Học thuyết tính thiện - từ Mạnh Tử đến tư tưởng Hồ Chí Minh và ý nghĩa của nó

Chia sẻ: ViSatori ViSatori | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
5
lượt xem
0
download

Học thuyết tính thiện - từ Mạnh Tử đến tư tưởng Hồ Chí Minh và ý nghĩa của nó

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết này, tác giả phân tích một số khía cạnh trong học thuyết “tính thiện” của Mạnh Tử; chỉ ra sự thể hiện của nó trong triết học Hồ Chí Minh; từ đó, rút ra ý nghĩa của nó trong giáo dục đạo đức cho con người Việt Nam hiện nay.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Học thuyết tính thiện - từ Mạnh Tử đến tư tưởng Hồ Chí Minh và ý nghĩa của nó

HỌC THUYẾT “TÍNH THIỆN” - TỪ MẠNH TỬ<br /> ĐẾN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ<br /> Lê Đức Thọ1<br /> <br /> Tóm tắt: Học thuyết “tính thiện” của Mạnh Tử nếu gạt bỏ đi những hạn chế về điều kiện<br /> lịch sử và dấu ấn của lợi ích giai cấp, nó vẫn còn những giá trị lịch sử nhất định trong đời sống<br /> xã hội hiện đại trước những tác động của quá trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh<br /> tế quốc tế. Hồ Chí Minh đã kế thừa và vận dụng sáng tạo học thuyết “tính thiện” của Mạnh Tử;<br /> được thể hiện sâu sắc trong các quan điểm của Người khi bàn về bản tính con người. Bài viết này,<br /> tác giả phân tích một số khía cạnh trong học thuyết “tính thiện” của Mạnh Tử; chỉ ra sự thể hiện<br /> của nó trong triết học Hồ Chí Minh; từ đó, rút ra ý nghĩa của nó trong giáo dục đạo đức cho con<br /> người Việt Nam hiện nay.<br /> Từ khóa: Mạnh Tử; Tính thiện; Hồ Chí Minh; Con người; Giáo dục đạo đức.<br /> Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc<br /> tế ở Việt Nam hiện nay, những tác động của nó kéo theo sự biến đổi những giá trị đạo đức theo<br /> hướng vừa tích cực vừa tiêu cực. Khoa học công nghệ và kinh tế ngày càng phát triển, đáp ứng<br /> được rất nhiều nhu cầu của đời sống con người; nhưng chính nó cũng sẽ tạo ra những nguy cơ,<br /> phương tiện khiến nhân loại tàn hại lẫn nhau, một khi con người mất dần cái tính thiện của mình.<br /> Vì vậy, việc nghiên cứu và vận dụng học thuyết “tính thiện” trong triết học Mạnh Tử cũng như sự<br /> thể hiện của nó trong triết học Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa quan trọng trong giáo dục đạo đức<br /> cho con người Việt Nam hiện nay.<br /> 1 . Học thuyết “tính thiện” trong triết học Mạnh Tử<br /> Mạnh Tử họ Mạnh tên Kha, tự là Tử Dư sinh năm (372 – 289 TCN), dòng Mạnh Tôn, ông<br /> mồ côi cha lúc lên 3 tuổi, mẹ ông là bà Cừu Thị vì lo cho con đã phải dời nhà hai lần, đến gần<br /> trường học. Từ nhỏ, Mạnh Tử đã được gia đình giáo dục theo lễ giáo phong kiến rất chặt chẽ. Lớn<br /> lên, ông theo học Tử Tư – cháu nội của Khổng Tử, nhờ đó hiểu rỏ hơn đạo lý của Khổng Tử, tài<br /> năng của ông càng có điều kiện phát triển hơn, đặc biệt là tài hùng biện, ông đã trở thành một trong<br /> ba đại nho thời Xuân Thu – Chiến Quốc.<br /> Là người có tài hùng biện, Mạnh Tử đã đi nhiều nước để truyền đạo nhằm bảo vệ và phát<br /> triển tư tưởng của Khổng Tử trong lúc xã hội đương thời có nhiều học thuyết chống lại tư tưởng<br /> này. Ông không được trọng dụng nên về quê dạy học. Cùng với các môn đệ của mình, Mạnh Tử<br /> ghi chép lại những điều ông đã đàm luận với vua các nước chư hầu và bày tỏ thái độ của mình đối<br /> với các học thuyết khác qua bộ “Mạnh Tử”.<br /> Tư tưởng của Mạnh Tử tập trung vào những vấn đề triết lý nhân sinh mà trọng tâm của nó là<br /> học thuyết về bản thể nhân tính của con người – thuyết “tính thiện”. Đây là vấn đề giữ then chốt<br /> 1<br /> <br /> . ThS. Trường Cao đẳng nghề Đà Nẵng<br /> <br /> không chỉ trong học thuyết của Mạnh Tử mà hầu như còn trong tất cả các học thuyết của các triết<br /> gia Trung Quốc cổ đại. Khuynh hướng này bắt nguồn từ xã hội Trung Quốc loạn lạc và các nhà tư<br /> tưởng cho rằng không có một sự cải cách căn bản nào trong xã hội lại không bắt đầu từ sự thay đổi<br /> bản tính con người. Thời Mạnh Tử, khi bàn về bản tính con người, có ba quan điểm chính: phái<br /> Cáo Tử cho rằng con người ta không thiện cũng không ác; phái khác cho rằng, tính người có thể<br /> thiện cũng có thể ác, tùy theo hoàn cảnh. Phái thứ ba lại khẳng định, tính khác nhau tùy theo người,<br /> có người bản tính thiện, có người bản tính ác.<br /> Bác bỏ tất cả những thuyết trên, Mạnh Tử cho rằng, bản tính con người là thiện. Còn như<br /> người ta làm những điều bất thiện, chẳng qua là họ theo tư dục của mìuh, chứ không phải bản tính<br /> con người ta là như vậy. Mạnh Tử đưa ra căn cứ để giải thích: tính thiện của con người được biểu<br /> hiện ở bốn đức lớn: nhân, nghĩa, lễ, trí. Bốn đức lớn ấy bắt nguồn từ “tứ đoan”, bốn đầu mối của<br /> thiện: người ta ai cũng có lòng trắc ẩn (biết thương xót), lòng tu ố (biết thẹn, ghét), lòng từ nhượng<br /> (biết cung kính) và lòng thị phi ( biết phải trái ).<br /> Lòng thương xót là đầu mối của nhân, lòng thẹn, ghét là đầu mối của nghĩa, lòng cung kính<br /> là đầu mối của lễ, lòng thị phi là đầu mối của trí. Thiện đoan ấy là cái chất ( tài chất) vốn có của<br /> con người.<br /> Bản tính của con người là thiện, theo Mạnh Tử còn vì tính là cái tính chung, cái bản chất<br /> của một loài, đã là loài người thì người ta ai cũng đều có cái mầm thiện vốn có và ai cũng đều có<br /> các quan năng do Trời phú cho mỗi người để nhận biết, phân biệt phải trái, tốt xấu như nhau. Với<br /> tài chất và quan năng Thiên phú giống nhau đó, người ta ai cũng có thể trở thành thánh nhân.<br /> Bản tính thiện của con người ta đều bắt nguồn từ “tâm” của mỗi con người. Tâm là cái chủ<br /> thể trong tinh thần, là cái thần linh Trời phú cho ta, là cơ quan để suy nghĩ, nhờ tâm mà ta phân<br /> biệt mọi điều phải trái, thiện ác … đủ để ứng đối với vạn vật, vạn sự, cho nên còn gọi là “lương<br /> tâm”. Đó là cái tự ta biết, Trời sinh ra đã có, cái biết “tiên thiên” hay còn gọi là “sinh tri”.<br /> Vì tâm là cơ quan chủ thể trong tinh thần con người, nên Mạnh Tử chủ trương phải “tòn kỳ<br /> tâm, dưỡng kỳ tính”. “Tồn tâm dưỡng tính” đó là sự giữ gìn, bồi dưỡng, không làm tổn hại hay<br /> làm mất thiên tâm, thiên tính, thiên tước. Mạnh Tử cho rằng những người không “tồn tâm dưỡng<br /> tính” là những người nói không phải lễ nghĩa, gọi là tự hại mình. Thân không ở nhân, không theo<br /> điều nghĩa gọi là tự bỏ mình.<br /> Để bảo tồn và phát triển tâm tính con người, Mạnh Tử chủ trương cần phải có sự rèn luyện,<br /> giáo dục đạo lý cho con người. Trong giáo dục đạo lý, nhân nghĩa, theo ông cần phải có chuẩn<br /> mực. Chuẩn mực ấy không có gì khác hơn là đức độ, đạo lý của thành hiền gọi là “pháp thiên<br /> vương”. Theo chuẩn mực đó, Mạnh Tử đòi hỏi người học phải chuyên tâm, trì chí, khiêm nhượng,<br /> cầu tiến, không khi nào tự cho mình đã là hoàn toàn. Mặt khác, ông cũng đòi hỏi người dạy phải<br /> luôn tự sửa lấy mình, giữ tâm mình cho chính.<br /> Như vậy, trong học thuyết về luân lý, đạo đức Mạnh Tử khẳng định, bản tính con người là<br /> lương thiện, nó bắt nguồn từ tâm do Trời phú cho con người. Và ý chí của con người chi phối<br /> khí.Học thuyết “tính thiện” của Mạnh Tử, nếu gạt bỏ những hạn chế về lịch sử và lợi ích giai cấp,<br /> thì nó vẫn có những đóng góp sau đây:<br /> Thứ nhất, Mạnh Tử đã phát hiện ra bản tính tốt đẹp của con người - bản tính thiện, và tin<br /> tưởng, về bản chất ai cũng có thể trở nên lương thiện. Điều đó có ý nghĩa xã hội tích cực và tính<br /> <br /> nhân văn sâu sắc.Học thuyết “tính thiện” của Mạnh Tử là một trong những học thuyết có tính hệ<br /> thống và khá sâu sắc. Theo ông, tính thiện là cái tố chất tiên thiên do trời phú cho con người, là<br /> bản tính thiện tự nhiên vốn có của con người. Qua đó, có thể nói Mạnh Tử là một trong những<br /> người đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa phát hiện ra bản chất tốt đẹp của con người đó là tính thiện.<br /> Ông vượt lên trên những khác biệt về lợi ích và địa vị của các tầng lớp trong xã hội; gạt bỏ những<br /> định kiến, hẹp hòi, khám phá tới tận cái sâu thẳm trong tâm con người để tìm thấy điểm tương<br /> đồng, phẩm chất chung của con người là tính thiện. Đó chính là sự bình đẳng đầu tiên của con<br /> người mà Mạnh Tử đã phát hiện và thừa nhận trên bình diện nhận thức. Và đó cũng là cơ sở để<br /> con người trong xã hội vươn tới sự bình đẳng. Mạnh Tử cho rằng, con người sinh ra vốn bình đẳng<br /> về tính thiện, ai cũng có khả năng giữ gìn, phát huy tính thiện của mình. Đó chính là thông điệp<br /> hàm chứa tính nhân văn sâu sắc của Mạnh Tử đối với con người.<br /> Thứ hai, Mạnh Tử đã xây dựng được một hệ thống các phạm trù nhân, nghĩa, lễ, trí khá<br /> phong phú và sâu sắc trong học thuyết tính Thiện . Đây cũng là một trong những cống hiến to lớn<br /> của Mạnh Tử dối với nền học thuật Trung Hoa nói riêng, cũng như đối với lịch sử tư tưởng nhân<br /> loại nói chung. Theo ông, nhân, nghĩa, lễ, trí là những biểu hiện tính thiện của con người trong đời<br /> sống xã hội. Nhằm chứng minh, bảo vệ cho quan điểm bản tính con người là thiện của mình, Mạnh<br /> Tử trên cơ sở kế thừa, phát triển tư tưởng của Khổng Tử, đã xây dựng, hoàn thiện được một hệ<br /> thống phạm trù nhân, nghĩa, lễ, trí khá phong phú và sâu sắc. Ông không những tìm tòi, khám phá<br /> được cái nguồn gốc sâu xa, bản chất, nội dung và những vai trò to lớn của nhân, nghĩa, lễ, trí mà<br /> còn vạch ra đường lối để đi tới nhân, nghĩa, lễ, trí trong đời sống. Nó chính là triết lý nhân sinh có<br /> tác dụng rất lớn đối với con người và xã hội ở các thời khác nhau.<br /> Thứ ba, đóng góp về phương pháp giáo dục của Mạnh Tử. Đây là một đóng góp to lớn và<br /> quý báu vào sự hình thành, phát triển lý luận về tâm lý và lý luận về giáo dục trong lịch sử tư tưởng<br /> nhân loại. Mạnh Tử đã chi ra sự cần thiết, mục đích, nội dung và phương pháp giáo dục tính thiện<br /> cho con người. Mạnh Tử một mặt kiên trì bản tính con người vốn là thiện, nó là cái “lương năng”<br /> không cần phải học nhiều mà vẫn có khả năng và “lương tri”, nghĩa là không suy nghĩ mà có thể<br /> biết. Tuy nhiên, ông cũng xem tính thiện không phải là nhất thành bất biến, mà có thể thay đổi. Sự<br /> thay đổi đó, theo ông là do ảnh hưởng của hoàn cảnh bên ngoài. Vì vậy, phương pháp giáo dục<br /> theo ông là “Tồn tâm, dưỡng tính, dưỡng khí” và “pháp thiên vương”. Theo những phương pháp<br /> đó, ông yêu cầu con người phải chuyên tâm, cần cù, nhẫn nại, kiên trì, bền chí. Những yêu cầu của<br /> ông đối với cả người dạy và người học được xem là những nguyên tắc trong phương pháp giáo<br /> hóa tính thiện con người của ông.<br /> Thứ tư, học thuyết của Mạnh Tử có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống đạo đức xã hội ở một<br /> số nước phương Đông. Những quan điểm về bản tính thiện con người của ông đã góp phần bổ<br /> sung, hoàn thiện và làm sâu sắc đường lối đức trị. Đặc biệt, những lời cảnh báo của ông với vua<br /> chúa có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn đối với đương thời và hậu thế. Những quan điểm của<br /> ông đã có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống đạo đức xã hội ở một số quốc gia như Việt Nam, Nhật<br /> Bản, Triều Tiên ..<br /> Như vậy, học thuyết “tính thiện” của Mạnh Tử cho đến nay vẫn còn có ý nghĩa nhất định,<br /> bởi những giá trị của nó để lại cho nhân loại. Mạnh Tử xứng đáng là nhà triết học lớn trong lịch sử<br /> Triết học Trung Hoa và hơn thế nữa. Tuy nhiên, học thuyết này vẫn còn có những hạn chế sau đây:<br /> <br /> Một là, tính chất tiên nghiệm luận thần bí trong quan niệm của ông về bản tính, đạo đức, tri<br /> thức và sinh mệnh của con người. Tuy ông khẳng định bản tính con người là thiện, nhưng ông<br /> không xem đó là sản phẩm được hình thành, tạo nên từ trong quá trình rèn luyện, giáo dục, giáo<br /> dưỡng của con người, mà nó có ngay trong tâm khi con người mới sinh ra. Cho nên, ngay cả những<br /> đức tính nhân, nghĩa, lễ, trí thực chất là đạo đức của giai cấp phong kiến, Mạnh Tử cũng đã thần<br /> thánh hóa và cho đó là biểu hiện tính thiện trời phú cho con người. Bản chất của nhận thức, theo<br /> ông không phải hướng ra thế giới khách quan, tìm kiếm chân lý mà hướng vào thế giới nội tâm,<br /> theo quy tắc đạo đức “tận tâm”. Nói một cách đầy đủ hơn, Mạnh Tử chưa thấy được trong tính<br /> hiện thực của nó, bản chất tính thiện của con người là sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội .<br /> Hai là, dấu ấn của sự phân chia đẳng cấp, danh phận khá đậm nét và sâu sắc. Ông cho rằng,<br /> chỉ có những bậc thánh nhân, quân tử mới có thể nuôi dưỡng tính thiện. Còn những kẻ thường dân<br /> không tự mình làm được thiện. Đây chính là tính chất mâu thuẫn trong chính tư tưởng của Mạnh<br /> Tử, biểu hiện bản chất giai cấp trong quan niệm của ông về con người và bản tính con người.<br /> 2 . Sự thể hiện của thuyết “tính thiện” trong triết học Hồ Chí Minh<br /> Cũng như Khổng Tử, Mạnh Tử, Hồ Chí Minh khẳng định rất rõ và nhất quán: Đạo đức là<br /> gốc, là nền tảng của con người, của xã hội : Cũng như sông phải có nguồn mới có nước, không có<br /> nguồn thì sông cạn; cũng như cây phải có gốc, không có gốc thì cây khô héo. Người cách mạng<br /> phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không thể lãnh đạo được nhân<br /> dân(1). Đạo đức cách mạng bao gồm một hệ thống các chuẩn mực, phẩm chất điều chỉnh mọi hành<br /> vi của con người, đáng chú ý nhất là: Trung với nước, hiếu với dân; yêu thương, quý trọng con<br /> người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế cao cả, trong sáng. Tất cả những<br /> nguyên tắc, chuẩn mực ấy đều xoay quanh phạm trù cái thiện, bởi theo Hồ Chí Minh : Thiện<br /> nghĩa là tốt đẹp, vẻ vang… Mỗi một người chúng ta nếu hết lòng, hết sức phụcsự Tổ quốc, phụng<br /> sự nhân dân, thế là Thiện; nếu chỉ lo lợi ích của mình không lo cho lợi ích chung của nước nhà,<br /> của dân tộc, thế là Ác. Thực hành chí công vô tư, cần kiệm, liêm chính, thế là Thiện. Nếu phạm<br /> phải quan liêu, mệnh lệnh, tham ô, lười biếng, thế là Âc (2)<br /> Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, các phẩm chất đạo đức cách mạng không tự nhiên sẵn<br /> có ở mỗi người, không phải từ trên trời rơi xuống mà là kết quả của quá trình giáo dục, tu dưỡng,<br /> rèn luyện và phấn đấu. Người từng viết:<br /> Ngủ thì ai cũng như lương thiện,<br /> Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền;<br /> Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn, Phần nhiều do<br /> giáo dục mà nên.(3)<br /> Hoặc :<br /> Gạo đem vào giã bao đau đớn,<br /> Gạo giã xong rồi trắng tựa bông;<br /> Sống ở trên đời người cũng vậy,<br /> Gian nan rèn luyện mới thành công(4)<br /> <br /> Trong nội dung giáo dục con người phát triển toàn diện, Hồ Chí Minh coi trọng trước hết<br /> giáo dục con người về đạo đức, đạo lý sống, nhân cách làm người để hình thành những con người<br /> tốt, những cán bộ tốt phục vụ cho công cuộc xây dựng, chấn hưng, bảo vệ và phát triển đất nước.<br /> Quan điểm của Người về giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của con người, nhất là cán<br /> bộ, đảng viên trong điều kiện Đảng cầm quyền rất thiết thực, cụ thể, dễ lĩnh hội và thực hiện nhưng<br /> đã đạt đến chiều sâu tư tưởng và được nâng lên thành triết lý hành động, sáng ngời trí tuệ và bản<br /> chất nhân văn.<br /> Theo Hồ Chí Minh, xét về mặt cấu trúc nhân cách, trong bản thân mỗi con người bao giờ<br /> cũng tồn tại hai mặt đối lập: Tốt và xấu, thiện và ác, nhân tính và vô nhân tính. Hai mặt này thường<br /> xuyên đấu tranh với nhau. Nếu mỗi người thường xuyên tự giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu<br /> thì chắc chắn cái ác, cái xấu bị ngăn chặn, đẩy lùi; cái tốt, cái thiện chiếm ưu thế, ngày càng nhiều<br /> hơn, họ trở thành người tốt, có ích cho nước, cho dân. Trái lại, nếu không giữ mình, sao nhãng<br /> việc phấn đấu, rèn luyện thì cái ác, cái xấu, cái vô đạo đức có điều kiện, cơ hội nảy nở, phát triển<br /> làm cho một người tốt có thể trở thành kẻ xấu, thậm chí là có tội với Đảng, với nhân dân.<br /> Hồ Chí Minh nhận thức rất đúng rằng: Trên đời này không ai hoàn thiện về mọi mặt, luôn<br /> luôn lương thiện, tốt nếu không nỗ lực tu dưỡng, rèn luyện; cũng không ai mãi mãi đồi bại, xấu xa<br /> nếu được giúp đỡ, giáo dục, tự phấn đấu khắc phục hoàn cảnh, vượt lên chính mình với khát vọng<br /> làm người có ích, hòa nhập với cộng đồng và để khẳng định tư cách làm người của mình.<br /> Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, ranh giới giữa tốt - xấu, thiện - ác, anh hùng - tội phạm<br /> thật mỏng manh và do ý chí, nghị lực tu dưỡng rèn luyện tự giác của mỗi người quyết định. Bằng<br /> sự từng trải chiêm nghiệm cuộc đời, tổng kết thực tiễn lãnh đạo cách mạng của Đảng ta, các Đảng<br /> cộng sản, công nhân trên thế giới và sự mẫn cảm chính trị đặc biệt, Hồ Chí Minh đã đi đến một<br /> nhận thức sâu sắc ở tầm triết lý sống, làm người, có tác dụng cảnh tỉnh lương tri và đúng cho mọi<br /> thời đại: Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn,<br /> không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người ca ngợi và yêu mến nếu lòng dạ không<br /> trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân.<br /> Do đó, để có đạo đức thì con người phải phấn đấu tu dưỡng sao cho phần thiện ngày càng<br /> nảy nở như hoa mùa xuân, còn phần ác ngày càng mất dần đi. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đi sâu và<br /> cụ thể hơn nữa khi chỉ rõ: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có<br /> sức hấp dẫn lớn, không nhất định ngày hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca<br /> ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” (5) . Như vậy, đạo đức<br /> không phải là kết quả của những hoạt động tu dưỡng nhất thời, một lần là xong, mà là kết quả của<br /> quá trình đấu tranh, tu dưỡng đạo đức bền bỉ suốt đời. Người cho rằng, con người ta khi “ngủ”<br /> (không tham gia hoạt động gì khác) thì thiện, ác, tốt, xấu - đạo đức và phi đạo đức không có điều<br /> kiện biểu hiện và do đó, không thể phân biệt được; còn khi tỉnh dậy (tham gia vào các hoạt động<br /> xã hội) thì các tính thiện, ác, tốt, xấu - đạo đức và phi đạo đức mới bộc lộ và do đó, mới phân biệt<br /> được.<br /> Như vậy, chỉ có tham gia vào các hoạt động giao tiếp, ứng xử hàng ngày, tức là trong hoạt<br /> động thực tiễn, con người mới biết rõ mình cần phải điều chỉnh suy nghĩ và hành vi của mình như<br /> thế nào cho đúng với các quy phạm đạo đức; đồng thời, cũng biết rõ mình phải đấu tranh chống<br /> lại những hiện tượng vi phạm đạo đức như thế nào. Do đó, việc đấu tranh, tu dưỡng đạo đức không<br /> đóng kín trong nội tâm, mà chủ yếu được thực hiện trong quá trình tích cực tham gia hoạt động<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản