảo vệ môi trường thuỷ sản Việt Nam giai đoạn 2001-2010; kế hoạch hành động bảo vệ môi trường ngành thuỷ sản đến năm 2005” do Viện nghiên cứu Hải sản thực hiện năm 2002; Đề tài “Nghiên cứu xây dựng chiến lược khai thác hải sản Việt Nam đến năm 2010” do Viện Kinh tế và Qui hoạch Thủy sản thực hiện năm 2003; Đề tài “Hoàn chỉnh qui hoạch và qui chế quản lí khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2010” do Viện Kinh tế và Qui hoạch Thủy sản thực hiện năm 2003… Tại các cơ quan, viện nghiên cứu, trường đại học cũng thực hiện những đề tài nghiên cứu có liên quan như Đề tài “Xây dựng qui trình thực hiện công tác hải đồ phục vụ yêu cầu dẫn tàu an toàn và thanh tra nhà nước về cảng biển” do trường Đại học Hàng Hải thực hiện năm 2011, hay đề tài “Nghiên cứu xây dựng qui trình quản lí nước ballast cho tàu” do trường Đại học Hàng hải thực hiện năm 2011 với mục tiêu nghiên cứu và xây dựng qui trình quản lí nước dằn tàu cho các tàu phù hợp với các yêu cầu của Tổ chức Hàng hải thế giới... Nhìn chung, những đề tài trong nước nêu trên đã nghiên cứu về các hoạt động liên quan đến tài nguyên biển, đặc biệt là nguồn lợi thủy sản, như khai thác thủy sản, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, nuôi trồng nguồn lợi thủy sản, ngư cụ trong các hoạt động thủy sản hoặc ứng dụng công nghệ mới trong các hoạt động thủy sản. Những đề tài này không đề cập trực tiếp đến kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ hoạt động hàng hải mà liên quan đến việc bảo vệ các nguồn tài nguyên biển, làm cơ sở cho phát triển bền vững môi trường biển. Hoặc cũng có những đề tài thực hiện về lĩnh vực hàng hải nhưng chỉ là kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ những góc độ tiếp cận hẹp, đưa ra các giải pháp về khoa học kĩ thuật chứ không mang tính pháp lí. Những đề tài này ít nhiều có liên quan và làm cơ sở cho việc kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải. Bên cạnh các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ thì một số các sách, tài liệu tham khảo, chuyên khảo có liên quan đến kiểm soát ô nhiễm môi trường biển Việt Nam cũng đã được công bố. Đó là: tác phẩm Kinh tế biển và khoa học kỹ thuật về biển của nước ta của tác giả Võ Nguyên Giáp, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, năm 1987; Các văn bản pháp quy về biển và quản lý bờ biển của Việt Nam do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản tại Hà Nội năm 1995; Môi trường biển và
  10. 5 quản lý vùng ven bờ biển của Việt Nam của tác giả Đỗ Đức Dương, Inforterra, Hà Nội năm 1997; Những điều cần biết về Luật Biển của tác giả Nguyễn Hồng Thao, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội năm 1997; Ô nhiễm môi trường biển Việt Nam - luật pháp và thực tiễn của TS. Nguyễn Hồng Thao, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội năm 2003; Cơ sở khoa học, pháp lý và tình hình thực thi các qui định của Công ước 1982 của Liên hiệp quốc về Luật biển trong lĩnh vực nghề cá Việt Nam của tác giả Nguyễn Chu Hồi và Hồ Thu Minh năm 2003 (Báo cáo lưu trữ tại Ban Biên giới, Bộ Ngoại giao, Hà Nội); Cẩm nang tập huấn cấp tỉnh về quản lí tổng hợp vùng biển cho Việt Nam, của tác giả Nguyễn Chu Hồi và những người khác năm 2004 (Tài liệu của MoFi-WorldFish Centre).… Pháp luật về bảo vệ môi trường biển, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và bảo vệ tài nguyên biển cũng đã được nghiên cứu ở cấp độ các bài báo trên các tạp chí chuyên ngành như Bức tranh ô nhiễm biển Việt Nam của tác giả Nguyễn Chu Hồi và những người khác trong Tuyển tập nghiên cứu, tập 1 của Tạp chí Môi trường, NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội năm 1997; Ô nhiễm dầu ở vùng biển ven bờ Việt Nam chưa rõ nguồn gốc của tác giả Phạm Văn Ninh trong cuốn Môi trường - Các công trình nghiên cứu, tập VI, Hà Nội năm 1998; Vụ Vedan và vấn đề ô nhiễm do nhận chìm của tác giả Nguyễn Hồng Thao trong tập bài giảng tập huấn quản lý ven biển tại Hải Phòng 1997 - Nha Trang 1998; Quá trình phân định biển Việt Nam - Thái Lan của tác giả Nguyễn Hồng Thao trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật 1 số 117 năm 1998; Hiệp định phân định vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc bộ giữa Việt Nam - Trung Quốc của tác giả Nguyễn Hồng Thao trong tạp chí Quốc Phòng toàn dân số tháng 2/2001; Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường biển ở Việt Nam của ThS Lưu Ngọc Tố Tâm trên tạp chí Tòa án nhân dân số 10, tháng 5/2006… Nghiên cứu ở cấp độ Thạc sĩ Luật học, tác giả Đặng Hoàng Sơn đã hoàn thành Luận văn với đề tài “Pháp luật về ô nhiễm môi trường trong hoạt động dầu khí ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Hà Nội 2004. Nghiên cứu ở cấp độ Tiến sĩ Luật học, NCS. Nguyễn Thị Như Mai đã hoàn thành Luận án với đề tài “Những vấn đề lí luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật Hàng hải Việt Nam”, Hà Nội 2004. Ngoài ra, với chủ đề Chúng ta muốn biển và đại dương sống hay chết nhân Ngày Môi trường thế giới 5/6 của Việt Nam năm 2004, Báo cáo Môi trường Quốc gia năm 2004 cũng đã được hoàn thành với chủ đề Ô nhiễm biển từ đất liền Việt Nam… Có thể thấy, mặc dù đã có nhiều đề tài khoa học, sách, sách chuyên khảo, các bài viết, công trình nghiên cứu, luận văn, luận án… nhưng những công trình này hoặc đi sâu dưới góc độ quản lý tài nguyên biển, hoặc dưới góc độ các yếu tố kĩ thuật, nghiên cứu
  11. 6 về các hoạt động đối với tài nguyên biển, đặc biệt là nguồn lợi thuỷ sản. Nếu nghiên cứu dưới góc độ khoa học pháp lí, các công trình này hoặc chỉ đề cập đến một mảng hẹp trong hoạt động hàng hải nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, hoặc lại quá chuyên sâu về pháp luật hàng hải mà chưa tiếp cận dưới góc độ pháp luật môi trường. Tóm lại, cho đến nay, chưa hề có một công trình nghiên cứu đầy đủ, toàn diện ở cấp độ Tiến sĩ về những vấn đề lí luận, thực trạng về các khía cạnh pháp lí trong kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải để đưa ra những giải pháp cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam. Đề tài luận án “Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam” về cơ bản là đề tài mới, chưa được nghiên cứu một cách toàn diện. 3. Mục đích, phạm vi, đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài Mục đích nghiên cứu: Mục đích của luận án là làm sáng tỏ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng và hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển thuộc phạm vi nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như khoa học quản lí môi trường biển, kinh tế môi trường biển, xã hội học môi trường biển… Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển nói chung và trong hoạt động hàng hải nói riêng thuộc đối tượng điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật khác nhau như hệ thống pháp luật quốc tế, các điều ước quốc tế có liên quan và hệ thống pháp luật của các quốc gia có biển nhằm điều chỉnh các hoạt động xâm hại biển và tài nguyên biển. Dưới góc độ pháp lí, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải thuộc phạm vi nghiên cứu của nhiều ngành luật như: Dân sự, Kinh tế, Hành chính, Quốc tế… Mỗi ngành luật lại nghiên cứu vấn đề dưới các nội dung khác nhau. Trong phạm vi luận án, chúng tôi tập trung nghiên cứu các qui định của pháp luật Việt Nam về kiểm soát ô nhiễm biển nhằm điều chỉnh các hoạt động hàng hải trong phạm vi xa nhất là tính từ vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (khoảng cách 200 hải lí tính từ Đường Cơ sở) trở vào phía biển Việt Nam, có phân tích các quy định trong các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam tham gia với tư cách thành viên, đồng thời có tham khảo một số qui định pháp luật của các quốc gia có các điều kiện tương đồng với Việt Nam về vấn đề này. Tuy nhiên, luận án tập trung nghiên cứu xem xét các vấn đề nêu trên dưới góc độ pháp luật kinh tế. Điều này có nghĩa là trên cơ sở tiếp cận toàn diện các nội dung liên quan đến kiểm soát ô nhiễm môi trường biển dưới các
  12. 7 góc độ khác nhau, luận án nhấn mạnh đến cách tiếp cận của pháp luật kinh tế được thể hiện qua các định chế pháp lí, các công cụ, phương tiện, các cách tiếp cận việc kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam mang nội dung kinh tế, phản ánh các yêu cầu, qui luật kinh tế. Trong khoa học pháp lí hiện đại, Luật Môi trường là lĩnh vực tương đối phức tạp xét từ đối tượng điều chỉnh của chúng, nhất là đối với khoa học pháp lí Việt Nam vốn nặng về việc phân chia pháp luật theo các ngành độc lập. Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải cũng là một nội dung rộng và phức tạp, liên quan đến nhiều ngành luật khác nhau như: Luật Quốc tế, Luật Kinh tế, Luật Hành chính… Theo đó, luận án “Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam” được thực hiện trong phạm vi chuyên ngành Luật Kinh tế, lấy khía cạnh pháp luật kinh tế làm trung tâm. Đây cũng là cách tiếp cận phù hợp với hướng nghiên cứu của các ngành khoa học liên quan đến môi trường nói chung như khoa học quản lí môi trường, kinh tế học môi trường, xã hội học môi trường… Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là: Hệ thống văn bản pháp luật thực định của Việt Nam về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải Các Điều ước quốc tế liên quan đến kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải mà Việt Nam là quốc gia thành viên Thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện được mục đích trên, luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây: Thứ nhất, làm rõ sự cần thiết của việc kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải bằng pháp luật, cách tiếp cận của pháp luật quốc tế về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải, những quan điểm, nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam. Thứ hai, nghiên cứu, làm rõ quá trình hình thành và nội dung từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam với tính chất là một bộ phận trong hệ thống pháp luật môi trường, trong mối quan hệ tác động qua lại mật thiết với các đòi hỏi về phát triển kinh tế của đất nước, đáp ứng các yêu cầu về an ninh chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng…
  13. 8 Thứ ba, nghiên cứu các quy định cùng loại trong pháp luật môi trường của một số nước để rút ra những kinh nghiệm có thể vận dụng vào việc hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam. Thứ tư, xác lập cơ sở lý luận và đề xuất những kiến nghị cụ thể về việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam nhằm đáp ứng được những đòi của thực tiễn cả về trước mắt cũng như lâu dài. 4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền. Các phương pháp nghiên cứu: phân tích, thống kê, so sánh, đối chiếu, lịch sử, chứng minh, tổng hợp, quy nạp. Trong đó, phân tích, thống kê, so sánh và chứng minh được xác định là những phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận án. Cụ thể như sau: - Phương pháp phân tích được sử dụng ở tất cả các chương, mục của luận án để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài. - Phương pháp thống kê được sử dụng ở cả 3 chương để tập hợp, xử lý các tài liệu, số liệu...phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài. - Phương pháp so sánh, đối chiếu được sử dụng ở cả ba chương của luận án để đối chiếu, đánh giá các qui định pháp luật khác nhau của một số quốc gia trên thế giới, của các điều ước quốc tế về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải với các qui định pháp luật của Việt Nam... - Phương pháp chứng minh được sử dụng để chứng minh các luận điểm tại chương 1, các nhận định về thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam tại chương 2 và các yêu cầu, đề xuất phương án xây dựng, hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải tại chương 3 của luận án. - Phương pháp tổng hợp, qui nạp được sử dụng chủ yếu trong việc đưa ra những kết luận của từng chương và kết luận chung của luận án. 5. Kết quả nghiên cứu và những đóng góp mới của luận án Luận án đạt được những kết quả sau: Thứ nhất, Luận án nêu ra khái niệm hoàn chỉnh về môi trường biển, về ô nhiễm môi trường biển, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải cũng như khái niệm pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải.
  14. 9 Những khái niệm này đã được phân tích, so sánh với những căn cứ khoa học và thực tiễn, trên cơ sở phù hợp với những đặc trưng cơ bản của kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải nên sẽ rất có giá trị về lí luận đối với khoa học pháp lí. Thứ hai, Luận án đã phân tích các yếu tố cấu thành của pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải với những nội dung, vai trò, những yếu tố ảnh hưởng đến việc ban hành pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải. Nội dung này được phân tích một cách sâu sắc, có tham khảo quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, và vì vậy, nó có giá trị về mặt lí luận đối với khoa học pháp lí cũng như tính khả thi khi thực hiện việc kiểm soát ô nhiễm môi trường biển hoạt động hàng hải bằng pháp luật. Thứ ba, Luận án đã mô tả toàn diện, đầy đủ về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam, chỉ ra những bất cập, những lỗ hổng trong hệ thống pháp luật đã không tạo ra tác động tích cực đến việc kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong thực tế. Mặt khác, Luận án cũng phân tích nguyên nhân của sự yếu kém về năng lực thừa hành pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam. Những bất cập này lần đầu tiên được phát hiện và phân tích, vì thế, luận án đã tạo ra được những luận cứ khoa học và thực tiễn thuyết phục cho sự cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải. Thứ tư, Luận án đã xác định rõ những yêu cầu cơ bản của việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải. Từ đó, luận án đã kiến nghị các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này. Đặc biệt, luận án kiến nghị việc Việt Nam cần gia nhập và kí kết các Điều ước quốc tế có liên quan, hoàn thiện và tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống các cơ quan quản lí nhà nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động hàng hải. Thứ năm, với mục đích tăng cường hiệu quả của các qui định của pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải, luận án cũng chỉ ra những giải pháp hỗ trợ khác như tăng cường tính hiệu quả của các công cụ kinh tế, các biện pháp khoa học kĩ thuật cũng như giải pháp nâng cao nhận thức cộng đồng và xã hội hóa công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải. Về những điểm mới của luận án: Luận án có những điểm mới đóng góp cho sự phát triển của khoa học chuyên ngành, bao gồm: Thứ nhất, xây dựng được hệ thống lí luận khoa học về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam.
  15. 10 Thứ hai, mô tả một cách toàn diện, đầy đủ về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam, chỉ ra những bất cập, những lỗ hổng trong hệ thống pháp luật này; phân tích nguyên nhân của sự yếu kém về năng lực thừa hành pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam. Thứ ba, xây dựng hệ quan điểm khoa học cũng như đưa ra những giải pháp tiến bộ, hiện đại cho việc hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam phù hợp với pháp luật quốc tế và xu hướng quản lí tổng hợp biển, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế biển và phát triển bền vững tài nguyên môi trường biển hiện nay. 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung và phát triển những vấn đề lí luận về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải, tạo cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của luận án không chỉ là tài liệu có giá trị cho việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học mà còn là tài liệu cho các cơ quan hoạch định chính sách, xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải; kiện toàn hệ thống các cơ quan quản lí nhà nước về vấn đề này. Các ý kiến, kết luận được trình bày trong luận án có thể làm cơ sở cho việc xây dựng chương trình tuyên truyền, phổ biến nội dung các Điều ước quốc tế về biển mà Việt Nam là thành viên, nội dung các qui định pháp luật Việt Nam về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải, qua đó góp phần bảo đảm và thúc đẩy phát triển kinh tế biển đi đôi với bảo vệ các thành phần môi trường biển và các nguồn tài nguyên biển. 7. Kết cấu của luận án Luận án gồm phần mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo. Nội dung được bố cục thành ba chương. Tên của các chương cụ thể như sau: Chương 1: Những vấn đề lí luận về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải Chương 2: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải Chương 3: Yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải.
  16. 11 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI 1.1. KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI 1.1.1. Khái niệm môi trường biển và ô nhiễm môi trường biển 1.1.1.1. Khái niệm môi trường biển “Môi trường biển” là một thuật ngữ chưa có bề dày lịch sử và cũng ít được định nghĩa một cách đầy đủ, toàn diện. Nó mới chỉ hình thành vào nửa cuối của thế kỷ XX và được nhận biết như một từ ghép giữa thuật ngữ “biển” và thuật ngữ “môi trường”. Lịch sử phát triển loài người đã cho thấy rõ là cả một thời kỳ dài người ta chỉ đề cập đến thuật ngữ “biển” hoặc “biển cả” mà không đề cập đến thuật ngữ “môi trường biển”. Điều này được lí giải bởi từ xa xưa, con người chỉ biết đến vai trò to lớn của biển, tiếp nhận biển cả như một món quà ban tặng của thiên nhiên mà không cần phải thực hiện một nghĩa vụ nào, cũng như coi các nguồn tài nguyên sinh vật biển là vô hạn. Hơn nữa, biển cả được hình dung là rộng lớn vô cùng, có thể hấp thụ và chuyển hóa mọi loại chất thải mà con người đưa đến, nên thuật ngữ “môi trường biển” với vấn đề bảo vệ môi trường biển chưa được đặt ra. Sau những năm 1960, với sự quan tâm nhiều hơn của cộng đồng thế giới đến bảo vệ môi trường, thuật ngữ môi trường biển cũng đã dần xuất hiện. Thời kỳ này, thuật ngữ môi trường biển chưa được sử dụng một cách độc lập mà mới chỉ được đề cập cùng với những vấn đề liên quan đến bảo tồn tài nguyên biển và kiểm soát ô nhiễm biển. Phải đến Công ước Luật Biển UNCLOS 1982, bản công ước được cộng đồng quốc tế coi là Tuyên ngôn về Biển, “môi trường biển” mới được đề cập một cách chính thức, nhưng cũng chỉ tồn tại dưới dạng liệt kê một số yếu tố tự nhiên của môi trường biển mà chưa xây dựng được một khái niệm hoàn chỉnh. Cụ thể là Điều 1, khoản 4 Công ước Luật Biển 1982 có quy định “môi trường biển” bao gồm “các cửa sông”, “hệ động vật biển và hệ thực vật biển”, “chất lượng nước biển” và “giá trị mĩ cảm của biển”. Rõ ràng định nghĩa trên chưa đạt được mức khái quát về môi trường biển và vẫn còn ít nhiều phiến diện, vì môi trường biển không chỉ bao gồm những yếu tố nêu trên mà còn gồm các thành tố khác tạo nên môi trường biển như lòng đất dưới đáy biển, không khí, nước biển, các tài nguyên phi sinh vật biển…
  17. 12 Cùng với nhu cầu bảo vệ biển ngày càng tăng và sự quan tâm nhiều hơn của con người đến môi trường biển, thuật ngữ môi trường biển đã được sử dụng một cách chính thức trong Chương trình hành động 21 (Agenda 21). Đây là một văn kiện được đưa ra tại Hội nghị Thượng đỉnh trái đất về bảo vệ môi trường họp tại Rio De Janeiro năm 1992, là chương trình hành động vì sự phát triển bền vững. Tại Chương 17 của Agenda 21 định nghĩa “Môi trường biển là vùng bao gồm các đại dương và các biển và các vùng ven biển tạo thành một tổng thể, một thành phần cơ bản của hệ thống duy trì cuộc sống toàn cầu và là tài sản hữu ích tạo cơ hội cho sự phát triển bền vững”. Đây được coi là định nghĩa chính thức về môi trường biển. Thành công của định nghĩa này là chỉ ra được giá trị cơ bản của môi trường biển, đó là “duy trì cuộc sống toàn cầu” và là “tài sản hữu ích”. Định nghĩa đã nhấn mạnh đến mục tiêu phát triển bền vững, một hướng đi phù hợp với quan điểm bảo vệ môi trường toàn cầu hiện đại. Đồng thời, giá trị của định nghĩa này còn ở chỗ nó được nêu ra trong một văn kiện có tầm ảnh hưởng lớn, tại Hội nghị quốc tế về môi trường quan trọng và được kí kết bởi, gần như là, toàn thể cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân, chúng tôi cho rằng định nghĩa này vẫn chưa mô tả hết được những yếu tố cấu thành của môi trường biển. Điều đó được minh chứng qua những luận điểm sau đây: Thứ nhất, môi trường biển được giới hạn bởi chiều ngang và chiều sâu. Định nghĩa về môi trường biển tại Chương 17 Agenda 21 mới chỉ ra được giới hạn theo chiều ngang của môi trường biển, bao gồm các đại dương, các biển và các vùng ven biển. Môi trường biển còn được giới hạn bởi chiều sâu của nó, bao gồm cả vùng đất dưới đáy biển. Xem xét dưới góc độ khoa học, môi trường biển bao gồm cả một vùng nước mặn rộng lớn, nằm ở độ sâu trung bình khoảng 4000 mét tính từ mặt biển trở xuống [30; tr.71]. Về vấn đề này, chúng tôi nhất trí với quan điểm của PGS. TS. Nguyễn Hồng Thao, nếu chỉ xét đơn thuần về phương diện địa lí thì “môi trường biển là toàn bộ vùng nước biển của trái đất với tất cả những gì chứa trong đó”, còn nếu xét dưới góc độ môi trường thì “định nghĩa môi trường biển lại rộng lớn hơn rất nhiều” [42; tr.13] Nghĩa là cần phải xem xét cả chiều ngang lẫn chiều sâu của môi trường biển và những yếu tố cấu thành trong nó. Thứ hai, môi trường biển được tạo nên bởi các thành phần môi trường. Môi trường biển được hợp thành bởi nhiều yếu tố khác nhau như lòng đất dưới đáy biển, nước biển, không khí, hệ động vật biển, hệ thực vật biển, tạo nên các đại dương, các biển… Đây là các thành phần môi trường. Biển là thành phần chính của môi trường biển, đồng thời cũng là một trong các thành phần của môi trường nói chung. Biển, đại dương và các thành phần khác của môi trường biển không nên được xem là những
  18. 13 thực thể độc lập mà cần phải đặt chúng trong mối quan hệ với nhau và quan hệ với những thành phần môi trường khác, như chúng tương tác với bầu khí quyển phía trên mặt nước, dưới đáy biển và với lục địa..., mà những thành phần môi trường đó lại chính là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trường biển nghiêm trọng. Tương tự, biển, đại dương và các thành phần khác của môi trường biển cũng có mối tương tác quan trọng đối với các hoạt động của con người, đặc biệt là các hoạt động của con người trên biển. Những phân tích này cho thấy môi trường biển được tạo thành bởi các thành phần môi trường và có mối liên hệ mật thiết qua lại lẫn nhau mà không thể tách rời chúng. Thứ ba, môi trường biển có chứa nhiều loại tài nguyên. Tài nguyên thuộc môi trường biển được gọi là tài nguyên biển, được hình thành và phân bố trong khối nước biển và đại dương, trên bề mặt đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển. Tài nguyên biển bao gồm tài nguyên sinh vật biển, gồm các dạng sống của thế giới hữu sinh như tôm cá..., và tài nguyên phi sinh vật biển, gồm các dạng vật chất của thế giới vô sinh như quặng kim loại, đất đá... Tài nguyên biển cũng có thể được chia ra thành tài nguyên biển có thể tái tạo và tài nguyên biển không thể tái tạo, trong đó tài nguyên biển có thể tái tạo là loại tài nguyên có thể được phục hồi sau một khoảng thời gian trong điều kiện phù hợp, còn tài nguyên biển không thể tái tạo là các dạng tài nguyên vô sinh, không thể phục hồi thành phần và khối lượng ban đầu sau khi bị khai thác. Thứ tư, môi trường biển có nhiều giá trị kinh tế, khoa học và môi sinh. Môi trường biển được các nhà khoa học đánh giá là cội nguồn của sự sống trên trái đất. Điều này được thể hiện qua sự đa dạng của sinh học, với 18 vạn loài động vật và 2 vạn loài thực vật đã được phát hiện, trong đó có 400 loài cá và hơn 100 loài hải sản có giá trị kinh tế cao [42; tr.14]. Môi trường biển mang lại sự sống cho toàn bộ hệ sinh thái dưới nước, cho tài nguyên sinh vật biển. Trên thế giới, con người đã khai thác tổng giá trị kinh tế từ các nguồn tài nguyên biển ước tính khoảng 7000 tỷ USD mỗi năm [45; tr.09]. Các nhà khoa học dự đoán rằng vào các thế kỉ tới, biển và đại dương sẽ là nơi dự trữ cuối cùng của loài người về thực phẩm, năng lượng và nhiên liệu. Đồng thời, biển cũng là nơi diễn ra các hoạt động thương mại du lịch, giao thông vận tải thuỷ, nơi có thể khai thác giá trị kinh tế to lớn. Khoảng 60% dân số thế giới hiện đang sống tại các vùng ven biển, và tỉ lệ này có thể tăng lên khoảng 75% vào năm 2020 [66]. Từ những phân tích trên, theo quan điểm của chúng tôi, môi trường biển nên được định nghĩa “là một thể thống nhất, bao gồm các biển, đại dương, các vùng ven biển, cửa sông, được giới hạn bởi toàn bộ vùng nước biển của trái đất với tất cả những gì chứa trong đó như các loại tài nguyên sinh vật biển và tài nguyên phi sinh
  19. 14 vật biển, được tạo nên bởi các thành phần môi trường và sự tương tác giữa chúng, có giá trị về kinh tế, về khoa học và về môi sinh”. 1.1.1.2. Khái niệm ô nhiễm môi trường biển Trước tiên cần có sự phân biệt giữa ô nhiễm môi trường biển với nhiễm bẩn môi trường biển. Đây là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất mặc dù giữa chúng có mối liên hệ nhất định. Nhiễm bẩn môi trường biển ám chỉ sự hiện diện hay tích tụ các chất bẩn hoặc các hóa chất độc hại có trong môi trường biển [42; tr.26]. Nhiễm bẩn môi trường biển cho biết kết quả kiểm nghiệm chất lượng nước mà không chỉ rõ nguyên nhân của sự nhiễm bẩn từ đâu, thủ phạm làm nhiễm bẩn là ai. Nói khác đi, nhiễm bẩn môi trường biển chỉ phản ánh một cách trực quan chất lượng nước biển. Còn ô nhiễm môi trường biển, ngoài việc cho thấy sự thay đổi về chất lượng nước biển còn cho thấy nguyên nhân gây ô nhiễm biển và hậu quả mà ô nhiễm môi trường biển gây ra. Nghĩa là, ô nhiễm môi trường biển phản ánh mối quan hệ giữa tất cả các yếu tố làm cho môi trường biển bị ô nhiễm. Từ góc độ khoa học, vào năm 1981, Nhóm chuyên gia về các khía cạnh khoa học của ô nhiễm biển (Joint Group of Experts on the Scientific Aspects of Marine Pollution - GESAMP) đưa ra định nghĩa về ô nhiễm môi trường biển. Theo đó, “ô nhiễm môi trường biển (Marine Pollution) là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, (bao gồm cả các cửa sông), gây ra những tác hại như gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương tiện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mĩ cảm của biển” [60; tr.05]. Đây được xem là định nghĩa đầu tiên trên thế giới về ô nhiễm môi trường biển. Nó đã trả lời được khá đầy đủ các câu hỏi về nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và tác hại do ô nhiễm môi trường biển gây nên. Cụ thể là, thứ nhất, ô nhiễm môi trường biển là do con người gây nên, thông qua việc con người đưa vào môi trường biển các chất gây ô nhiễm (dưới dạng chất liệu và năng lượng) ở mức vượt quá khả năng tự chuyển hóa (tự phân hủy, tự làm sạch) của môi trường biển. Thứ hai, các chất gây ô nhiễm phát tán trong môi trường biển bằng nhiều chu trình khác nhau, qua đó gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật sống, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển. Như vậy, ảnh hưởng từ các tác nhân gây hại và nguy cơ ô nhiễm môi trường biển là câu hỏi cần phải được trả lời trước khi đưa ra một quyết định có chấp nhận ô nhiễm đó hay không [67; tr.88] Từ góc độ pháp luật quốc tế, thuật ngữ ô nhiễm môi trường biển được đề cập chính thức tại Công ước Luật Biển 1982, mặc dù trước đó đã có nhiều văn bản pháp lí
  20. 15 về biển như Công ước Giơnevơ về biển cả 1958, Công ước về đánh cá và bảo tồn các tài nguyên sinh vật của biển cả 1966... Theo khoản 4 Điều 1 Công ước Luật biển 1982, “Ô nhiễm môi trường biển (Pullution du milieu marin) là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm cả các cửa sông, khi việc đó gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, và đến hệ động vật và hệ thực vật biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương diện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mĩ cảm của biển”. Định nghĩa này có hai (02) điểm khác biệt so với định nghĩa của GESAMP. Một là, định nghĩa ô nhiễm môi trường biển của GESAMP chỉ nhắc tới những tác hại đã và đang xảy ra đối với hệ sinh thái biển, trong khi Công ước Luật Biển 1982 đề cập đến cả những tác hại còn tiềm ẩn trong tương lai, thông qua cụm từ “khi việc đó có thể gây ra những tác hại...”. Hai là, ngoài những tổn hại cụ thể được liệt kê trong cả hai định nghĩa, như nguồn lợi sinh vật, sức khỏe con người, việc đánh bắt hải sản... Công ước Luật Biển 1982 còn đề cập đến "các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác". Đây được xem là bước phát triển không chỉ từ phương diện học thuật mà còn là bước phát triển về quan điểm lập pháp. Nó cho phép hiểu là pháp luật sẽ bảo vệ ngày một nhiều hơn, rộng hơn các đối tượng phải chịu tổn thất từ ô nhiễm môi trường biển. Tiếp theo hai định nghĩa nêu trên, thuật ngữ ô nhiễm môi trường biển còn được giải nghĩa trong Tuyên bố Putrajaya về hợp tác khu vực cho sự phát triển bền vững các biển Đông Á (một nội dung trong Chiến lược phát triển bền vững các biển Đông Á 2003, triển khai ở cấp khu vực các yêu cầu của Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững đối với các đại dương và các vùng ven biển, trong khuôn khổ chương trình hợp tác khu vực các biển Đông Á, gọi tắt là PEMSEA do Tổ chức Hàng hải quốc tế thuộc Liên Hiệp quốc IMO làm đầu mối thực hiện) “ô nhiễm môi trường biển là việc con người trực tiếp hay gián tiếp đưa các chất hoặc năng lượng vào môi trường biển, kể cả các cửa sông, dẫn đến những ảnh hưởng có hại cho các tài nguyên hữu sinh, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, cản trở các hoạt động trên biển kể cả khai thác thủy sản, suy giảm chất lượng và lợi ích của nước biển”. Mặc dù được cho là có bước phát triển lớn về mặt học thuật, song các định nghĩa về ô nhiễm môi trường biển trong cả ba (03) tài liệu nêu trên hiện vẫn đang nhận được nhiều tranh luận. Cụ thể là: Thứ nhất, các định nghĩa về ô nhiễm môi trường biển nêu trên mới chỉ ra được nguyên nhân duy nhất gây ô nhiễm môi trường biển là do con người mà chưa chỉ ra

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản