
Gốm Bát Tràng trong văn hóa
Thăng Long
Sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi cho biết: Trong số đồ cống nạp phong kiến
phương Bắc, “làng Bát Tràng phải cung ứng 70 bộ bát đĩa”. Nước Tàu có nghề làm gốm
men nổi tiếng lại nhận gốm men Bát Tràng?
Tài hoa bàn tay thợ gốm Bát Tràng
Vào những ngày Thăng Long - Hà Nội gần nghìn tuổi, làng nghề bên sông Hồng
vẫn ngày ngày nung gốm.
Từ thời Trần - Lê
Xã Bát Tràng hiện nay gồm hai làng Bát Tràng và Giang Cao gộp lại, là một trong
31 xã của huyện Gia Lâm, trước thuộc tỉnh Bắc Ninh, từ năm 1961 thuộc ngoại thành Hà
Nội.

Căn cứ theo sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi soạn vào giữa thế kỷ XV thì tên gọi
Bát Tràng chắc chắn đã từ thời Lê sơ. Một nguồn khác, sách Đại Việt sử ký toàn thư có
chép vụ lụt lội xảy ra vào năm 1352: “Nước sông lớn tràn lan, vỡ đê Bát - Khối…”. Đê
Bát- Khối chính là đê Bát Tràng và Cự Khối, đều thuộc địa phận huyện Gia Lâm.
Sử cũ cũng chép năm 1376, vua Trần Nhân Tông mang 12 vạn quân đi qua “bến
sông xã Bát”. Theo học giả Đào Duy Anh, xã Bát chính là xã Bát Tràng. Như vậy, từ nửa
sau thế kỷ XIV đã xuất hiện tên gọi xã Bát trong đơn vị hành chính.
Quá trình thành lập làng xã Bát Tràng dường như liên quan đến sự tụ cư và chuyển
cư được diễn ra qua một thời gian khá dài.
Tương truyền chuyển cư tới đây đầu tiên chính là những người thợ thuộc họ
Nguyễn Ninh Tràng (Trường) từ trường Vĩnh Ninh (Thanh Hoá) - nơi sản xuất loại gạch
xây thành nổi tiếng trong lịch sử. Tiếp đó là dân làng Bồ Bát (Bồ Xuyên, Bạch Bát) thuộc
Ninh Bình.
Các cụ già truyền lại rằng lúc đầu, có 5 cụ thuộc các dòng họ Lê, Trần, Vưng,
Phạm, Nguyễn, đem gia quyến đến vùng có 72 gò đất trắng này lập nghiệp. Họ sống quần
tụ với những người dòng họ Nguyễn Ninh Tràng, lập thành phường sản xuất gốm, gọi là
Bạch thổ phường.
Nghề gốm ngày một phát triển, số gia đình ở Bồ Bát kéo ra ngày một đông, nhiều
nhất là vào giai đoạn Lê Trung Hưng. Tới lúc ấy, ở Bát Tràng đã có 20 dòng họ khác
nhau. Đình Bát Tràng hiện còn giữ đôi câu đối ghi dấu việc chuyển cư này:
Phiên âm:
Bồ di thủ nghệ khai đình vũ
Lan nhiệt tâm hương bái thánh thần
Dịch nghĩa:
Đem nghề từ làng Bồ ra khởi dựng đình miếu
Lòng thành như hương lan cúng tạ thánh thần.

Người thợ gốm có tập tục riêng thể hiện tính nghề nghiệp rõ nét và cảm động. Con
dao mây, đóng vai trò quan trọng trong tạo hình gốm, là vật tuỳ thân rất gần gũi với đàn
ông làng gốm Bát Tràng. Khi sống họ luôn mang bên mình, đến khi qua đời thì hầu như
người thợ nào cũng dặn dò con cháu hãy chôn theo mình.
Còn về cưới xin, xưa kia ở Bát Tràng, phần nhiều trai gái trong làng lấy nhau để
nghề nghiệp không bị lộ ra ngoài. Con gái Bát Tràng lấy con trai làng khác là điều hiếm
thấy.
Nguồn gốc Việt Nam
Huyền thoại về tổ nghề của Bát Tràng không tồn tại riêng biệt mà trong tương quan
với hai làng gốm gần kề là Phù Lãng (Bắc Ninh) và Thổ Hà (Bắc Giang). Tương truyền,
vào thời Trần (thế kỷ XIII- XIV), có ba vị đỗ thái học sinh (tức ngang với tiến sĩ thời Lê-
Nguyễn) được triều đình cử đi sứ Bắc Quốc. Hứa Vĩnh Kiều - người Bát Tràng, Đào Trí
Tiến - người Thổ Hà, và Lưu Phương Tú - người Phù Lãng.
Xong việc về nước, qua Thiều Châu - nơi có xưởng gốm Khai Phong, gặp bão lớn,
họ phải dừng lại nghỉ. Ba ông bèn học lấy nghề gốm rồi đem về nước truyền bảo cho dân
quê mình.
Do vậy mà làng Bát Tràng chuyên chế các hàng gốm men có sắc trắng, làng Thổ Hà
chuyên chế các hàng gốm men có sắc đỏ, còn làng Phù Lãng thì chế các hàng gốm men
có sắc vàng thẫm.
Cũng dựa vào truyền thuyết, song trong cuốn sách Bàn về người Bắc Kỳ, một nhà
nghiên cứu nước ngoài là Dumochier trước đây lại quy công dạy nghề làm gốm ở nước ta
cho một người thợ Trung Quốc tên là Hoàng Quang Hưng. Ông được coi là đã đến Bát
Tràng, Phù Lãng, rồi đến Thổ Hà vào năm 1465, dưới triều Lê Thánh Tông. Song nhiều
nghiên cứu khảo cổ học đã cho thấy giả thuyết này sai.
Trên thực tế, các nhà khảo cổ học đã phát hiện những dấu vết đồ gốm thô có niên
đại trên 6.000 năm trước ở nước ta. Giai đoạn Đại Việt cũng đã xuất hiện một số trung

