CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến tỉnh Ninh Bình
Chúng tôi, gồm:
STT Họ và tên Ngày
tháng năm
sinh
Chức vụ,
nơi công tác
Trình độ
chuyên môn
Tỉ lệ
1 Hà Thị Lan Hương 13/04/1981 Hiệu trưởng -
THPT Nho Quan C
Đại học-Ngữ văn 20%
2 Văn Danh 30/12/1989 Bí thư Đoàn thanh niên -
THPT Nho Quan C
Đại học-GDQP 20%
3 Đoàn Thị Thanh Thuỷ 18/12/1977 Tổ trưởng chuyên môn -
THPT Nho Quan C
Đại học-GDCD 20%
4 Nguyễn Thị Lan Hương 22/2/1984 Tổ trưởng chuyên môn -
THPT Nho Quan C
Thạc sĩ- Hoá học 20%
4 Đinh Thị Hằng 09/11/1989 Tổ phó chuyên môn -
THPT Nho Quan C
Đại học-Vật lý 20%
I. TÊN SÁNG KIẾN, THỜI GIAN THỰC HIỆN VÀ LĨNH VỰC ÁP DỤNG
I.1. Tên sáng kiến: “Đổi mới phương pháp giáo dục kỹ năng sống nhằm giảm thiểu
những ảnh hưởng tiêu cực từ MXH, giúp HS phát triển lành mạnh trong thời đại công
nghệ số”
I.2.Thời gian thực hiện: Từ tháng 8 năm 2020 đến tháng 5 năm 2022
I.3.Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
II.1. Giải pháp cũ thường làm
II.1.1. Thực trạng sử dụng MXH của HS hiện nay.
Nh ng n m g n ây, MXH (MXH) ã b c phát tri n m nh m , tác ng ă đ đ ướ độ
l n n i s ng h i h u h t các qu c gia trên th gi i, trong ó Vi t Nam. đế đờ ế ế đ
MXH ã tr thành m t thu t ng ph bi n, m t ph ng ti n thu n l i v i nh ng tínhđ ế ươ
n ng a d ng cho phép ng i dùng k t n i, chia s , ti p nh n thông tin m t cáchă đ ườ ế ế
nhanh chóng, hi u qu . Không th ph nh n vai trò tích c c c a MXH, song c ng ũ
ph i nh n th y r ng trên MXH c ng có tràn lan nh ng thông tin sai s th t, xuyên t c, ũ
tin gi v d ch b nh, nh ng clip nh m nhí, g i c m, nh ng s n ph m t c t u núp bóng ĩ
ngh thu t... ang tác ng tiêu c c t i nh n th c và hành vi c a m i ng i, c bi t đ độ ườ đặ
HS trung h c. i u áng nói nh ng thông tin ó l i hi n h u nhi u lúc, nhi u Đ đ đ
n i, r t d th y, d l y, d tìm ki m trên MXH. B i v y, khi ng i dùng tình ho cơ ế ư
c ý c p nh t vào thì s c hút s eo bám r t mãnh li t, th gây ra nh ng h u đ
qu khó l ng. ườ
Công nghệ thông tin (CNTT) ngày càng phát triển mạnh mẽ với tốc độ rất
nhanh ngày càng hiện đại. Các thiết bị thông minh (TBTM) không chỉ dừng ở việc
liên lạc còn một phương tiện giải trí, lướt web, cập nhật thông tin nhanh
chóng, thường xuyên, linh hoạt. Bên cạnh đó, các hoạt động sáng chế, thiết kế, kinh
doanh, quản lý, học tập... cũng trở nên hiệu quả và tiện lợi.
Tuy nhiên, rất nhiều người, phần lớn giới trẻ trong đó HS trung họcđang
sử dụng các MXH, sử dụng các TBTM chưa đúng cách, chưa mang lại hiệu quả cao,
quá lạm dụng hoặc bị biến thành “nô lệ”, bị chịu “tác dụng ngược” của chúng.
1
II.1.2. Nguyên nhân của thực trạng
- Mọi hoạt động trong cuộc sống hiện đại đều liên quan đến các TBTM, liên
quan nhiều đến MXH cũng như ứng dụng CNTT.
- GV sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong đó nhiều nội dung ứng
dụng CNTT trong dạy học nên yêu cầu HS cần thiết bị thông minh như điện
thoại, máy tính nối mạng để sử dụng.
- Đặc biệt, trong tình hình hiện nay do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 xu
hướng làm việc trực tuyến, nhất là đối với lĩnh vực hoạt động quản lý, điều hành, kinh
doanh, dạy và học... trở nên rất cần thiết và được xã hội tiếp nhận tích cực.
Trong đó, HS trung học lại thiếu kỹ năng kiểm soát, điều chỉnh hành vi, sử
dụng các MXH, sử dụng TBTM, thiếu sự kiểm soát, đồng hành từ phía gia đình,
chế quản lý của các nhà trường còn lỏng lẻo hoặc chưa phù hợp.
II.1.3. Giải pháp cũ thường làm
* Về phía Ban giám hiệu: Xây dựng nội quy lớp học trong đó quy định
ràng về TBTM s dụng MXH.Chỉ đạo thực hiện nghiêm túc nội quy lớp học. Tổ
chức các buổi ngoại khoá chuyên đề về MXH…
* Về phía GV:GVCN nhắc nhở HS trên lớp, các tiết dạy thông qua tiết sinh
hoạt lớp. Đã có các biện pháp như cấm mang đến trường, nếu phát hiện sử dụng trong
các tiết thì thu điện thoại (khi nào ra trường mới trả lại); phạt lao động, dọn vệ sinh…;
thông báo về cho PHHS.
* Về phía PHHS:Thực tế, PHHS đều đi làm ăn xa, cần liên lạc với HS qua điện
thoại, người thân để quản giờ giấc học tập từ xa. Khi GVCN gọi điện hoặc mời tới
trường gặp gỡ về việc con cái sử dụng TBTM, tham gia MXHquá lạm dụng, mất
nhiều thời gian thì mới dừng lại ở nhắc nhở chứ chưa có các biện pháp hữu dụng.
* Về phía GVBM: GV quản lý, đảm bảo chất lượng giờ học sao cho HS không
sử dụng TBTM, tham gia vào MXH trong tiết học. Nếu ứng dụng CNTT thì mới
cho phép HS sử dụng trong các tiết.
* Về Đoàn thanh niên: Tuyên truyền, phổ biến, nhắc nhở tác hại của việc sử
dụng TBTM, “nghiện” MXH đối với các trường hợp HS vi phạm. Phối hợp cùng
GVCN xử lý, giáo dục để HS nhận thức được c hại MXH hiệu quả. Đối với các
trường hợp cố tình vi phạm thì bị sử phạt nặng, nhắc nhở trên loa truyền thanh nhà
trường. Thực hiện các chuyên đề kiểm tra đột xuất, kiểm tra thường xuyên tại các lớp
học.
II.1.4. Ưu điểm và nhược điểm của giải pháp cũ.
* Ưu điểm:
+ Tình trạng HS sử dụng TBTM vào MXH trong giờ học giảm rõ rệt;
+ Đoàn trường kiểm soát được các lỗi vi phạm HS;
+ GVCN có căn cứđánh giá hạnh kiểm của HS vào cuối kì học, cuối năm học;
+ PHHS có nắm bắt được việc con em mình tham gia MXH.
* Nhược điểm:
+ Nhà trường mới chỉ dựa trên sự đánh giá bằng định tính việc sử dụng TBTM;
tham gia MXH của HS chưa các phương pháp khảo sát, tiếp cận ảnh hưởng
một cách cụ thể đánh giá chính xác tiêu cực từ MXH;
+ Đoàn thanh niên, GVCN chưa kiểm soát được số lượng HS sử dụng TBTM
ngoài giờ học, nhiều HS còn sử dụng TBTM đăng tải những hình ảnh xấu về nhà
trường, bạn lên MXH, gây ra những mâu thuẫn giữa các HS với nhau, ảnh hưởng
đến nề nếp chung của nhà trường;
+ Gia đình HS thiếu sự sát sao trong việc sử dụng TBTM của con em mình dẫn
đến nhiều HS sử dụng MXH quá nhiều ảnh hưởng đến giấc ngủ buổi tối hiệu quả
2
của giờ học ngày hôm sau. biệt những HS bị ảnh hưởng xấu từ tưởng, hành
vi, nhân cách khị lạm dụng quá nhiều MXH.
(Minh chứng: Phụ lục 1 - Giới thiệu sơ lược về trường THPT Nho Quan C)
II.2. Giải pháp mới cải tiến
II.2.1. Mục tiêu:Nghiên cứu thực trạng sử dụng các MXH của HS trường THPT
Nho Quan C để xác định những tác hại mà các bạn đã và đang gặp phải. Từ đó đề xuất
các giải pháp nhằm điều chỉnh tích cực nhận thứchành vi của HS trong việc sử
dụng MXH,góp phần giảm thiểu tối đa những ảnh hưởng tiêu cực do sử dụng MXH
sai cách. Qua đó, giúp HSnâng cao chất lượng học tập rèn luyện đạo đức, chung
sống an toàn, lành mạnh trong thời đại Công nghệ số.
II.2.2. Đổi mới về cách thức tìm hiểu thực trạng HS tham gia MXH
II.2.2.1 Mức độ HS tham gia các MXH (Facebook, Youtube, Tiktok, Zalo...)
STT Mức độ Số lượng Tỷ lệ %
1 Không tham gia 0 0
2
Thỉnh thoảng tham
gia 78 15,6
3
Thường xuyên tham
gia 397 79,4
4 Tham gia quá nhiều 25 5
Tổng cộng 500 100%
Nhận xét:Qua kết quả khảo t cho thấy, đại đa số HScó tham gia sinh hoạt,
tương tác trên MXH. Đặc biệt từ khi các gia đình và nhà trường phải trang bị phổ biến
các TBTM đường truyền Internet để HS học trực tuyến hoặc kết hợp học trực tiếp
trực tuyến. Số HS thường xuyên tham gia MXH (Facebook, Youtube, Tiktok...)
chiếm tỉ lệ cao nhất (79,4%), học thỉnh thoảng tham gia MXH tỉ lệ (15,6%), HS
tham gia quá nhiều MXH chiếm tỉ lệ 5,0%. HS không tham gia MXH là 0%.
II.2.2.2 ThờilượngHS sử dụng các MXH trong ngày
STT Mức độ Số lượng Tỷ lệ %
1Khoảng 1 – 2 giờ 30 6,0
2Khoảng 3 - 4 giờ 260 52,0
3Khoảng 5 - 6 giờ 186 37,2
4Khoảng trên 6 giờ 24 4,8
Tổng cộng 500 100%
Nhận xét: Qua bảng số liệu trên cho thấy nhìn chung HS đều sử dụng MXH
với thời lượng khá lớn hằng ngày. Cụ thể, mức độ khoảng 1-2 giờ là (4,8%),khoảng 3-
4 giờ (52,0%), khoảng 5-6 giờ (37,2%), khoảng trên 6 giờ (6%. Cùng với các số
liệu khảo sát vềthực tế tham gia các MXH thì đây một con số rất đáng quan tâm.
Bởi lẽ trên không gian MXH nhiều nội dung bổ ích, song cũngrất nhiều tác hại
nếu người dùng sử dụng sai cách và không kiểm soát được hành vi của mình.
II.2.2.3 Mức độ hiệu quả mang lại đối với học tập và rèn luyện đạo đức khiHStham
gia sinh hoạt trên MXH.
STT Mức độ Số lượng Tỷ lệ %
1Chưa hiệu quả 340 68,0
2Ít hiệu quả 83 16,6
3Hiệu quả 72 14,4
4Rất hiệu quả 5 1
Tổng cộng 500 100%
3
Nhận xét: Qua kết khảo t cho thấy, mức độ hiệu quả đối với học tập rèn
luyện đạo đức khi HS tham gia sinh hoạt trên MXHchưa cao. Đại đa số HS nhận thấy
việc thu thập được thông tin trên các trang MXH phục vụ cho quá trình học tập và rèn
luyện đạo đức chưa hiệu quả hoặc ít hiệu quả. Cụ thể: Mức độ chưa hiệu quả còn
rất cao: 68,0%, mức độ ít hiệu quả: 16,6%, mức độ hiệu quả: 14,4%, mức độ rất hiệu
quả còn thấp: 1%.
II.2.2.4 Nhữngnội dung ảnh hưởng tiêu cực đối vớiHS khi sử dụng MXH sai
cáchhoặc không điều chỉnh được hành vi của mình.
STT Nội dung ảnh hưởng Số lượt chọn có Số lượt chọn không
1
Ảnh hưởng xấu đến
sức khỏe thể lực (mệt
mỏi, nhức mắt, mờ
mắt, sút cân...)
390 110
2
Ảnh hưởng xấu đến
sức khỏe tinh thần (lo
lắng, sợ hãi, tự ti về
bản thân...)
288 212
3
Ảnh hưởng tiêu cực về
hành vi đạo đức
(nghiện MXH, nghiện
games, sống ảo,
chạy theo các trào lưu
không lành mạnh - nói
lóng, chửi thề, đú
trend...)
330 170
4
Ảnh hưởng tiêu cực
đến việc học tập của
bản thân (lười học,
phụ thuộc vào liệu
ảo, học lực giảm...)
273 227
Tổng số phiếu 500 500
Nhận xét: Qua khảo sát cho thấy việc đa số HS đã đang bị ảnh hưởng tiêu
cực từ việc tham gia sinh hoạt trên MXHchưa đúng cách hoặc chưa kỹ năng kiểm
soát hành vi của mình. Cụ thể: ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thể lực chiếm 390/500
phiếu, ảnh ởng xấu đến sức khỏe tinh thần 288/500 phiếu, ảnh hưởng tiêu cực về
hành vi, đạo đức 330/500 phiếu, ảnh hưởng tiêu cực đến việc học tập của bản thân
273/500 phiếu. Bên cạnh đó vẫn còn một số HSkhông nhận thấy những nội dung ảnh
hưởng tiêu cực đối với bản thânkhitham gia MXH với thời lượng nói trên. Số lượt
chọn không ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi, đạo đức 227/500 phiếu không ảnh
hưởng đến việc học tập của bản thân là 227/500 phiếu.
II.2.2.5.Những khó khăn HS gặp phải trong quá trình tham gia sinh hoạt trên
không gian MXH
STT Khó khăn cơ bản Số
lượng
Tổng số
phiếu Chú thích
1Không chủ động được vềthời gian tham gia 345 500 Khó khăn 1
2Năng lực kiểm soát hành vi còn hạn chế 326 500 Khó khăn 2
4
3Thiếu kỹ năngchọn lọc, kiểm soát thông tin 260 500 Khó khăn 3
4Thiếu kỹ năng tương tác tích cực 289 500 Khó khăn 4
5Những khó khăn khác (dễ bị kích động, lôi kéo,
dễ bị cuốn theo các trend...) 203 500 Khó khăn khác
Nhận xét: Qua kết quả khảo sát, nghiên cứu cho thấy, việcHS tham gia sinh
hoạt trên các MXH còn gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt khó khăn về kỹ năng tự kiểm
soát bản thân để có cách ứng xử tích cực, phù hợp, để làm chủ được thời gia, hay chọn
lọc được thông tin bổ ích. Cụ thể: Không chủ động được về thời gian sử dụng MXH
trong ngày chiếm 345/500 phiếu, hạn chế về năng lực kiểm soát hành vi chiếm
326/500 phiếu, hạn chế về kỹ năng chọn lọc thông tin chiếm 260/500 phiếu, thiếu
năng lực tương tác tích cực chiếm 289/500 phiếu, khó khăn khác là 203/500 phiếu.
II.2.2.6.Mong muốn của HSđược áp dụng các biện pháp hỗ trợ để sử dụng MXH
an toàn và hiệu quả, góp phần phát triển lành mạnh trong cuộc sống số.
ST
TNội dung mong muốn Sốlượn
g
Tổng
phiếu Ghi chú
1
Được tham gia các buổi chuyên đề, ngoại khoá
vấn, bồi dưỡng kỹ năng ứng xử tích cực với MXH.
Trong các buổi sinh hoạt đó HS được tham gia
nhiều hoạt động thiết thực và bổ ích.
407 500 Mong muốn
1
2
Được tham gia Câu lạc bộ “Công nghệ số” trong
nhà trường, các thành viên tham gia thể phát huy
năng lực định hướng nghề nghiệp phù hợp về
lĩnh vực CNTT.
389 500 Mong muốn
2
3
Được trong tay những cuốn tài liệu/cẩm nang
nhỏ gọn hướng dẫn về cách ứng xử tích cực khi
tham gia MXH.
316 500 Mong muốn
3
4
Được sự thấu hiểu, hỗ trợ, tạo điều kiện từ phía gia
đình giúp HS thực hiện các nhiệm vụ học tập trong
thời đại cần phải ứng dụng tích cực về CNTT.
269 500 Mong muốn
4
5
Được tham gia các chuyến trải nghiệm thực tế để có
hội thực hành một số kỹ năng công nghệ (chụp
ảnh, quay video...)
201 500 Mong
muốn5
Nhận xét: Đa số HS đều mong muốn nhà trường, thầy giáo, cha mẹ thể
phối hợp tổ chức những chuyên đề vấn, bồi dưỡng về kỹ năng ứng xử tích cực với
MXH, góp phần nâng cao chất lượng học tập, rèn luyện đạo đức, phát triển nhân cách
phù hợp trong thời đại công nghệ số.
II.2.2.7.Phương pháp khảo sát thông qua phỏng vấn
Tổ chức cho thành viên CLB “Công nghệ số” phỏng vấn đối tượng cần nghiên
cứu: HS nhà trường, chia sẻ CMHS, GV, giáo viên bộ môn, bí thư đoàn trường về vấn
đề tham gia MXH của HS nhà trường hiện nay.
* Kết quả phỏng vấn HS về sử dụng MXH trong sinh hoạt hàng ngày của
bản thân (HS thực hiện phỏng vấn đồng đẳng)
Bạn Nguyễn Mỹ Duyên lớp 11A: “Thực sự thì mình thường mất nhiều thời
gian lướt Facebook, Youtube hay vào TikTok để xem những status của bạn bè, thông
tin giải trí, các video hài hước... Mình chỉ dành khoảng một tiếng mỗi ngày để vào các
5