intTypePromotion=1

Giáo trình văn học phương tây I - Phần 4

Chia sẻ: Nguyễn Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:26

0
272
lượt xem
88
download

Giáo trình văn học phương tây I - Phần 4

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY THẾ KỈ 18 (Văn học Ánh sáng) Trước thế kỉ 18 chưa từng có giai đoạn nào văn học hào hứng sôi động như thời kì này. Đây là giai đoạn chuyển mình quan trọng của văn học Tây Âu và thế giới. Hoàn thành cách mạng tư sản ở nước Pháp. “Ánh sáng”: Có hai luồng ánh sáng 1. Ánh sáng khoa học kĩ thuật

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình văn học phương tây I - Phần 4

  1. VHPT1/P.H.N129 Phần IV VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY THẾ KỈ 18 (Văn học Ánh sáng) Trước thế kỉ 18 chưa từng có giai đoạn nào văn học hào hứng sôi động như thời k ì này. Đây là giai đoạn chuyển mình quan trọng của văn học Tây Âu và thế giới. Hoàn thành cách mạng tư sản ở nước Pháp. “Ánh sáng”: Có hai luồng ánh sáng 1. Ánh sáng khoa học kĩ thuật 2. Ánh sáng tư tưởng cách mạng tư sản Khái quát thế kỉ XVIII 1. Voltaire và Diderot- hai triết gia, nhà văn Pháp Điđơrô (1713- 1784) Danis Diderot- nhà triết học, nhà văn, nhà bác học, người đã đặt nền móng cho phong cách hiện thực, mở đầu nền văn học tiến bộ Pháp thế kỉ 18. Cha của Điđơrô là một người thợ thủ công luôn luôn mong sao cho con mình trở thành một linh mục để có cuộc sống sung túc và được trọng vọng. Điđơrô không đi theo con đường mà người cha đã vạch ra, ông đi vào cuộc sống đói nghèo, thiếu thốn của người trí thức Pari đi tìm tự do. Trong các tác phẩm của ông như Tư tưởng triết học, các tiểu thuyết Nữ tu sĩ, Giắc tín đồ định mệnh, Cháu ông Ramô, ông đả phá kịch liệt giáo hội Thiên chúa giáo và bọn quý tộc phong kiến. Cuốn sách đã làm cho ông đạt tới tuyệt đỉnh vinh quang là bộ Bách khoa toàn thư hay Từ điển lý luận về khoa học, nghệ thuật và nghề nghiệp (gồm 35 cuối). Bộ sách này do ông chủ trì đã tập hợp rất nhiều học giả tiến bộ, các nhà bác học và chuyên gia về tất cả các bộ môn tham gia vào việc biên soạn. Bộ Bách khoa toàn thư mang khuynh hướng chính trị, chiến đấu rõ rệt. Nó khai chiến với giáo hội Thiên chúa giáo, kịch liệt công kích những quy định của chế độ phong kiến và chính quyền chuyên chế. Do đó, việc xuất bản bộ Bách khoa toàn thư nhiều lần bị đình chỉ và bị cấm. Tuy vậy, toàn bộ bộ sách này cũng đã được lần lượt xuất bản trong hơn hai mươi năm (1751 - 1772). F.Enghen đã viết về Điđơrô: "Nếu như có một người nào đó đã cống hiến trọn cuộc đời mình cho chân lý và lẽ phải, thì người đó chính là Điđơrô". Và Cac Mac coi Điđơrô là nhà văn mà mình yêu thích. Cháu ông Rameau: Các danh tác châm biếm tinh tế, sắc sảo và cả tinh quái của những Molière, La Bruyère, Voltaire… trong đó Cháu ông Rameau, một kiệt tác độc đáo của
  2. VHPT1/P.H.N130 Denis Diderot 1. Tác phẩm độc đáo cả về ba phương diện: số phận long đong của nó; các ngụ ý hàm hồ, đa nghĩa nơi các nhân vật; và ảnh hưởng mạnh mẽ đến bất ngờ của nó đối với cuộc thảo luận về biện chứng của khai sáng từ đầu thế kỷ XIX cho đến tâm thức hậu- hiện đại ngày nay. Bài viết sau đây xin góp thêm mấy ý nhỏ về giá trị tư tưởng vẫn còn tươi mới của tác phẩm, sau khi được may mắn là một trong những người đầu tiên thưởng thức bản dịch tuyệt vời này. 1. Như ta đã biết, tác phẩm có lẽ được viết trong khoảng thời gian 1761-1772. Nhưng, Diderot lại không hề nhắc đến nó trong tất cả những thư từ và tác phẩm khác của mình và cũng không có một tác giả đương thời nào nhắc đến nó cả. Điều ấy thật đáng ngạc nhiên vì đã thấy lưu hành nhiều bản sao trước khi kết thúc thế kỷ XVIII. Mãi đến mấy mươi năm sau, bản in đầu tiên mới xuất hiện vào năm 1805, nhưng không phải bằng tiếng Pháp mà bằng tiếng Đức qua ngòi bút bậc thầy của một nhân vật không phải tầm thường: đại thi hào Goethe! Bản nền mà Goethe sử dụng sau đó cũng mất, và chính bản tiếng Đức này lại được hai cây bút đáng ngờ là De Saur và Saint-Geniès dịch lại sang tiếng Pháp, công bố năm 1821, và cố tình làm cho người ta lầm tưởng đó là nguyên tác của Diderot. Nguyên bản tiếng Pháp thực sự xuất hiện vào năm 1823 trong ấn bản Brière về các tác phẩm của Diderot. Tuy bị cắt xén và thiếu chính xác, bản in này dù sao cũng dựa vào một bản thảo tiếng Pháp, sử dụng một trong nhiều bản sao thuộc về con gái của Diderot hiện đang t àng trữ tại Thư viện Quốc gia Pháp (Bibliothèque nationale de Paris). Các bản sao khác - đều đáng ngờ - cũng lưu hành trong thế kỷ XIX và được các nhà ấn hành sử dụng ít nhiều thiếu khảo chứng. Một ấn bản nghiêm chỉnh, công bố ở Paris năm 1884, sử dụng bản chép tay (đáng tin cậy) từ thư viện của chính Diderot do Nữ ho àng Catherine II mua trọn gói và chuyển về St Petersburg sau khi Diderot qua đời. Nhưng, câu chuyện chưa dừng lại ở đó: một bản thảo khác xuất hiện năm 1890 trong một tập hợp những vở kịch rất khó phân loại được bày bán ở quầy bán sách cũ trên bờ sông Seine ở Paris. Một viên thủ thư ở Comédie- Française là Georges Monval may mắn mua được “của hiếm” này và công bố vào năm 1891. Bản thảo này trở thành bản nền cho tất cả mọi ấn bản hiện đại, và sau đó được Thư viện Pierpont Morgan Library ở New York mua đứt và hiện đang được tàng trữ ở đó. Vài nét phác họa về số phận long đong của một tác phẩm từ tay một cây đại bút lừng danh là Diderot – đồng tác giả và hầu như là người phụ trách chính của bộ Đại Bách khoa thư khổng lồ đánh dấu cả một thời đại: thời đại Khai sáng - tự nó đã nói lên nhiều điều về nội tâm của chính tác giả. Rồi khi nhận được một bản sao, Goethe đã hào hứng dịch ngay sang tiếng Đức; một bản dịch tuyệt vời đến nỗi gắn liền với t ên tuổi và sự nghiệp sáng tác đồ sộ của bậc thi hào, và cơ hồ như là tác phẩm của chính bản thân Goethe! Và một trong những người được đọc đầu tiên và tiếp thu nó một cách chủ động và sáng tạo chính là Hegel, vì chỉ hai năm sau khi bản dịch ra đời (1805), trong tác phẩm lớn đầu tay (Hiện tượng học Tinh thần, 1807), Hegel đã tìm cách “tát cạn” ý nghĩa của Cháu ông Rameau như một hình thái ý thức tiêu biểu của thời Khai sáng, đêm trước của Đại Cách mạng Pháp (1789). H ình tượng Cháu ông Rameau (Hắn) và hình tượng nhà triết gia (Tôi) của Diderot trở thành bất tử trong tác phẩm vĩ đại ấy của Hegel, dẫn đến sự đánh giá cao của Marx và Engels sau này về Cháu ông Rameau như một “kiệt tác về phép biện chứng”. Quả có một sự đồng điệu giữa Diderot thế kỷ XVIII với các tâm hồn Đức thế kỷ XIX, nhưng, giữa họ đã có một 1 Phùng Văn Tửu dịch sang tiếng Việt
  3. VHPT1/P.H.N131 khoảng cách lịch sử cần thiết: những g ì còn là tự-mình, mặc nhiên cần phải giấu kín trong tâm tư đã có thể trở thành cho-mình, minh nhiên như một tấn trò đời! 2. Trước hết ta tự hỏi: Tại sao Goethe lại hào hứng dịch Cháu ông Rameau sang tiếng Đức, một tác phẩm hầu như còn vô danh trên nước Pháp láng giềng? Khó mà biết được hết lý do, nhưng ta không thể không nhận ra những nét t ương đồng nào đó về mặt cấu trúc giữa Cháu ông Rameau với Faust, tác phẩm lớn được Goethe ôm ấp suốt đời. Sự đồng cảm, đồng điệu giữa hai tác giả phải chăng là ở tính biện chứng nơi cả hai tác phẩm? Biện chứng - thuật ngữ chưa có nơi các nhà bách khoa Pháp và trở thành tiêu ngữ cho tư tưởng Đức đầu thế kỷ XIX, nói đơn giản, bao giờ cũng cần đến ba hạn từ: hai hạn từ đố i lập và một hạn từ làm trung giới. Faust và Mephisto là cặp đối lập, nhưng cũng tiềm ẩn trong đó bản chất nhị nguyên của con người (“Ôi, trong lồng ngực ta có hai linh hồn cùng ở”, Faust). Trong mỗi con người đều có chất Faust và chất Mephisto như là hai mặt của thực thể người. Cả hai tính chất luôn là đối trọng và lực tác động ngược lại trong quá trình con người trưởng thành trong bi kịch. Hạn từ trung giới ở đây là Chúa Trời, cho phép hai cái đối cực tự do hành động và giữ vai trò của ý thức quan sát, phê phán như là người lược trận trước sự xung đột giữa chính đề và phản đề trong các nghịch lý (Antinomien) của Kant! Trong Cháu ông Rameau, Hắn và Tôi (Rameau và ông triết gia) là cặp đối lập, còn Người dẫn chuyện làm hạn từ trung giới. Ba mà là một, một mà là ba, giống như bản tính trôi chảy của cuộc sống! Nhưng, Rameau (Hắn) là… Rameau, chứ không (còn) phải là chàng Werther ẻo lả của Goethe luôn khổ sở với chính mình, cũng không (còn) phải là ông nghè Faust cao ngạo luôn bận tâm đến việc hiện thực hóa cá nhân mình giữa dòng đời ô trọc. Rameau bảo: “Tôi chịu đựng dễ dàng hơn t ình trạng tầm thường của tôi.” Với nhận xét ấy, Rameau đã ở vào một tâm thế khác, thậm chí, một thời đại khác. Và có lẽ chính chỗ khác ấy đã hấp dẫn và kích thích Goethe! 3. Hegel đã sớm nhận ra chỗ khác này và vì thế, ông yêu tác phẩm và tuyên bố rằng Hắn là một bước tiến lớn trong các hình thái ý thức. Hình thái này không chỉ vượt bỏ cái hình thái “tự ngã ngay thật” tĩnh tại, giản đơn, cứng nhắc, thiếu sáng tạo của Tôi mà còn bỏ xa các hình thái “cá nhân thực tồn” trước đó, hiện thân nơi những Werther, Faust, Karl Moor, Don Quichotte…Bước tiến lớn ở đây được Hegel hiểu theo nghĩa biện chứng, tức đầy nghịch lý. Nó không phải là sự tiến bộ đơn giản, trái lại, chứa đựng cả hai mô men: mộ t mặt là sự trưởng thành của tâm thức, của sự mất ảo tưởng và mặt kia là sự tha hóa trầm trọng. Và với Hegel, việc khắc phục sự tha hóa không phải là quay trở về lại với trạng thái tự nhiên nguyên thủy mà là đẩy sự tha hóa đến cùng cực để có thể chuyển hóa nó. Thật thế, môi trường xã hội và điều kiện lịch sử đã đổi khác. Bối cảnh của câu chuyện là khu vực trung tâm của Paris, trái tim của nền văn minh khai sáng, thị trường kinh tế và thương mại phồn hoa nhất của nước Pháp. Ta biết rằng ta đang chứng kiến một xã hội đô thị vào loại tiên tiến nhất thời bấy giờ. Xã hội ấy là con đẻ của chủ nghĩa tự do kinh tế “laisser-faire” sơ kỳ của Adam Smith và của lòng tin mãnh liệt vào sức mạnh của giáo dục, khai sáng và khoa học của Diderot, Voltaire… Nhưng, đằng sau mọ i sự phồn hoa, tinh tế và bao dung là sự xu thời, ích kỷ, vô luân trong những cảnh báo của J. J. Rousseau. Xã hội ấy vừa là miếng đất lý tưởng cho những Rameau và… Xuân Tóc Đỏ tung hoành, vừa không có chỗ cho anh ta và đồng bọn! Rameau là một kẻ đầy tính cách – yêu vợ con,
  4. VHPT1/P.H.N132 yêu cái đẹp, nhiều tài nghệ, biết cắn rứt lương tâm, biết khinh bỉ bản thân mình, nhất là khi phải đóng vai trò đểu cáng, đê tiện, nhưng tính cách cơ bản nhất của anh ta lại là không có tính cách nào cả. Xã hội hiện đại tôn thờ đồng tiền và chỉ có đồng tiền mới mang lại vị trí và danh dự xã hội. Xã hội đầy những kẻ mang mặt nạ để đóng vai vì quyền lợi ích kỷ của mình (xem: Rousseau, Luận văn về các nguồn gốc của sự bất bình đẳng). Xã hội ấy cũng ngày càng chuyên môn hóa cao độ với đặc điểm nổi bật là sự phân công lao động, khiến con người khó mà phát triển được toàn diện tính cách. Ngay cả những t ài năng lớn cũng bị chuyên môn hóa. Lý thú là, tuy Adam Smith ca t ụng sự tiến bộ nhờ sự phân công lao động mang lại, nhưng ông đã lo ngại trước tác động tha hóa của nó lên con người bình thường, và, vì thế, ông – cũng như nhiều nhà Khai sáng khác, trong đó có Diderot – tin vào sức mạnh của giáo dục để cải tạo con người và xã hội, để phát triển toàn diện tính cách và mang lại ý nghĩa cho cuộc sống. Nhưng, Rameau cười nhạo và cho rằng giáo dục thực chất chỉ là trò học gạo. Trong xã hội hiện đại, người ta đâu thực sự quan tâm đến việc học; điều họ muốn học là những kỹ năng, những mánh lới để kiếm tiền và thăng tiến nghề nghiệp. Giáo dục trở thành dạy nghề để cung ứng nguồn nhân lực hơn là để tạo ra một thế giới nhân đạo hơn và hợp lý tính hơn. Rameau, trong bối cảnh ấy, sa đọa thành một tay lưu manh chính hiệu, một “chân tiểu nhân” có cái nhìn khinh bỉ đối với mọi thứ “ngụy quân tử” chung quanh mình; và chính những hoài bão, lương tri và tài năng không được thi thố của mình đã làm cho anh ta tha hóa, tức trở thành xa lạ với xã hội anh ta đang sống. Trong khi đó, Tôi hay nhân vật Triết gia hầu như đứng bên lề, đặt cho Rameau những câu hỏi ngây thơ từ vị trí cao đạo của một kẻ bề trên hạ cố và thương hại cho sự sa đọa về luân lý và nhân cách của Rameau. Sự đối lập này làm Hegel thích thú. Ông gọi loại ý thức của triết gia là “ý thức ngay thật, thẳng đuột” (“Tôi”: Tôi là một người thật thà, ngay thẳng và những nguyên tắc của anh bạn không phải là những nguyên tắc của tôi”; “tôi là một người thật thà chất phác, mong anh bạn nói với tôi một cách chân phương hơn và đừng dùng đến nghệ thuật của anh bạn”). Ngược lại, ý thức của Rameau là ý thức bị giằng xé, đổ vỡ, một ý thức đã từng trải, “đã nhìn thấu hết” (hindurchgesehen) hiện thực bên ngoài đúng như chúng trong sự thực. Trong khi sự ngây thơ, tĩnh tại của phong cách trước chỉ có thể phát ngôn theo kiểu đ ơn âm thì phong cách sau – đã trải nghiệm sự giằng xé của thế giới văn hóa bị tha hóa – là đa âm, có thể dệt nên cả một diễn từ đầy màu sắc và cung bậc. Nó nói lên được sự đảo điên tuyệt đối, phổ biến giữa thực tại và tư tưởng, giữa danh và thực cũng như sự xa lạ, tha hóa giữa chúng với nhau. Vì thế, ngôn ngữ của sự giằng xé, đổ vỡ là có tính phá hủy, phân hóa mọi sự, cho thấy mọi giá trị đều bị xáo trộn, biến đổi, “cá mè một lứa”. Ngôn ngữ trào phúng sắc bén (geistreich) ấy của phong cách sau (cũng như của bản thân tác phẩm như một sản phẩm của thời đại) được Hegel gọi là sự “thức nhận” (Einsicht), vừa là tiền đề vừa là kết quả của phong trào khai sáng. Nói cách khác, bây giờ, con người có thể hiểu quyền lực nhà nước và quyền lực kinh tế (vốn xa lạ và đầy quyền uy trước đây) như là những hiện tượng giống như những hiện tượng khác trong thế giới, tức chúng cũng phải phục tùng các quy luật, cũng là những thực thể có mâu thuẫn nội tại (vừa tốt vừa xấu, vừa cao cả vừa thấp hèn…), nghĩa là, chúng cũng hữu tận và sẽ phải tiêu vong. Vì thế, như đã nói, theo Hegel, giải pháp bước đầu để đi tới sự khắc phục tha hóa không phải là đồng nhất hóa trực tiếp với bản thể xã hội mà là tăng cường sự tha hóa bằng ý thức sắc sảo như hình tượng của Rameau. Hegel có cái nhìn lạc quan: … “Chỉ với tư cách là Tự-ý thức phẫn
  5. VHPT1/P.H.N133 nộ, nổi loạn, Tự ngã mới nhận biết về tình trạng tự giằng xé, đổ vỡ của chính mình; và ngay trong sự thức nhận ấy, thực tế Tự ngã đã tự nâng mình lên khỏi t ình trạng ấy” (Sđd, §526). Vì theo Hegel, “có ý thức tự giác về t ình trạng bị giằng xé, đổ vỡ của chính mình và tự mình phát biểu công khai ra điều ấy chính là tiếng cười chế nhạo dành cho sự hiện hữu, cho sự hỗn loạn của cái toàn bộ, cũng như cho chính mình”… (§525). 4. Ta có quyền chia sẻ sự lạc quan cùng với Hegel cũng như có quyền nghi ngờ sự lạc quan ấy. Quả thật, hình tượng của Rameau tập hợp tất cả những g ì đã bị khái niệm lý tính đang vươn lên vị trí thống trị của thời Khai sáng t ìm cách đẩy lùi: kinh nghiệm cảm tính, những đam mê và dục vọng, những kinh nghiệm thẩm mỹ theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Bản thân việc Diderot không công bố tác phẩm của mình trong lúc sinh thời có thể là do ông không muốn cung cấp thêm đạn dược cho những đối thủ phản-khai sáng, chống lại sự tiến bộ, lý tính và sự khoan dung. Ông đã bàn đến những vấn đề “nhạy cảm” đi ng ược lại với lý tưởng và tinh thần lạc quan của phong trào khai sáng. Trong chừng mực đó, Cháu ông Rameau có thể được xem là sự tự-phê phán đầu tiên của khai sáng, nhất là đối với quan niệm cho rằng một hệ thống xã hội vẫn có thể gặt hái được nhiều thành công và cả sự lương thiện, liêm khiết cho dù trong lòng nó chứa đầy những bọn đạo đức giả, vô lại. Dựa theo một cách nói của Hegel, ta có thể thấy rằng sau thời kỳ đầu tiên đầy tính sử thi hào hùng của phong trào Khai sáng, Diderot (và các “philosophes” – danh xưng tiêu biểu cho những nhà triết học duy vật cơ giới đương thời) bắt đầu âm thầm nếm trải tính bi kịch của nó, để, từ thời Hegel – sau kinh nghiệm của Đại cách mạng Pháp – người ta đã có thể thanh thản hơn khi nhận ra tính hài kịch của nó. Và hài kịch, như Hegel t inh tế nhận xét, là “một sự xác tín, qua đó, hoàn toàn mất đi nỗi sợ hãi trước bất kỳ cái gì xa lạ cũng như hoàn toàn làm mất đi tính bản chất của tất cả cái g ì xa lạ. Sự xác tín như thế chính là một tình trạng khỏe khoắn và được khỏe khoắn của Ý thức”… (Sđd, §747). Không phải ngẫu nhiên khi các tính chất tự tha hóa và bị lệch lạc trong tính cách không có tính cách của Rameau đã mở đường cho nghị luận tâm lý học và nhân loại học ở thế kỷ XIX và còn âm vang trong văn học và triết học thế kỷ XX. Lionel Trilling, trong Sincerity and Authenticity (Sự trung thực và đích thực), xem Hắn (Rameau) là bước đầu tiên dẫn đến sự phân tích đạo đức học của Nietzsche không phải bằng cách kết án luân lý mà bằng cách cho rằng luân lý không phải là một sự thể hiện đích thực (authentic performance); nó có thể không phản ánh đúng những g ì có trong lòng người (đó cũng là nhược điểm cơ bản của đạo đức học thời khai sáng như nhận định của Alasdair MacIntyre trong tác phẩm After Virtue (Sau đức hạnh) cực hay của ông). Rameau là hình mẫu kinh điển của các xu hướng hư vô chủ nghĩa; anh ta hầu như tiếp thu hết mọi luận cứ phản căn (anti-foundational) chống lại các hình thức truyền thống của quyền uy luân lý, Nhà thờ và Nhà nước, tự nhận mình là hoàn toàn phi-luân và hư vô chủ nghĩa. Rameau toát lên tinh thần của thời đại (Zeitgeist) như là kẻ tiền phong cho tâm thức hậu hiện đại đang lan tràn hiện nay, nếu ta hỏi về hậu hiện đại như Lyotard (Hoàn cảnh hậu-hiện đại/La condition post-moderne) rằng: “Hậu hiện đại là gì?… Rõ ràng nó là một bộ phận của hiện đại… Một tác phẩm chỉ có thể trở thành hiện đại nếu trước đó nó đã là hậu-hiện đại. Hiểu như thế, chủ nghĩa hậu-hiện đại không phải là chủ nghĩa hiện đại ở điểm kết thúc của nó mà là ở trạng thái khai sinh của nó, và trạng thái này là hằng cửu”. Cách nói nghịch lý này có nghĩa: hậu-hiện đại là tâm thức, là thử nghiệm có tính tiền
  6. VHPT1/P.H.N134 phong trong lúc mới ra đời khi nó vi phạm những quy ước, vi phạm sự đồng thuận và các giá trị hiện hành. Trạng thái này là hằng cửu trong mọi lĩnh vực – văn hóa, chính trị, xã hội... , trước khi có nỗ lực thiết lập lại trật tự của hiện đại! Như thế, đạo đức học hậu-hiện đại có người tiền phong là Diderot, ít ra trong nhận thức rằng ta không cần phải ra sức xóa bỏ tính hàm hồ, nước đôi của cuộc sống mà phải biết học cách đối diện với nó, sống chung với nó. Tuy nhiên, ta không thể quá lạc quan. Thật có ý nghĩa khi ta nghĩ đến tâm thế và cách hành xử của ông triết gia, nhân vật xưng Tôi trong tác phẩm: “Tôi ngẫm nghĩ, tất cả những điều anh bạn vừa nói nghe hay ho hơn là xác đáng.” Sau khi âm thầm thừa nhận tính giả đạo đức của chính hàng ngũ của mình, Tôi vẫn không thực sự đi vào đối thoại mà chỉ bình luận kiểu dấm dẳn, nhát gừng. Tôi liên tục trách Hắn đã thiếu nhất quán. Hắn vừa ngán ngẩm xã hội thối nát, muốn học theo Diogène sống trong thùng gỗ để theo đuổi chân lý, vừa thú nhận rằng không thể từ bỏ được bao cám dỗ của cuộc sống “haute couture”. Tôi vội phê phán Hắn là đớn hèn (và Hắn vui vẻ đồng ý!) Tôi thừa nhận những điểm do Hắn vạch trần, nhưng chỉ thừa nhận cho chính mình thôi, chứ không tự lên án chính mình đã sống và làm việc bên trong lòng xã hội ấy. Trong khi Hắn công khai thú nhận việc thủ lợi trong hệ thống thối nát là sự phản bội, thì phải chăng lợi ích của Tôi là ở chỗ bảo vệ cho luật chơi bên trong hệ thống mà Hắn đã lên án. Tác phẩm đặc biệt sâu sắc ở nhân vật Tôi: vừa biết nghe và hiểu sự phê phán đối với hệ thống, vừa sẵn sàng lên án kẻ phê phán! Trong thâm tâm, Tôi thừa nhận sự phê phán nghiêm khắc của Hắn, nhưng, về mặt công khai, vẫn lên án Hắn là không xác đáng. Sự đời là vậy: sự xác đáng của kẻ phê phán khó mà được công khai thừa nhận khi anh ta dại dột phê phán trực diện một hệ thống hay một xã hội nhất định. Hắn vốn thừa biết cách nói cho hay điều dối trá để kiếm miếng ăn hàng ngày, nhưng lại không biết ăn nói (giả đạo đức) sao cho có thể chấp nhận được, vì thế, đã bị mất uy tín ngay trong hệ thống mà Hắn phê phán. Luận cứ và tâm thế của Tôi là một phiên bản tinh vi hơn, sành sỏi hơn của lối sống “makeno” (“mặc kệ nó”): nói gì thì nói, phải giữ đúng luật chơi. Ai không thích thì đi chỗ khác! Diderot “trải đời”, và, nơi mọi góc khuất của xã hội hiện đại và… “không có vua” , đâu đâu cũng thấy những Rameau đang sống giữa chúng ta.  Voltaire Zadich (hay Số mệnh) Candide (Ngay thẳng hay chủ nghĩa lạc quan) Voltaire sinh năm 1694 t ại Paris ra trong một gia đình cha là một quan chức thuế và mẹ là quý tộc dòng dõi. Ông được giáo dục bởi các giáo sĩ dòng Tên, được học tiếng Hy Lạp và tiếng Latin. Sau này ông còn thành thạo các tiếng Anh, Ý và Tây Ban Nha. Ông ban đầu làm thư ký rồi sau chuyển hẳn sang nghiệp viết. Ông chủ yếu viết văn thơ chỉ trích xã hội đương thời và do vậy bị đày sang Anh. Nơi ông chịu nhiều ảnh hưởng và sau ba năm đi đày ông đã viết Lettres philosophiques (Những lá thư triết học về nước Anh).
  7. VHPT1/P.H.N135 Về Pháp ông ở tại lâu đài Château de Cirey tại mạn biên giới giữa vùng Champagne và Lorraine. Chính nơi đây ông bắt đầu quan hệ với Émile của Châtelet, vợ của người chủ lâu đài. Voltaire cùng bà nữ hầu tước này đã sưu tập nhiều sách vở tài liệu và cùng nhau nghiên cứu chúng lại cùng nhau làm thí nghiệm "khoa học tự nhiên" ngay tại lâu đài. Bên cạnh say mê khoa học tự nhiên và là tín đồ của Newton ông cũng nghiên cứu sử học và viết Essay upon the Civil Wars in France (Luận văn về Nội chiến ở Pháp) bằng tiếng Anh. Với tiểu sử vua Karl XII của Thụy Điển ông bắt đầu quan điểm phản đối tôn giáo của mình. Ông cùng bà nữ hầu tước còn cùng nhau nghiên cứu triết học, nhất là siêu hình học. Ông cùng nghiên cứu Kinh thánh và cho rằng cần phân tách nhà thờ ra khỏi nhà nước. Sau khi Nữ hầu tước mất, ông sang Phổ phục vụ Friedrich Đại Đế. Mặc dù cuộc sống vương giả nhưng Voltaire vẫn giữ thói chỉ trích của mình và với tác phẩm Diatribe du docteur Akakia (Chỉ trích Bác sĩ Akkakia; t ên đầy đủ Histoire du Docteur Akakia et du Natif de St Malo) mà ông phê phán vị chủ tịch Viện Hàn lâm Berlin đã khiến Friedrich nổi giận. Ông quay về Pháp nhưng vua Louise XV của Pháp cấm ông trở về Paris nên ông quay sang Genève. Tuy ban đầu được đón chào nhưng ông lại viết luận văn chỉ trích triết học của Gottfried Leibniz qua tác phẩm Candide, ou l'Optimisme (Ngay thẳng, hay lạc quan; 1759) và ông lại rời thành phố. Vắn tắt về tác phẩm… Voltaire để lại một di sản các tác phẩm đồ sộ bao gồm tiểu thuyết, kịch, thơ, luận văn và các công trình nghiên cứu khoa học và sử học. Ông còn viết nhiều sách, rất nhiều tờ rơi và trên 20000 thư từ trao đổi. Quan điểm về tôn giáo Qua các tác phẩm Voltaire thể hiện quan điểm rằng không cần đức tin để tin vào Chúa. Ông tin vào Chúa nhưng là niềm tin lý tính. Ông cũng phản đối đạo Ki-tô quyết liệt nhưng không nhất quán. Một mặt ông cho rằng Giê-su không tồn tại và các sách Phúc âm là ngu ỵ tạo nên chứa đầy mâu thuẫn nhưng mặt khác ông lại cho rằng cũng chính công đồng đó đã gìn giữ nguyên bản mà không thay đổi gì để giải thích cho những mâu thuẫn trong các sách Phúc âm. Ông cũng gọi người da đen là động vật (trong Essai sur les mœurs) và thấp kém so với con người cả về mặt thể chất và tinh thần. Ông cũng viét nhiều về các chủng thổ dân khác nhau và có quan điểm bài Do thái. Triết học Tác phẩm lớn nhất của ông để lại là Dictionnaire philosophique (Từ điển Triết học) tập hợp nhiều bài viết riêng của ông và các bài ông viết trong Encyclopédie (Bách khoa thư) của Diderot. Trong đó ông phản bác thể chế chính trị đương thời của Pháp, nhà thờ Công giáo, Kinh Thánh và thể hiện văn phong, tính cách riêng của mình, Voltaire. Qua đó ông nhấn mạnh vai trò của tôn giáo lý tưởng là giáo dục đạo đức chứ không phải giáo điều. Ông cũng phản bác chế độ thuộc địa của Pháp ở Bắc Mỹ. Ảnh hưởng Voltaire xem giai cấp tư sản Pháp quá nhỏ bế và yếu ớt, giai cấp quý tộc thì tham nhũng và ăn bám, còn người dân thường thì dốt nát và mê tín, và nhà thờ thì giúp thêm cho các nhà cách mạng bằng thuế thập phân.
  8. VHPT1/P.H.N136 Voltaire cũng không tin tưởng ở chế độ dân chủ mà ông xem là chỉ tuyên truyền những tôn sùng của quần chúng. Theo ông chỉ có các đức quân vương Khai sáng với sự hỗ trợ của các nhà triết học như ông mới có thể dẫn tới sự thay đổi vì chỉ với những tính toán lợi ích hợp lý của nhà vua mới mang lại quyền lợi và thịnh vượng cho vương quốc và thần dân. Trong thư gửi Ekaterina II của Nga và Friedrich II của Phổ ông nhấn mạnh đến vai trò của quân đội và sử dụng vũ lực để "mang lại trật tự" như ông viết ủng hộ việc chia tách Liên minh Ba Lan - Litva. Nhưng ông cũng phản đối việc sử dụng vũ lực để giải quyết các vấn đề tranh chấp như trong Dictionnaire philosophique ông xem chiến tranh là "cỗ máy địa ngục" và người sử dụng chúng là "những kẻ giết người ngu ngốc". Voltaire còn được nhớ đến như một người tranh đấu cho quyền tự do cá nhân, tự do tôn giáo trong đó có quyền được xét xử công bằng và vạch rõ sự giả dối và không công bằng của chế độ ba đẳng cấp. Voltaire sống hai mươi năm cuối đời ở Ferney và mất ở Paris. Nay Ferney được đặt theo tên ông là Ferney-Voltaire. Lâu đài ông ở giờ là bảo tàng L'Auberge de l'Europe còn toàn bộ thư viện của ông vẫn được giữ nguyên tại bảo tàng quốc gia Nga tại Sankt-Peterburg.  Daniel Defoe và tiểu thuyết du ký “Robinson Crusoe” 1. Robinson trước khi ra đảo - phác thảo nhân vật của thời đại Khác với những chuyện phiêu lưu cùng thời, nhân vật Robinson không phải trải qua nhiều biến cố khác nhau. Chỉ sau một vài sự kiện, tiểu thuyết dừng lại ở đảo hoang và triển khai phần lớn tác phẩm cho đến kết thúc. Ngày Robinson đặt chân lên đảo có thể xem là cột mốc ranh giới đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời và cả trong tính cách của anh. Robinson đã được xây dựng thành một mẫu người tiêu biểu của thời đại. Ðây là hình tượng tầng lớp trung lưu ở nước Anh thế kỉ 18 trong đó có bản thân nhà văn. Nếu có bóng dáng nhà văn trong nhân vật Robinson thì chủ yếu là ở nhữngđường nét khái quát ấy. Tài năng và công phu sáng t ạo nghệ thuật của Defoe chính ở chỗ khác nhau giữa người mẫu Selkirk và Robinson. Robinson không phải là Selkirk- một thuỷ thủ rủi ro lâm nạn- mà là một sự hoá thân. Nhà văn đã biến anh thuỷ thủ kia thành một hình tượng nghệ thuật, mang tầm vóc và ý nghĩa thời đại. Tầng lớp trung lưu ở Anh thế kỉ 18 là một quần thể phức tạp. Những yếu tố tích cực và tiêu cực, tiến bộ và hạn chế xen kẽ nhau. Một mặt, tầng lớp này có tâm tư, hoài bão gắn liền với giai cấp tư sản thời ánh sáng với tất cả những ưu nhựơc điểm do lịch sử qui định. Mặt khác, nó chưa mất liên hệ với quảng đại nhân dân, và về nhiều mặt nó vẫn cất lên tiếng nói cho quyền lợi và nguyện vọng của những người lao động. Do đó, Robinson là một hình tượng phong phú không đơn điệu . Robinson thích đi phiêu lưu đây đó, bất chấp gian ngu chẳng phải chỉ như một khách du lịch bình thường ham chuộng phong cảnh lạ, hoặc một nhà thám hiểm say mê phát kiến khoa học. Các chuyến đi của anh về sau ngày càng gắn liền với mục đích kinhdoanh với những tàu buôn. Robinson đã “trở thành một lái buôn thực thụ” như chính anh đã thú nhận. Anh được chia lời lãi, anh tính toán, càng nhiều lãi càng ham, có khi đã
  9. VHPT1/P.H.N137 sướng run lên khi nghĩ đến chuyến hàng có thể sẽ phất to. Thậm chí Robinson còn tham gia cả vào việc buôn bán nô lệ . Trong giai đoạn tan rã của chế độ phong kiến, nền kinh tế công thương nghiệp phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy giai cấp t ư sản các nứơc đua nhau đi t ìm những thị trường mới. Thế giới bao la đầy sức hấp dẫn, tầm mắt con người được mở rộng ngoài khuôn khổ ranh giới quốc gia. Kiểu người ham thích đặt chân đến những miền núi non xa lạ như Robinson trở thành mẫu ngườicủa thời đại Trong lịch sử văn học thời k ì đó xuất hiện nhiều chuyện phiêu lưu đáp ứng nhu cầu tâm lí của độc giả. Nhân vật Robinson thuộc về xu hướng đó Tuy nhiên, trung tâm của tiểu thuyết là chuyện Robinson từ khi đắm t àu dạt vào đảo hoang . Trong những năm dài dằng dặc sống nơi đây, hình ảnh Robinson cá nhân tư sản bước đầu dấn thân vào con đường kinh doanh ở phần đầu đã lu mờ và nhường chỗ cho một Robinson mới với ý nghĩa, tính cách khác hẳn . 2. Robinson trên đảo hoang- “người lao động chân chính” Cảnh ngộ vô cùng gian nan ở hòn đảo không khắc phục được Robinson. Vừa đặt chân lên đảo, anh bắt tay ngay vào cuộc đấu tranh quyết liệt với ho àn cảnh, và không chịu để một khoảnh khắc cho những ý nghĩ tuyệt vọng đen tối len lỏi vào tâm hồn mình. Ðơn độc một thân trước thiên nhiên hoang vu, nhiều lần phải đương đầu khó khăn tưởng chừng không thể nào khắc phục được, nhưng anh đã vượt qua tất cả. Trong tay thiếu thốn dụng cụ nên mỗi việc làm cần thiết để đảm bảo cuộc sống tối thiểu cũng đòi hỏi ở Robinson những nổ lực và ý chí phi thường quá sức tưởng tượng: vào rừng chặt cây về làm cọc rào quanh nhà để chống thú dữ, mỗi cọc phải làm mất một ngày, hàng rào phải mất gần cả năm mmới xong. Anh làm một tấm ván mặt bàn mất bốn mươi hai ngày; hai tháng để làm được mấy cái vại (lu) để đựng lương thực; đóng chiếc thuyền đầu t iên để đựng lương thực; đóng chiếc thuyền đầu tiên để vựơt biển mất năm tháng. Anh san phẳng mặt đất thoai thoải từ chỗ đóng xuồng ra mặt nước, nhưng rồi không làm cách nào cho xuồng hạ thuỷ được. Chỉ còn một cách đào một cái lạch. Anh tính toán rằng muốn đào được cái lạch đó phải mất trên mười năm. Anh bỏ xuồng, đi t ìm một địa điểm gần sát nước biển, đóng một cái xuồng khác, đào một cái lạch khác, dài nửa dặm sâu bốn bộ, rộng sáu bộ sẽ ho àn thành trong hai năm. Robinson đẽo một cái cuốc bằng gỗ, vỡ đất gieo hạt lúa mì (số lúa mì dành trên tàu dành cho chim ăn còn sót lại). Do thiếu thốn kinh nghiệm trồng lúa lại thêm hạn hán và chim chóc phá hoại, vụ đầu tiên mất mùa. Anh không sờn lòng, kiên trì làm vụ khác. Cứ như thế từ chỗ may mắn còn sót lại mười ba hạt lúa sau bốn năm ròng rã, trồng và gặt hái dành dụm từng hạt, anh đã gặt được một số lúa và được “vuốt ve cái bánh mì đầu tiên “do tự tay mình làm ra”. “Tôi quyết chí không bao giờ chán nản bất cứ công việc g ì “ Robinson kể “Khi đã thấy rằng việc ấy có t hể làm được thì tôi làm bằng xong mới thôi”. Ý nghĩ ấy luôn luôn gắn chặt với Robinson. Mỗi nỗ lực của Robinson không chỉ để đáp ứng nhu cầu tối thiểu, anh luôn luôn có ý thức phấn đấu làm cho đời sống trên đảo ngày một tốt đẹp hơn: chỗ ở phải khang trang, quần áo mũ phải đàng hoàng, đồ ăn uống tử tế. Khác xa với nguyên mẫu là thuỷ thủ Selkirk sau bốn năm ở đảo hoang khi được cứu thoát đã gần trở thành “người rừng”, Robinson diễn ra theo chiều hướng ngược lại. Không thể cho rằng nhà văn đã xây dựng Robinson thành một nhân vật phát huy mọi nghị lực và khả năng để làm giàu, đúng như yêu cầu của thế giới quan tư sản thời đại. Robinson chính là sự khẳng định chân lí cao đẹp, niềm tin của nhà văn vào những phẩm
  10. VHPT1/P.H.N138 chất cao quí của người lao động. Nghị lực và trí tuệ, tinh thần dũng cảm và khả năng lao động của họ có thể chiến thắng thiên nhiên phục vụ lợi ích con người. Tầm vóc “Robinson trên đảo hoang” rõ ràng có những phẩm chất cao hơn giai cấp tư sản ngay cả khi giai cấp này còn có vai trò tiến bộ lịch sử Anh hưởng thụ thành quả vật chất do chính bàn tay lao động của mình tạo ra , trong khi giai cấp tư sản thời đó dù có một số đức tính tốt như ý chí khắc phục khó khăn coi thường nguy hiểm, có công đóng góp vào sư phát triển kinh tế dất nước nhưng vẫn tồn tại trong quỹ đạo bóc lột sức lao động của người khác, Robinson lại là người có lòng tốt, sẵn sàng hi sinh thân mình cứu giúp những người hoạn nạn. Anh đã cứu sống hai cha con thứ Sáu, viên thuyền trưỏng và mấy người da trắng. Nếu trước khi ra đảo anh đã có lần bán đứa bé da đen Sury cho một thuyền trưởng Bồ Ðào Nha chuyên môn bán nô lệ thì khi ra đảo anh đã có điều kiện thay đổi quan niệm về ng ười da đen tên là Thứ Sáu. Tuy anh vẫn coi mình là ông chủ và người da đen là đầy tớ nhưng t ình cảm thật sự của hai người là tình bạn thân thiết. Và nhờ vậy, cuộc sống mấy năm cuối trên đảo xa xôi bớt đi nỗi cô độc dđ¸ng sợ . 3. Robin son “vừa thống nhất vừa đối lập” Tính cách phân đôi của Robinson, con người tư sản và con người lao động vừa là thống nhất vừa là đối lập, xét theo những góc độ, bình diện khác nhau. Trong loại truyện phiêu lưu , nhân vật thường chỉ đóng vai trò dẫn dắt như sọi chỉ đan kết các sự kiện vốn được coi là trung tâm hấp dẫn người đọc, nhà văn ít quan tâm đến việc khắc hoạ tính cách nhân vật. Còn ở tiểu thuyết này, Robinson đã được nhà văn dụng công xây dựng thành một hình tượng nghệ thuật độc đáo . Tính cách phức tạp của Robinson thể hiện trong thế giới quan, đó là sự giằng co của Thanh giáo (Purism: Sự trong sạch) và ảnh hưởng của tiết học duy vật .Ðó cũng chính là sự giằng co trong tư tưởng tác giả .Vừa đặt chân lên đảo ít lâu, nhìn thấy những mẫu lúa mì mọc lên lơ thơ trước của lều anh sung sướng nghĩ có lẽ “trời thương nên sinh ra lúa mì để nuôi sống mình đây”. Nhưng rồi anh cố gắng nhớ ra có lần đã giũ bao tải đựng lúa vốn dành cho chim, vịt ăn đã bị chuột nhằn hết chỉ còn toàn trấu .An đã hiểu ra rằng “ chẳng có phép lạ gì xảy ra trong chuyện này cả”. Ðến năm thứ mười tám, khi phát hiện những dấu chân lạ trên bãi cát anh kinh hoàng như thấy “ma quỷ hiện hình”. Nhưng chẳng bao lâu tình trang mê tín ấy tan đi, anh phân tích và khẳng dịnh có người lạ mới xâm nhập hòn đảo, vội vàng củng cố chỗ ở, phòng ngự và chuẩn bị vũ khí. Tuy vậy đôi khi do cô đơn anh vẫn sống với một tin tôn giáo mơ hồ, tin vào vai trò của một Ðấng tối cao nào đó đang tồn tại. Sự tồn tại một tính cách đối lập trong nhân vật Robinson chỉ rõ sự phân biệt giữa hai giai đoạn. Trước khi ra đảo hoang, anh mang đậm tính cách t ư sản (và sau khi rời đảo trở về tổ quốc). Khi ở trên hòn đảo vắng vẻ chỉ có Robinson đối diện với thiên nhiên , nơi đây vắng bóng quan hệ t ư bản chủ nghĩa và cả đời sống xã hội anh trở thành Robinson khác tuy vẫn còn chút Robinson cũ. Như vậy người đọc bắt gặp hai Robinson trong tác phẩm. Robinson trên đảo mới thực sự chiếm đựoc cảm t ình của bạn đọc. Khi nhân vật cởi bỏ bộ quần áo kì dị và chiếc mũ da dê tự làm để khoác trở lại bộ đồ bình thường đúng mốt thời trang của người tư sản ở phần cuối của tác phẩm thì cũng là lúc hứng thú của người đọc tan biến. Trở lại với thời điểm giáp ranh giữa hai Robinson khi sắp lên định cư ở đảo hoang. Anh do dự nhưng cuối cùng quyết định mang theo lên đảo một số tiền vàng nhiều loại lục lọi được trong ngăn kéo viên thuyền trưởng trên chiếc tàu đắm. Anh đã giữ cẩn thận những đồng tiền vàng “vô dụng” ấy suốt muời chín năm trời sức sống dai dẳng của
  11. VHPT1/P.H.N139 Robinson nhà tư sản tạm ngủ yên, cho đến ngày trở lại với xã hội tư sản Anh nơi chúng được trong vọng. Sự đối lập giữa “hai Robinson” khiến người đọc liên tưởng đến quan điểm triết học của J.J.Rousseau về con người tự nhiên và con người xã hội. Theo Rousseau, con người tự nhiên tốt đẹp bao nhiêu thì xã hội làm cho nó hư hỏng bấy nhiêu. Lí thuyết của ông bắt nguồn từ lòng căm ghét những quan hệ phong kiến và tư sản đang chi phối xã hội Pháp thế kỉ 18. Còn Defoe với tiểu thuyết của mình thì vừa nghiêng hẳn sang phía Robinson người lao động nhưng vừa giữ lấy chút tình cảm với Robinson- nhà doanh nghiệp. 4. Robinson - vai trò cá nhân Cuộc sống của Robinson trên đảo hoang trải qua những chặng đường khác nhau. Thoạt đầu, anh kiếm ăn bằng cách hái quả, săn bắn chim thú và bắt cá đó là những sản phẩm của thiên nhiên. Sau đó anh thuần dưỡng dê rừng, tiến hành chăn nuôi trồng trọt. Khi có thêm Thứ Sáu, mối quan hệ giữa hai người giống như quan hệ thời phong kiến gia trưởng. Vào những năm cuối cùng, trên đảo đã có đông người hơn. Khi Robinson về nước, bỏ lại số thuỷ thủ phạm tội nổi loạn cướp tàu. Những người này sẽ phải tổ chức cuộc sống chung. Có nhà nghiên cứu nhận xét rằng, về mặt nào đó hòn đảo của Robinson gần như diễn lại toàn bộ quá trình của lịch sử nhân loại từ thượng cổ đến“Khế ước xã hội” hình thức nhà nước lí tưởng của nhiều triết gia Ánh sáng. Qua nhân vật Robinson, tác giả chỉ ra rằng: cơ sở của sự phát triển xã hội không phải là những chiến công hoặc tài năng của bậc vua chúa tướng lĩnh mà chính là hoạt động sản xuất của những người lao động bình thường . Ðó là một cái nhìn tiến bộ. Tuy nhiên, ở đây cũng bộc lộ mặt hạn chế rõ rệt khi nhà văn đánh giá cá nhân như là xuất phát điểm của lịch sử nhân loại. Ðó cũng là quan điểm của nhiều nhà triết học, kinh tế học, nhà văn trong thế kỉ 18. Thực tế là từ thời kì xa xưa nhất con người đã sống thành xã hội. Chỉ sau quá trình phát triển lâu dài của lịch sử , cá nhân riêng tư mới xuất hiện. Nó là sản phẩm sự tan rã của xã hội phong kiến và sự hình thành những lực lượng sản xuất mới. Cá nhân là kết quả chứ không phải là xuất phát điểm của lịch sử. Dù D.Defoe có dụng ý hay không, trong Robinson Cruchot, vai trò cá nhân, xét theo ý nghĩa khách quan của tác phẩm, cũng đã được thổi phồng, khoa trương quá đáng. Tác phẩm có thể gây ấn t ượng lệch lạc ở độc giả, rằng một cá nhân sống tách rời tập thể, cộng đồng xã hội vẫn có thể tồn tại, phát triển thậm chí phong lưu nữa. Thời bấy giờ quan điểm đề cao Cá nhân đã xuất hiện trong các lĩnh vực triết học, chính thị học, kinh tế học chính là đặc điểm của giai đoạn tư bản chủ nghĩa với cơ sở ý thức tự do cạnh tranh. Tron tác phẩm góp phần phê phán khoa kinh t ế chính trị, Karl Marx đã nghĩ tới hình tượng Robinson khi phê phán khuynh hướng đề cao vai trò cá nhân của các nhà kinh tế học tư sản Người đi săn và người đánh cá đơn độc và riêng lẻ mà Smith và Ricardo lấy làm điểm xuất phát khi nghiên cứu chỉ là phần nào những điều tưởng tượng vô vị của thế kỉ 18. Những chuyện như kiểu Robinson quyết chẳng phải như mấy nhà nghiên cú lịch sử văn hoá nào đó vẫn tưởng, là một sự phản ứng giản đơn chống những lối kiểu thái quá và là một lối quay về một trạng thái tự nhiên đã bị hiểu sai lệch. Chính ra, các tiểu thuyết đó là một thứ tiên đoán các xã hội tư sản đã phôi thai từ thế kỉ 16, và đến thế kỉ 18 thì đã phi nước đại tới giai đoạn chín muồi.
  12. VHPT1/P.H.N140 Trong cái xã hội thịnh hành chế dộ cạnh tranh tự do thì cá nhân có vẻ như là đã thoát khỏi các mối liên hệ tự nhiên v.v, là những cái, trong các thời đại lịch sử trước kia vẫn làm cho cá nhân thành một bộ phận khăng khít của một tập đo àn nhân laọi nhất định, rõ rệt. Ðối với các nhà tiên tri thế kỉ 18 Smith và Ricardo vẫn còn hoàn toàn đứng trên lập trường của họ- thì cá nhân đó của thế kỉ 18 vốn là sản phẩm, một mặt thì của sự tan ra õcủa các hình thái xã hội phong kiến, mặt khác thì của các lực lượng sản xuất vừa mới phát triển lên từ thế kỉ 16, - hiện ra như một lí tưởng đã qua. Nhưng không phải như là một kết quả lịch sử. Vì họ coi cá nhân đó như là một cái gì tự nhiên, phù hợp với họ về bản chất con người, họ coi nó không phải là một sản phẩm lịch sử. Tuy nhiên bằng hình tượng nghệ thuật, Defoe cũng đã phần nào chỉ ra được rằng con người không thể tồn tại đơn độc ngoài tập thể xã hội. Bản thân Robinson trên đảo hoang chắc sẽ không tồn tại được lâu bền nếu không có trong tay các vật dụng cần thiết như: búa, r ìu, đá mài, đinh, thanh sắt, súng dđ¹n, hạt lúa giống và nhiều thứ khác mà Robinson thu vét từ chiếc tàu đắm vốn là kết quả công sức, trí tuệ của rất nhiều người. Ngoài ra còn phải kể đếnn những thứ trừu t ượng không kém quan trọng đó là vốn liếng kinh nghiệm, kiến thức mà Robinson đã thừa hưởng của cả nhân loại đúc kết và truyền qua nhiều thế hệ;Nhờ cái vốn đó mà Robinson biết dựng nhà, chống thú dữ, trồng trọt chăn nuôi và làm nhiều việc khác. * Mặt hạn chế vừa phân tích trên kia thực ra không che lấp đựơc những giá trị lớn của cuốn tiểu thuyết. Defoe đã xây dựng được một hình tượng nghệ thuật có sức sống lâu dài, có ý nghĩa tiến bộ. Ðó là một đóng góp đáng kể là phong phú thêm cho lo ại truyện phiêu lưu nói riêng và tiểu thuyết nói chung. Robinson là một tác phẩm có tác dụng tốt đặc biệt đối với lứa tuổi thiếu niên. Tiểu thuyết này bồi dưỡng cho các em tinh thần yêu lao động, kính trọng con người, rèn luyện cho các em ý chí quyết tâm hành động, khắc phục khó khăn, kiên trì bền bỉ, dũng cảm tự lực và biết phát huy sáng kiến. Tình tiết của truyện với lối văn trong sáng, giản dị cũng phù hợp với tuổi trẻ. Nhà triết học, nhà văn Pháp J.J.Rousseau đánh giá cao Robinson Cruchot. Ông viết: “Nhưng vì nhất thiết chúng ta cần đến sách, nên theo ý kiến tôi, có một cuốn sách cung cấp thiên khái luận hay nhất về giáo dục tự nhiên. Ðó là cuốn sách đầu tiên em Ê min của tôi sẽ đọc; trong một thời gian dài, tủ sách của em chỉ có một cuốn sách duy nhất ấy thôi. Quyển sách kì diệu ấy là cuốn gì thế ? Aristote chăng ?- Không phải, đó là cuốn Robinson Cruchot của Daniel Defoe”. Kịch “Âm mưu và tình yêu” của Friederich Schiller (1759-1805) Friederich Schiller là kịch tác gia vĩ đại, “viên công tố của toàn nhân loại đã kêu gọi loài người cùng hướng về trời sao”. Cùng với Gớt, Sile là một trong hai ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Đức thế kỷ 18. Tác phẩm kịch gồm có: Những tên cướp (1780), Âm mưu và t ình yêu (1784), Người thiếu nữ ở Orlêăng (1801), Vinhem Ten (1804),… Sile đã xây dựng thành công những vở kịch có xung đột dữ dội, những nhân vật, tính cách điển hình thể hiện mãnh liệt khát vọng tự do và tinh thần bất khuất chống cường quyền bạo lực.
  13. VHPT1/P.H.N141 Tóm tắt vở kịch “Âm mưu và tình yêu” Vở kịch có 5 hồi bằng văn xuôi. 1 Luizơ là con gái nhạc công Mile yêu thiếu tá Fecđinăng là con trai Tể tướng Fôn Vante. Phu nhân Minfo là tình nhân của Công tước nay đã bị Công tước chán bỏ. Tể tướng bắt ép thiếu tá phải kết duyên cùng phu nhân Minfo để lấy lòng Công tước. Fecđinăng gặp Minfo nói cho phu nhân biết là chàng đã có người yêu là nang Luizơ, cô vô cùng xấu hổ. Tể tướng làm nhục Luizơ, gọi nàng là con đĩ, mạt sát ông bà Minle. Tể tướng và thiếu tá đấu khẩu dữ dội. Thiếu tá kiếm tuốt trần, đâm bị thương một số nhân viên pháp đình. Đổng lí Vuôm hiến kế bắt giam ông bà Mile. Muốn cứu bố mẹ, Luizơ phải viết một bức thư tình gửi cho Thị vệ trưởng Fôn Canbơ do chúng đọc. Chúng đưa bức thư tình ấy cho Fecđinăng. Fecđinăng thách Thị vệ trưởng đấu súng làm cho hắn vô cùng sợ hãi. Đau khổ…Fecđinăng pha thuốc độc bắt người yêu cùng mình uống. Uống xong thuốc độc, Luizơ mới nói ra sự thật đau lòng! Cùng lúc ấy, Tể tướng phải nộp mình cho nhân viên pháp đình. 2. Xung đột diễn ra dữ dội tại nhà nhạc công Mile (Hồi hai: Ngang trái) Luizơ bị Tể tướng sỉ nhục đã ngất đi. Fecđinăng đỡ lấy người yêu rồi kêu lên hoảng hốt: “Cứu nàng với, nàng sợ hãi ngất đi rồi!”. Trong lúc đó, nhạc công Mile nắm lấy gậy, căm giận nhìn Tể tướng, bà Mile vô cùng sợ hãi, quỳ sụp xuống chân Tể t ướng. Tể tướng ra lệnh bắt giam Luizơ: “Bắt lấy nó, dù nó ngất hay tỉnh. Khi nào vòng sắt gông vào cổ nó rồi, người ta sẽ dùng đá ném cho nó t ỉnh lại”. Bà Mile cất tiếng kêu van, trái lại, ông nhạc công Mile thì giận dữ khinh bỉ gọi Tể tướng và các nhân viên pháp đình là “lũ vô lại”. 3. Cuộc đấu khẩu dữ dội giữa hai cha con - Thiếu tá và Tể tướng. - Tể tướng ra lệnh cho các nhân viên pháp đình bắt Luizơ. Thiếu tá bảo vệ người yêu, tuốt kiếm. Nhân viên pháp đình sợ hãi lùi ra, lại xông vào. Thiếu tá đâm bị thương vài tên. Thiếu tá cầu xin Tể tướng “đừng dồn ép con thêm nữa”. Lại cầu xin: “… đừng dồn ép con đến chỗ cùng đường cha ơi!”. Tể tướng mắng nhiếc bọn nhân viêc pháp đình là “quân tôi đòi hèn mạt”, tự tay túm lấy Luizơ, giao cho một tên nhân viên pháp đình, đồng thời thách thức Thiếu tá: “Tao muốn xem liệu chính ta có phải nếm lưỡi kiếm này không?”. - Vấn đề đạo lý được đặt ra: liệu con có dám đâm cha để bảo vệ người yêu hay không? Xung đột kịch diễn biến đến cao trào. - Thiếu tá mạt sát Tể tướng:… “Thượng đế đã lầm, đã lẫn chọn tên đao phủ đê hèn lên làm Tể tướng mạt hạng”. Không chỉ là con lên án cha mà đó là tiếng nói nhân danh công lý và nhân dân lên án bạo quyền, lên án một xã hội - phong kiến cát cứ - đã lỗi thời.
  14. VHPT1/P.H.N142 - Fecđinăng dọa: “Nếu nàng lên giá nhục hình, nhưng là cùng với Thiếu tá con trai Tể tướng…” - Một sự ngập ngừng đầy tính kịch. Và Tể tướng châm biếm: “Tức thì cuộc trừng bày sẽ càng thú vị!”. Kiên quyết ra lệnh bắt Luizơ: “Lôi nó đi!”. - Lại van xin! Tất cả vì tình yêu mà Fecđinăng vẫn chưa tìm được, chưa lựa chọn được cách ứng xử. Một mặt chàng quyết dùng thanh kiếm sĩ quan (danh dự và quyền lực) mà “che phủ cho người thiếu nữ này”; mặt khác lại van xin một chút t ình cha con nào đó còn sót lại trong lòng Tể tướng: - “Cha vẫn cương quyết ư?” - Xung đột càng trở nên dữ dội, khi Tể tướng vừa châm biếm vừa ra lện: “Lên giá nhục hình mà mang kiếm bên mình thì chẳng hợp chút nào… Lôi nó lôi nó đi, đi, chúng mày rõ ý tao rồi đấy!”. 4. Có thể xem đây là “bước đột biến” của Hồi hai này! Lưỡi kiếm lại xuất hiện, tiếng nói của Fecđinăng càng quyết liệt hơn. Giằng lấy Luizơ từ tay nhân viên pháp đình, ôm lấy Luizơ, chĩa lưỡi kiếm vào nàng và nói: “Thà tôi đâm lưỡi kiếm này qua xác vợ tôi còn hơn nhìn nàng bị cha sỉ nhục!” - Từ người yêu, Luizơ đã trở thành vợ, Thiếu tá khẳng định quyết tâm bảo vệ người yêu của mình. Tể tướng vẫn thách thức. Xung đột kịch càng trở nên quyết liệt: “Đâm đi, nếu mũi kiếm của mày còn đủ nhọn!”. Đó là sự thách thức của cường quyền! Tể tướng muốn ép con trai mình kết duyên cùng phu nhân Minfo. Trở lực lớn nhất là tình yêu của Luizơ. Phải bắt nàng để triệt phá, để thực hiện “âm mưu” và để tấn công bề trên, đó là Công tước! Cái ác đi kèm cái hèn hạ, sự đê tiện và sỉ nhục, đó là nhân cách của Tể tướng, và buồn thay, đó còn là một người cha - một người cha đã bán mình cho quỷ dữ. 5. “Mở nút” - xung đột được đẩy lên đến đỉnh điểm rồi chùng lại, mâu thuẫn được giải quyết. Cử chỉ Fecđinăng buông Luizơ, ngước mắt nhìn trời ghê gớm. Thiếu tá độc thoại. Chàng cầu đến Chúa. Sức chịu đựng của một con người đã vượt quá giới hạn và chỉ một cách “dùng đến thủ đoạn của loài ma quỷ!”. Sẵn sàng trả giá, và thách thức: “Được các người cứ đưa nàng lên giá nhục hình đi!”. Như một cú đánh trời giáng khi Fecđinăng thét vào tai Tể tướng: “Ta sẽ đi kể cho tất cả cung điện này nghe một câu chuyện nhan đề là: Người ta đã leo lên ghế Tể tướng bằng cách nào!”. Như bị sét đánh, Tể tướng sụp đỏ. Như loài ma quỷ sợ ánh sáng. Hắn đã kinh hoàng kêu lên: “Thế là thế nào, Fecđinăng! Hắn ra lệnh: buông con bé ra!” rồi chạy theo Thiếu tá. Kết luận Nhạc công Mile xuất thân bình dân và Fecđinăng xuất thân quyền quý đã dũng cảm và ngoan cường chống bạo quyền vì khát vọng tự do và hạnh phúc. Hồi hai đầy kịch tính. Có lúc ta xúc động về lưỡi kiếm của Fecđinăng sẽ vang lên, hoặc là đâm chết người yêu và tự sát, hoặc là đâm vào Tể tướng. Và thật thú vị, bạo quyền đã bị đánh gục chỉ bằnh một câu nói mạnh như sấm sét. Tình yêu làm nên sức mạnh phi thường. Xung đột dữ dội. Chỉ một hồi kịch ngắn, ta vần t ìm ra năm bước như một vở kịch: giao đãi, phát triển, cao trào, đột biến và mở nút. Và đó là nét đặc sắc của kịch Sile và kịch cổ điển Đức trong thế kỷ 18.
  15. VHPT1/P.H.N143 Johan Wolfgan Goethe (1749 - 1832) và vở kịch thơ "Faust" Goethe là ngôi sao sáng trong văn học Đức thế kỉ 18, trải qua thời gian cho đến nay t ên tuổi của ông vẫn là niềm tự hào của nhân dân Đức và của nhân loại tiến bộ nó i chung. Ông là nhà thơ, nhà tiểu tuyết, nhà soạn kịch giàu sáng tạo mà chỉ cần một vở kịch Faust đã đủ khiến ông trở thành bất tử. Ông còn là nhà bác học có nhiều công trình nghiên cứu về khoa học tự nhiên. Sự nghiệp sáng tác văn nghệ của ông vừa phong phú vừa sâu sắc. Các nhà nghiên cứu bàn luận nhiều về kịch Faust và các tác phẩm khác của ông đã nhiều song càng đi sâu càng phát hiện thêm những điều mới mẻ nên đã có người đánh giá ông là một kho vô tận. Cùng với Eschill và Shakespear, Goethe là một trong ba nhà thơ được Mác yêu thích nhất. Trang tiểu sử đơn giản Ít có nhà văn nào như Goethe sống một cuộc đời dài trên tám mươinăm qua hai thế kỉ với nhiều sự kiện lớn lao nhưng tiểu sử lại khá đơn giản, chẳng có mấy khúc quanh co hoặc những bước thăng trầm. J.W.Goethe sinh ngày 28 tháng 8 năm 1749 t ại thànhphố Fran Furk trên sông Main. Xuất thân trong môt gia đình tư sản khá giả, Goethe có người cha là một nhà luật học, đỗ tiến sĩ luật trở thành nghị viên, mẹ là con một quan chức quyền thế và giàu có trong thành phố tuy thế ông nôi của Goethe còn là thợ may, sau mở quán trọ...và cụ là con của một người thợ đóng móng ngựa. Thuở nhỏ, Goethe được hưởng một nền giáo dục nhiều mặt nhưng có tính kinh điển "thông thái rởm" dưới sự chỉ đạo của bố. Goethe biết nhiều cổ ngữ, sinh ngữ, toán học, sử và một số môn nghệ thuật như hội hoạ, âm nhạc.Song, có lẽ cái tủ sách phong phú của ông nội kiếm cho là những yếu tố góp phần nhiều hơn vào sự hình thành tài năng của Goethe sau này. Tháng 10/1765, Goethe đi học khoa luật ở trường đại học Laixich, một thành phố lớn. Ông chán nản đời sinh viên bị nhồi nhét mớ kiến thức lỗi thời với phương pháp giảng dạy lạc hậu. Không thích nghề luật sư, G thường đọc sách văn chương và đi xem các viện bảo tàng nghệ thuật. Biết đến t ên tuổi của nhà văn Lessingvà xem diễn kịch của nhà văn Ánh sáng tiền bối. Tháng 7 – 1768, Goethe ốm nặng, bỏ học về an dưỡng ở quê nhà. Sau hai tháng, khoẻ lại, ông trở về Stratsburg tiếp tục học. Tốt nghiệp tiến sĩ luật khoa, đi làm bồi thẩm ở Vetsleur, rồi về làm luật sư ở tại thành phố quê nhà. Những năm tháng ở Stratsburg ghi cái mốc quantrọng trong cuộc đời ông vì đó là nơi đang diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt của khuynh hướng dân tộc chống lại ảnh hưởng Pháp trong lĩnh vực văn học nghệ thuậtcũng là nơi trung tâm của phong trào Bão táp và Xung kích. Goethe đã gặp và quen thân với nhà văn Ánh sáng Hecdez – bậc đàn anh, nhà lí luận của phong trào văn học Ánh sáng. Tham gia phong trào Bão táp và Xung kích chẳng bao lâu Goethe trở thành một trong những người dẫn đầu phong trào, viết hàng loạt các tác phẩm, chứa chan nhiệt t ình sôi nổi và tinh thần phản kháng. Tiếp xúc với tác phẩm của triết gia Spinoza, chủ nghĩa phiếm thần luận màu sắc duy vật đã để lại cho Goethe nhiều ấn t ượng sâu sắc. Về sau chính Goethe đã thừa nhận Spinoza là nhà tư tưởng có ảnh hưởng quyết định đối với ông. Ông tiếp tục phát triển học thuyết của Spinoza trong lĩnh vực sáng tác.Thời gian làm luật ở Franfurk kéo dài mấy năm, Goethe tham gia cãi gần ba mươi vụ án nhưng vẫn dành phần lớn thời gian cho sự nghiệp văn chương. Tháng 11/1775, nhận lời mời của công tước August, Goethe đến triều đình Vaima và ở lại đó. Năm ấy nhà thơ mới hai mươi sáu tuổi. Vaima là một công quốc nhỏ bé dân số hai mươi vạn dưới quyền caitrị của vị Công t ước
  16. VHPT1/P.H.N144 trẻ 18 tuổi, Goethe được cử làm cố vấn, uỷ viên chính trị rồi giám đốc nghành khai mỏ, ngành xây dựng cầu đường, làm bộ trưởng chiến tranh rồi bộ trưởng tài chính và phụ trách nghành thuế, Goethe đi sâu nghiên cứu nhiều ngành khoa học như địa chất, khoáng vật, thực vật giải phẩu…, thu được một số thành tựu đáng kể, Goethe đã thực sự là một nhà bác học . Bỗng nhiên tháng chín 1786, Goethe bí mật từ bỏ triều đình Vaima ra đi. Nhà thơ sang Italia đi khắp nước để ngiên cứu văn học cổ đại Hy-La, học vẽ và du ngoạn những di tích thời cổ, thực hiện điều mơ ước mười sáu năm về truớc khi ông còn là một chàng sinh viên sôi nổi “sang Italia/Paris sẽ là trường đại học của ta, Roma sẽ là trường đại học của ta ; ai thấy Roma là đã thấy tất cả “ (năm 1770 – nhật ký). Goethe – nhà thơ Trước hết Goethe là một nhà thơ lớn tuy rằng hễ nói đến Goethe người ta nghĩ ngay đến tiểu thuyết Vacte hay vở kịch Faust. Thơ của Goethe chiếm một vị trí đặc biệt có một không hai trong văn học Đức. Riêng về thơ trữ tình Goethe vẫn là một trong những nhà thơ vĩ đại của nhân loại . Một bộ phận lớn trong gia t ài thơ của ông là thơ về tình yêu chính bản thân nhà thơ đã nếm trải, với rung động thầm kín say sưa, với trái tim chân thành, bộc lộ qua những đoạn đời khác nhau. Như ông viết, thơ tình yêu của ông là “một sự thú nhận lớn”. Đây là một mảng đóng góp rất lớn của Goethe vì nền thơ ca trước ông thường khô khan, thiên về giáo huấn, đạo đức học. Mối tình của chàng sinh viên Goethe khi đang học Stratsburglà cô Fidric Brion con gái một vị mục sư. Chúm thơ về mối tình đầu này gồm “Hoa hồng trện nội cỏ “, “Bài ca tháng năm”, “Với một dải băng vẽ hoa hồng” “Đón chào và vĩnh biệt”… là những bài thơ giản dị, giàu nhạc điệu, gần gũi dân ca, gần gũi thiên nhiên phơi phới yêu đời và rộn ràng tuổi trẻ… Tháng giêng 1775, khi đang ở quê nhà , một mối t ình khác đến với Goethe , ông đính hôn với cô Lili Soenneman con gái một gia đ ình giàu có, và một chùm thơ khác ra đời, “T ình yêu mới cuộc đời mới”, “Gửi Belider”tức Lili), “Công viên của Lili”, “Hân hoan vì đau khổ”… trong đó âm điệu hân hoan xen lẫn lo lắng vì ông tiên cảm thấy sự khác nhau trong mối trường sống của hai ngưòi rồi sẽ tổn hại đến sự tự do sáng tác của nhà thơ…Một chùm thơ kế tiếp về cô Liza khi ông đến sống ở Vaima, Gửi Charlot PlionStein”(tên Lida) “Vĩnh viễn”…Ở đây tình yêu bộc lộ ra sâu lắng hơn, chất trí tuệt rõ nét thay cho cảm xúc tuôn trào trước kia. Mối tình thứ ba này rồi cũng dang dở như hai kẻ đến trứơc nó. Thơ t ình yêu của Goethe tuy đi sâu vào những nếm trải cá nhân, nhưng đó không phải cá nhân riêng tư nhỏ bé. “cái tôi trong thơ Goethe đồng thời cũng là cái ta của thế hệ thanh niên tư sản đầy nhiệt tình” Ý nghĩa xã hôi rộng lớn trong mảng thơ này chính là ở “cái ta” của Goethe. Thơ thời trẻ của Goethe còn nổi lên một chủ đề khác – thơ phản ánh tâm hồn bất khuất, ý chí quật cườngcủa con người tham gia phong trào Bão táp và Xung kích. Bài thơ “Promethé” là bài tụng ca tiêu biểu, hừng hực khí thế bão táp và Xung kích. Bài thơ gồm sáu đoạn, là lời của Promethe kiêu hãnh, hiên ngang tuẫn tiết vì con người, vì triết học của nhân loại, đó là lời đối thoại với Zeus – Thần tối cao, không hề run sợ trước uy lực bạo tàn “… Hãy để đấy cho ta, trái dất của ta. Và túp lều của ta. Mà mi không dựng. Và bếp lửa của ta. Mà mi ghen tị. Với lửa hồng của nó…” bài thơ này có tứ thơ độc đáo trái ngược với thần thoại Hy Lạp. Không phải Promete đánh cắp lửa của thiên đình mà lại là Zeus thèm
  17. VHPT1/P.H.N145 muốn ngọn lửa hồng của trần gian. Loài người được nâng lên ngang tầm thần thánh ở đoạn kết thúc bài thơ : “Ta ngồi đây cấu tạo con người theo hình ảnh của ta một loài người cũng như ta biết khóc than đau khổ biết vui mừng hưởng thụ và biết không kính trọng mi như ta vậy “. Nhà nghiên cứu văn học Bielinski (Nga) đánh giá rất cao bài thơ của Goethe : “Các Promethe của thời đại chúng ta /biểu d ương trước thắng lợi và không còn sợ diều hâu bạo tàn nữa. Promethe của Goethe là một bài thơ của thời đại chúng t a”. (Thời đại Bielinski – thời đại chuẩn bị đánh đổ Nga Ho àng, thế kỉ 19 – nước Nga). Tuy vậy, đến giai đoạn sau (1781) Goethe lại viết bài “Những giới hạn của nhân loại “ có đoạn : Với thần thánh không người nào, Đọ sức được. Nếu ai cố rướn lên đầu chạm các vì sao. Chân chới với mất nơi bấu víu. Thế mà trước đó chưa lâu tác giả đã say mê với Promethe ! Đó là một khối mâu thuẫn lớn trong nhà thơ Goethe. Về hình thức thơ, Goethe không còn sử dụng đỏan ca hay tụng ca như giai đoạn đầu, mà chuyển sang viết bi ca (elegic) và sonet. Mỗi bài sonet có 14 câu chia ra 14 khổ (4-4-4-2), vvần luật nghiêm túc. Tập “ những bài bi ca La Mã ‘’ viết về chủ đề thành La mã cổ, bên cạnh là chủ đề t ình yêu được khơi nguồn từ cuộc tình với Cristian Wunpiut dẫn đến hôn nhân (1788). Đó là cô gái bình dân làm nghề tết hoa giả sống ở Vaima. Bất chấp dị nghị của giới thượng lưu Vaima, hai người có con với nhau (1789) đến năm 1806 hai người đám cưới chính thức. T ình yêu trong tập thơ này không có chất men say tuổi trẻ mà toát lên cảm giác hạnh phúc vợ chồng, gia đ ình đầm ấm, trong đó có nhiều bài hay được Karl Marx và Engels ưa thích. Đỉnh cao thơ ca cuối cùng của Goethe là “Tập thơ Tây Đông” gồm 335 bài khi nhà thơ ngoài 65 tuổi. Hình ảnh nhân vật trữ tình đã về già, chín chắn, điềm đạm, sâu lắng, triết lí mà vẫn uy thế ngời ngời. Một quyển trong tập thơ dành riêng cho mối tình mới đến với thiếu phụ Suleyka (tên thực có thể là Marian phon Vinlemer, nhưng có nhà nghiên cứu cho rằng Suleyka “chỉ là một hình ảnh tượng trưng”. Nhìn chung, cống hiến của Goethe trong lĩnh vực thơ ca là đã khám phá ra thế giới tâm hồn của chủ thể, đã vượt qua tình trạng làm thơ tả cảnh, giáo huấn đạo đức; cống hiến của ông đã làm phong phú nghệ thuật thi ca bằng nhưng hình thức mới thay những hình thức quá cổ xưa mà đương thời ở Đức chưa ai biết. Goethe – nhà tiểu thuyết. Tiểu thuyết“Nỗi đau của chàng Vecte”(Wecthers) Tiểu thuyết viết dưới dạng những bức thư, thể loại quen thuộc của văn học phương Tây thế kỉ 18. Những bức thư của nhân vật Vecte gửi cho người bạn thân Vinhem kể cho bạn nghe cuộc sống của mình – đó là kết cấu hình thức của tiểu thuyết (Sáng tác năm 1774) Vecte là một thanh niên có học thức, tài hoa thuộc tầng lớp thị dân. Sau mối t ình
  18. VHPT1/P.H.N146 dang dở với leonor, lại chán nản và mòn mỏi tháng ngày trong công việc phục vụ giới quí tộc, chàng rời thành phố về một thị trấn nhỏ miền quê yên t ĩnh, sống giữa khung cảnh thiên nhiên bao la với những người dân quê thật thà chất phácmong được khâuy khoả tâm hồn. Đến khi tưởng chừng đã lấy lại được tâm hồn thư thái thì tình cờ đi tham dự một đêm vũ hội ở địa phương, Vecte quen biết với Lother một thiếu nữ xinh đẹp con một vị pháp quan. Nhan sắc và tính tình giản dị, chân thật, nhạy cảm của nàng lập tức chinh phục Vecte. Đồng thời Vecte cũng đau khổ vì biết Lother đã đính hôn với Anbec. Còn cô thiếu nữ quí tộc địa phưong kia mặc dù quả có cảm t ình với Vecte vẫn quyết giữ vững lời hẹn hôn nhân với Anbec. Tuyệt vọng, Vecte quay trở về thành phố. Nghe theo lời mẹ, chàng làm thư kí cho một viên sứ thần, mong t ìm sự lãng quên trong công việc. Chưa bao giờ cái hố ngăn cách giữa chàng và xã hội quí tộc lại hiện ra rõ rệt như trong thời gian ấy. Bọn chúng tỏ thái độ khinh miệt chàng khiến Vecte không sao chịu nổi, lại bỏ việc và quay về miền quê tìm Lother lúc này đã là vợ của Anbec. Chàng thừa nhận là không thể nào sống thiếu Lother được. Tình yêu giữa hai người lại bùng dậy với những buổi trò chuyện, những cuộc dạo chơi, tuy cả hai đều cố nén t ình cảm để khỏi vượt quá giới hạn của t ình bạn. Có một lần Vecte không tự chủ được mình đã ôm hôn Lother say đắm. Sau đó chàng lại càng tuyệt vọngnhiều hơn, lấy cớ đi xa, chàng từ biệt Lother và Anbec rồi sai đầy tớ đến mượn Anbec súng lục. Chính Lother trao súng, người run lên vì linh cảm một điều chẳng lành. Vecte tự sát, cuốn tiểu thuyết Emilia Galotti của Lessing còn để mở trên bàn. Goethe đã mượn nhữg là thư tâm t ình của nhân vật để dễ dàng miêu tả nỗi lòng của nhân vật, bộc lộ được những uẩn khúc quanh co của trái tim sâu kín. Tất cả số thư đến là của Vecte gửi đi , do đó cuộc sống của nhân vật này được miêu tả liền mạch. Vinhem là một nhân vật đặc biệt tuy không được miêu tả trực tiếp nhưng chân dung và tính cách vẫn hiện ra. Tiểu thuyết bằng thư rất sinh động, chân thật với những rung động tinh tế của con tim như tuôn trào khỏi trang giấy trắng. Không ít người hiểu lầm ý nghiã của tiểu thuyết này khi nhìn nhận nó như một tiểu thuyết tình. Thậm chí ngay cả Napoleon cũng chê Goethe đã “gắn những xung đột xã hội vào bi kịch t ình yêu làm cho tác phẩm giảm hay một phần”. Lại có cách nhận định khác cố ý tách nội dung ra hai chủ đề – chủ đề tình yêu và chủ đề xã hội. Thực ra hai khía cạnh ấy quyện chặt với nhau, hoà nhập để tạo thành tư tưởng- nghệ thuật độc đáo của cuốn tiểu thuyết. Tình yêu tuyệt vọng của Vecte và Lother trải qua hai giai đoạn và xen giữa làa nỗi đau khổ của Vecte khi làm thư kí cho viên sứ thần. Đấy là chưa kể nguyên nhân ban đầu thúc đẩy vectye tìm về miền quê. Còn Lother đã thực sự yêu say đắm chàng Vecte nhưng không thể vựơt qua tập tục xã hội phong kiến quí tộc, dù chỉ đính ước, nàng đã bị coi là vợ của Anbec. Những nỗi đau khổ của chàng Vecte phản ánh tâm trạng của tầng lớp thanh niên tư sản mới xuất hiện trong xã hôi phong kiến Đức đầy rẫy những thành kiến bất bình đẳng. Rõ ràng Vecte đã mang hơi thở và nhịp đập của trái tim phản kháng xã hội. Tiểu thuyết còn có hạn chế là nghiêng về chủ nghĩa duy cảm (coi nhẹ lí trí).Một năm sau khi cuốn sách ra đời, Goethe làm thêm bài thơ nhan đề “Nỗi đau của chàng Vecte” có câu “Bạn ơi hãy làm người dũng cảm chớ theo gương tôi”.
  19. VHPT1/P.H.N147 Vở kich Faust 1. Faust và kết cấu độc đáo Faust là kiệt tác lớn nhất của Goethe, vở kịch thơ độc đáo và đồ sộ gồm trên 1200 câu thơ và chia là hai phần “Faust I” và “Faust II” có cấu tạo khác nhau chưa kể 32 câu thơ “đề tặng” và hai màn phụ “giáo đầu ở nhà hát” và “giáo đầu trên thiên đường”. Nhà thơ bắt đầu thai nghén “Faust I” từ 1769 khi còn đang học đại học luật. Khi đến Vaima, ông mang theo bản thảo. Sau nhiều lần bổ sung, sưả chữa, Faust I ra đời năm 1808, Tiếp tục viết phần hai, hoàn thành 7-1831 và được in sau khi ông ra đời. “Đề tặng” mở đầu vở khịch với 32 câu thơ nói với các nhân vật. Ngoài ý nghĩa tặng cho bạn bè thân quen lúc ấy đã mỗi người mỗi ngã, còn là lời giải thích lí do nhà thơ chọn đề tài. Hình bóng Faust chập chờn ám ảnh thôi thúc ông. Truyền thuyết về bác sĩ Faust đã đáp ứng những tâm tư tình cảm của Goethe. Tiếp theo là màn “giáo đầu ở nhà hát” với ba nhân vật : giám đốc nhà hát, nhà thơ và diễn viên. Mỗi người trình bày ý kiến củ mình. Giám đốc nhà hát yêu cầu nhà thơ viết gấp cho những kịch bản đáp ứng “khẩu vị của đám khán giả cứ hàng ngày kéo đến rạp đông như thác lũ, ông khuyên nhà thơ chẳng cần viết những gì cao siêu. Nhà thơ phản dđèi quan điểm thực dụng của giám đốc. Anh muốn bảo to àn thiên chức cao cả của thi nhân, thà lui về một góc trời viết thơ giành cho thế hệ mai sau chứ không thể viết những tác phẩm nhất thời, hay trở thành bồi bút. Diễn viên vừa tỏ ra đồng tình lại vừa tỏ ra băn khoăn rằng nếu chỉ nghĩ đến mai sau thì “ ai lo giải trí cho khán giả đương thời “. Dù ý kiến của ba nhân vật vừa phủ định lại vừa bổ sung cho nhau, từ đó toát lên quan điểm thẩm mĩ tiến bộ của nhà thơ. Phải hướng tới mục đích cao cả của nghệ thuật, phải sáng tác để phục vụ công chúng đông đảo chứ kohông phải những kẻ giàu sang với những đàn bà quí tộc chán chường Phải dùng ngòi bút để ca ngợi cái tốt, phê phán cái xấu, động viên tình yêu và ý chí vươn lên của con người Kế tiếp là “màn giáo đầu trên thiên đường”. Các thiên thần đang ca ngợi kì công của Chuá thì xuất hiện con quỉ Mephisto đến để báo cáo t ình hình con người ở chốn trần gian. Hắn chế giễu con người là “ông thánh con lố bịch”; hắn phàn nàn rằng Chúa ban cho họ trí khôn để họ đem sử dụng linh tinh bừa bãi nên con người lại còn “súc sinh hơn con vật”. Hắn khẳng định tiến sĩ Faust chỉ là một người mất trí, ngông cuồng muốn hái những ngôi sao xa xôi, muốn tận hưởng lạc thú ỏ mặt dất trong khi Chúa đánh giá bản chất của Faust là tốt. Hắn đánh cuộc với Chúa là sẽ làm cho Faust “ ăn dất bùn mà lấy làm thú vị”, nghĩa là y sẽ thoả mãn với những dục vọng thấp hèn. Faust I gồm 25 cảnh liên tiếp, mỗi cảnh chuyển tới một địa điểm khác. Thời gian trong cốt truyện kéo dài hàng năm. Từ căn phòng làm việc của tiến sĩ Faust đến cổng thành, từ quán rượu Auebec ở Laixich đến một cánh đồng u ám hoang vu, từ rừng thẳm hang sâu đến nhà giam… Nhà học giả Faust ngồi trong phòng làm việc suy nghĩ miên man, cảm thấy đau khổ tột cùng vì biết mình tuy học rộng hiểu nhiều, biết rõ những giá trị kiến thức của mình còn kém xa bao điều bí ẩn chưa tìm ra được. Faust dùng ma thuật gọi Thần Đất lên để t ìm hiểu về những đieuà huyền bí của vũ trụ, nhưng khi thần xuất hiện chói lọi quá ông không chịu đựng nổi, lại càng tuyệt vọng khi nghe Thần phán rằng Faust không thể nào sánh kịp với Thần, Faust định dùng thuốc độc tự sát thì vừa lúc tiếng chuông nhà thờ ngân vang mở đầu ngày lễ Phục sinh làm ông bừng tỉnh lại. Sáng hôm sau, Faust và người trợ lí Vacne đi dạo ngoài cổng thành, lúc trở về có con chó mực đi theo vào phòng. Con chó hiện nguyên hình chính là qu ỉ Mephisto. Hai bên trao đổi và giao ước. Mephisto hứa thoả mãn mọi ý muốn của Faust với điều kiện khi Faust đã thoả mãn rồi (tức
  20. VHPT1/P.H.N148 là khi chết) linh hồn ông sẽ thuộc về quỉ Về phần mình, Faust muốn lợi dụng những phép thuật của Mephisto để đạt được bao điều ấp ủ bấy lâu. Quỉ dẫn Faust đến quán Auebach nơi rượu chè bê tha của các sinh viên rồi đưa ông tới lò luyện đan của mụ phù thuỷ để uống thuốc cải lão hoàn đồng. Trở ra phố, Faust gặp và si mê cô Macgret (Gretchen). Quỉ giúp Faust quyến rũ và làm hại đời cô. Với lọ thuốc ngủ Faust đưa cho Macgret định làm cho mẹ ngủ say để hai người t ình tự. Nhưng rồi bà mẹ không bao giờ thức dậy đượcvì liều thuốc quá nặng. Anh trai của Macgret cũng bị Faust dùng kiếm của Mephisto đâm chết… Macgret sinh con, cô sợ bị xã hội chê cười xỉ nhục liền đem con quẳng xuống cái ao trong rừng, do đó bị bắt giam chờ ngày hành hình. Trong khi ấy Mephisto dẫn Faust lên núi dự đêm hội yêu ma để chàng quên lãng Macgret. Nhưng Faust không thể quên được người yêu đang đau khổ nên đòi quỉ phải đưa chàng vào nhà giam để cứu cô. Không ngờ Macgret cự và chọn cái chết. Faust II chia làm 5 hồi, về hình thức là trở lại cấu trúc của bi kịch cổ điển chủ nghĩa. Vừa ở trại giam đi ra, Faust đau đớn ngã ramê man giữa cánh đồng cỏ dại. Các nàng tiên nữ bay liệng, múa hát ru cho Faust ngủ yên. Sau khi phục hồi sinh lực và sức lực, Faust lại cùng Mephisto tiếp tục cuộc hành trình. Hai người xin vào triều đình gặp vua. Vua tỏ ý muốn xem mặt nàng Helene (Helene – hoàng hậu Hi Lạp, bỏ vua chạy theo chàng Paris về thành Troice), người mĩ nữ nổi tiếng xinh đẹp nhất thời cổ đại Hi Lạp. Nhờ phép thuật của Quỉ, Faust đã gọi được nàng về cõi thế. Faust bỗng say đắm nàng, chạy lại ôm chầm lấy Helene và ngất lịm đi khi nàng biến mất, để lại trong tay chàng chiếc áo mỏng hơi sương. Quỉ đưa Faust trở lại phòng làm việc của tiến sĩ ngày xưa. Bao nhiêu năm đã trôi qua, Vacne đã trở thành giáo sư, và chế tạo được hình nhân nhỏ (homonculus) sống trong ống nghiệm. Một hình nhân tí hon đi cùng Faust và Quỉ xuống âm phủ, tìm kiếm thế giới Hi Lạp cổ đại. Ở đây, Faust gặp lại nàng Helene mà tưởng như nàng vừa rời bỏ thành Troie trở về cung điện của vua Menelax. Quỉ Mephisto đe doạ nàng khó tránh khỏi trừng phạt, rồi khuyên nàng vào lánh nạn trong toà lâu đài của tiến sĩ Faust…Hai người đã ăn ở với nhau, sinh được một con trai đặt tên là Euphorion. Chú bé thích bay nhảy nên cha cậu đã gắn cho con đôi cánh sáp ong, cậu bé ng ã xuống từ trên cao mà chết. Helene đau buồn bay đi theo linh hồn con, để lại một chiếc áo dài biến thành đám mây đưa Faust trở về cõi trần gian… Faust giúp nhà vua đánh giặc phép thuật quỉ ; được nhà vua cấp cho khu đất hoang ngoài bãi biển. Từ đó Faust tổ chức nhân dân đào kênh dắp đập, biến chốn hoang vu thành miền trù phú. Lúc này Faust đã được trăm tuổi. Quỉ hà hơi vào mắt khiến cho ông bị mù .Nghe tiếng cuốc xẻng đào huyệt, Faust tưởng đó là tiếng nông dân làm ruộng; ông cảm thấy toại nguyện và thốt lên lời “ta đã được thoả mãn”. Mephisto nghĩ đã hoàn thành bản hợp đồng giao ước nên bước tới bắt linh hồn Faust; nhưng các thiên thần nhanh hơn đã đón linh hồn ông đưa về cõi thiên đường. Bi kịch Faust là một bản anh hùng ca. Trong văn học thế giới, hiếm có tác phẩm nội dung phong phú, tư tưởng sâu sắc, phương tiện văn chương biến đổi linh hoạt đến như thế. Lối thơ và vần điệu cũng thay đổi theo sát hành động kịch. Các đoạn đối thoại triết học xen kẻ với cảnh sinh hoạt, khúc ca trữ t ình xen kẽ với văn xuôi. Toàn bộ lịch sử nhân loại được khơi dậy dọc theo cuộc hành trình của Faust, từ cuộc chiến tranh thành Troie đến sự sụp đổ của Misolonghi, từ bi kịch Euripide (Hi Lap cổ) đến nhà thơ Anh Byron từ Thales triết gia – nhà toán học cổ đại Hy Lạp đến Alexan de Humbon triết học gia Ánh sáng. 2. Faust và bóng dáng thời đại Faust là một nhân vật có thật trong lịch sử dân tộc Đức, một nhà chiêm tinh biết

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản