intTypePromotion=1

Giao thông của cư dân óc eo trong những thế kỷ đầu công nguyên

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:3

0
6
lượt xem
1
download

Giao thông của cư dân óc eo trong những thế kỷ đầu công nguyên

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Miền Tây Nam Bộ những thế kỷ đầu Công nguyên là vùng đồng bằng thấp, sình lầy, nhiều tháng trong năm bị ngập nước và có hệ thống sông ngòi dày đặc. Để thích ứng với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt đó, người dân Óc Eo bằng nhiều hình thức đã tìm cách khắc phục, đặc biệt là trong lĩnh vực đi lại. Họ đã lợi dụng địa hình sông rạch tự nhiên để khai thông nhiều đường nước, xây dựng hệ thống thủy lợi dài hàng trăm kilomet

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giao thông của cư dân óc eo trong những thế kỷ đầu công nguyên

  1. DI SẢN VĂN HÓA GIAO THÔNG CỦA CƯ DÂN ÓC EO TRONG NHỮNG THẾ KỶ ĐẦU CÔNG NGUYÊN NGUYỄN THỊ SONG THƯƠNG Tóm tắt Miền Tây Nam Bộ những thế kỷ đầu Công nguyên là vùng đồng bằng thấp, sình lầy, nhiều tháng trong năm bị ngập nước và có hệ thống sông ngòi dày đặc. Để thích ứng với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt đó, người dân Óc Eo bằng nhiều hình thức đã tìm cách khắc phục, đặc biệt là trong lĩnh vực đi lại. Họ đã lợi dụng địa hình sông rạch tự nhiên để khai thông nhiều đường nước, xây dựng hệ thống thuỷ lợi dài hàng trăm kilomet. Chính hệ thống thuỷ lợi đã giúp cư dân nơi đây có được hệ thống giao thông đường thuỷ phát triển, điều kiện thuỷ văn và môi trường sinh thái được khắc phục, đáp ứng nhu cầu nước ngọt cho nhân dân. Từ khóa: Cư dân Óc Eo, giao thông, Tây Nam Bộ Abstract The South-western region in the first century BC was low plains, marshy, months of inundation and a system of dense rivers. To adapt to the harsh natural conditions, the Oc Eo people, in many forms, have sought to overcome especially in the field of travel. They have taken advantage of the natural canal terrain to open more waterways, build irrigation systems with hundreds kilometers of length. The irrigation system has helped the people here to have developed water transportation system, hydrological and ecological environment condition has been improved to meet the needs of fresh water for the people. Keywords: Oc Eo inhabitants, traffic, South-western region V ào những thế kỷ đầu Công nguyên, thành mạng lưới giao thông chằng chịt trên cư dân Óc Eo phân bố trên địa bàn toàn vùng châu thổ sông Cửu Long. Cư dân Óc rộng lớn ở vùng đồng bằng Nam Bộ Eo đã thích ứng, biến những hạn chế của vùng với nhiều địa hình khác nhau, từ vùng cao đến sông nước thành thế mạnh của mình để tồn vùng thấp trũng với nhiều sông rạch, ven biển. tại, phát triển và tạo nên một sắc thái văn hóa Các cộng đồng cư dân văn hóa Óc Eo có mối riêng biệt. Dấu ấn của văn hóa sông nước thể liên hệ mật thiết với nhau bằng đường sông, hiện rất rõ nét trong đặc trưng văn hóa của cư đường biển và đường bộ với các phương tiện dân Óc Eo ở miền Tây Nam Bộ (TNB). là thuyền bè và gia súc: voi, ngựa, trâu, bò. Theo tài liệu khảo cổ, ở miền TNB đã tìm Về đường thuỷ: Nếu cư dân Đông Sơn sống thấy dấu vết của những kênh đào cổ tỏa rộng theo làng xóm trên các vùng đất cao ráo, vùng trên vùng đồng bằng, nối liền các di tích khảo phù sa, thì cư dân Óc Eo chủ yếu sống dọc cổ Óc Eo với nhau. Trong đó, những con kênh ở theo các kênh rạch, sông ngòi. Các con kênh Óc Eo, Tà Keo, Đá Nổi và Định Mỹ có vai trò đặc là những đại lộ nối liền các vùng với nhau, tạo biệt quan trọng đối với toàn vùng. Bởi lẽ, Óc Số 23 - Tháng 3 - 2018 VĂN HÓA NGHIÊN CỨU 13
  2. VĂN HÓA NGHIÊN CỨU Eo nguyên là một thành phố rộng lớn, xưa kia thuyền đã phát hiện ở Cần Thơ và nhiều mảnh là nơi tiếp giáp các đường lớn trong việc trao thuyền độc mộc khác cũng đã được phát hiện đổi hàng hoá và còn là một hải cảng quốc tế ở Đồng Tháp và Đá Nổi (An Giang). Thuyền độc quan trọng của vương quốc Phù Nam. Thành mộc là phương tiện khá phổ biến của cư dân phố này được nối liền với Núi Sập và Định cổ đại ở các nước Đông Nam Á, có thể cũng đã Mỹ bởi hai con kênh số 19 và 20, rồi thông ra phổ biến trong đời sống cư dân Óc Eo ở vùng biển bằng con kênh số 16. Con kênh này (số ĐBSCL những thế kỷ đầu Công nguyên. 16) kéo dài lên Mắc-cần-dưng và sông Bassac Dấu tích thuyền còn được thể hiện qua một (sông Hậu). Thành phố còn liên lạc với Ankor con dấu khắc hình thuyền có cột buồm và cờ Borei bằng con kênh số 4 và nối thông với Đá gió, được phát hiện tại khu di tích Nền Chùa Nổi. Trước đây, con kênh số 4 kéo dài lên tận (Kiên Giang). Có thể là những con thuyền như vùng Giồng Đá, nhằm theo một hướng Trăm thế này đã được các thương nhân sử dụng để Đường (3, tr 178 - 179). Những kênh đào này buôn bán với các nước, lưu thông trên biển xa. không chỉ phục vụ nhu cầu thuỷ lợi tưới tiêu Ngoài ra, trong văn hóa Óc Eo đã phát hiện cho nông nghiệp mà còn là một hệ thống giao hàng loạt các di chỉ kiến trúc và mộ táng xây thông đường thuỷ rộng lớn phục vụ cho việc bằng vật liệu nặng với hàng chục, hàng trăm giao lưu, buôn bán giữa các vùng và các nước khối đá, gạch, cát, nằm giữa vùng trũng thấp trong khu vực. Từ vùng Óc Eo - Ba Thê, có thể hay dọc theo những đường nước cổ. Để xây cho thuyền chạy dọc các con kênh đến các nơi dựng chúng, những vật liệu xây dựng chỉ có trong khu vực, thậm chí lên đến vùng Thành thể đã được vận chuyển bằng thuyền, bè trên phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai (tên gọi theo địa các con kênh mà cư dân nơi đây đã đào. giới hành chính hiện nay)… Như vậy, những phát hiện này là bằng Bên cạnh dấu tích của các con kênh còn chứng cụ thể, bổ sung cho những ghi chép có vết tích thuyền cổ ở nhiều nơi trên vùng mà thư tịch cổ Trung Hoa từng nói đến việc TNB như: Nền Chùa, Cạnh Đền (Kiên Giang); “thuyền họ đóng dài tới 8, 9 trượng, lòng Nhơn Trạch (Cầm Thơ), Bến Tre, Óc Eo - Ba Thê thuyền rộng 6, 7 thước, đầu và đuôi giống (An Giang). Trong đó, chiếc thuyền được phát hình con cá” (Nam Tề Thư) hay việc nhà vua hiện ở xã Nhơn Trạch, huyện Phong Điền, Cần Phù Nam (Phạm Man) đóng thuyền to vượt Thơ là thuyền độc mộc có độ dài tối thiểu là biển lớn đánh chiếm hơn 10 nước phiên thuộc 5,4m, có những thanh ngang để cho người (Lương Thư) (6, tr. 171 - 274). đi thuyền ngồi lên, còn khá nguyên vẹn. Qua Qua những phân tích trên có thể thấy, kết quả phân tích C14 cho thấy, chiếc thuyền thuyền có vai trò rất quan trọng trong đời sống này có niên đại vào khoảng thế kỷ IV - V SCN. của cư dân Óc Eo. Nó không chỉ là phương tiện Hay tại địa điểm Xoa Ảo, huyện Kiến Lương, để lưu thông, buôn bán mà có thể còn dùng tỉnh Kiên Giang, Phan Thanh Toàn và các đồng trong chiến tranh bảo vệ lãnh thổ cũng như đi nghiệp ở Bảo tàng Kiên Giang đã phát hiện chinh phục các nước. Từ đó có thể đoán định, phần mũi của một chiếc thuyền bằng gỗ, đầu trong thời đại Óc Eo, giao thông vận chuyển mũi thuyền có xích và neo sắt, trong thuyền bằng đường sông và đường biển khá sôi động, tìm thấy khá nhiều gốm Óc Eo. Do chưa khai đóng vai trò quan trọng trong việc giao lưu quật nên di tích tạm thời lấp lại (7, tr. 706 - kinh tế, văn hóa giữa các vùng. 708). Cũng ở Kiên Giang (Giàn Gừa, huyện Như vậy, có thể thấy rằng, cư dân Óc Eo là Kiên Lương, Kiên Giang) các nhà khảo cổ đã những nhà trị thuỷ giỏi. Họ đã biết khai thông phát hiện được một số dấu tích thuyền. Một và đào những đường nước phục vụ cho giao số dấu tích thuyền cũng được phát hiện ở Bến thông và thoát nước trong mùa ngập úng, Tre, trong đó, chiếc được phát hiện ở xã Tiên điều tiết thuỷ lợi cho hoạt động nông nghiệp; Thuỷ - huyện Châu Thành, Bến Tre với chiều biết nắm bắt và hiểu sâu rộng về điều kiện tự dài 8,65m, rộng 64-67cm, cao 28-30cm, thành nhiên. Điều này đã tạo nên mối quan hệ hài dày 5cm, thuộc kiểu thuyền độc mộc giống với hoà giữa con người và môi trường sống. Đó 14 Số 23 - Tháng 3 - 2018
  3. DI SẢN VĂN HÓA là thái độ tôn trọng, thích ứng và khắc phục trong việc cải tạo điều kiện sống, xây dựng cơ những bất cập của tự nhiên, biến nó thành sở vật chất phục vụ cho nhu cầu cuộc sống những lợi thế của vùng đồng bằng sông nước ngày một phát triển. Họ không chỉ biết làm Cửu Long; là biểu hiện của thái độ ứng xử khôn thuyền để đi trên sông, trên biển; đào các con ngoan giữa con người với môi trường sống. kênh dài hàng trăm km để đi lại và phục vụ tưới Về đường bộ: Cư dân Óc Eo chủ yếu sống tiêu mà còn biết làm đường ở những nơi khô dọc các con kênh rạch, phương tiện vận ráo để đi lại, trao đổi và giao lưu với các nước. chuyển chủ yếu là thuyền bè. Bên cạnh đó, N.T.S.T để vận chuyển các loại hàng hoá trên địa (TS., Trường Đại học Đồng Tháp) hình cao, bằng phẳng, rất có thể người Óc Eo đã sử dụng sức kéo của nhiều loại động vật Tài liệu tham khảo khác nhau như: voi, ngựa, trâu, bò... Điều này 1. Đào Linh Côn (1995), Mộ táng trong văn hóa đã được chứng minh qua việc tìm thấy nhiều Óc Eo, Luận án Phó Tiến sĩ khoa học lịch sử, Viện xương, răng của các loại động vật này trong Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh. các di chỉ cư trú và nhiều khắc hoạ hình các 2. Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc con voi, ngựa, trâu, bò... cùng với nhiều hình Đường (1990), Văn hóa và cư dân Đồng bằng sông bánh xe trên các lá vàng chôn trong các ngôi Cửu Long, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội. mộ (1, tr. 127) hay đền tháp. Trong các loại động vật này, loài voi được coi là phương tiện 3. Louis Malleret (1960), L’Archéologie du delta giao thông quan trọng nhất trên đường bộ. du Mékong - Volume XLIII - La civilisation mat érialle Theo các thư tịch cổ Trung Hoa “Nhà vua đi ra d’Oc - Eo, École Francaise d’Extrêmxe orient, Pari ngoài thì cưỡi voi, đàn bà cũng cưỡi voi” (Nam (Bảo tàng Lịch sử Việt Nam dịch). Tề Thư, Lương Thư). Voi còn được dùng trong 4. Lương Ninh (2009), Vương quốc Phù Nam, vận chuyển tải vật trên các vùng địa hình phức Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. tạp, dùng trong chiến tranh (Tân Đường Thư) 5. Lương Ninh (2001), Về vấn đề tộc người Phù (2, tr. 152). Nó là phương tiện hữu hiệu nhất Nam và cư dân ở Nam Bộ - Việt Nam, Tạp chí Dân trong việc di chuyển chiến lược trên các vùng tộc học, (02). rừng rậm, đồi núi. 6. Nguyễn Hữu Tâm (2004), Khái quát về Phù Bên cạnh đó, ngựa và trâu, bò cũng được Nam - Chân Lạp qua ghi chép của các thư tịch cổ nuôi để sử dụng trong việc vận chuyển trên Trung Quốc, trong Văn hóa Óc Eo và vương quốc đường bộ. Có thể, cư dân Óc Eo đã sử dụng Phù Nam - Kỷ yếu hội thảo khoa học nhân 60 năm các loại xe cộ để chuyên chở hàng hoá. Điều phát hiện văn hóa Óc Eo (1944 - 2004), Nxb.Thế này được chứng minh khi các nhà khảo cổ học giới, Hà Nội. đã phát hiện một trục bánh xe bằng gỗ lớn tại 7. Phan Thanh Toàn, Huỳnh Kim Bảng, Lâm Long An, giống như phương tiện vận chuyển Thành Trung (2013), Phát hiện di tích Óc Eo ở Hà cổ truyền (xe trâu, xe bò, cộ trâu…) của người Khmer hiện nay đang sử dụng. Hay một bánh Tiên (Kiên Giang), trong Những phát hiện mới về xe bằng đá được phát hiện ở di tích Óc Eo và khảo cổ học 2013, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội. nhiều bánh xe khắc trên vàng khác cũng được Ngày nhận bài: 6 - 12 - 2017 tìm thấy trong các di tích Óc Eo. Tuy nhiên, bánh xe này có thể không phải dùng trong vận Ngày phản biện, đánh giá: 19 - 3 - 2018 chuyển mà nó có tính chất tôn giáo nhiều hơn. Ngày chấp nhận đăng: 25 - 3 - 2018 Đặc biệt, trong một minh văn ở Đá Nổi (An Giang) đã ghi lại việc cư dân Óc Eo làm các con đường để thuận tiện trong việc đi lại giao bang với các nước như Champa (2, tr. 152-153). Như vậy, có thể nói rằng, xã hội Óc Eo đã rất phát triển. Họ đã đạt được nhiều thành tựu Số 23 - Tháng 3 - 2018 VĂN HÓA NGHIÊN CỨU 15
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2