KHÁM BỤNG PHÁT HIỆN GAN TO
Nhìn bụng thế năm ngửa thế đứng, phát hiện một số triệu
chứng:
+Cổ trướng
+Tuần hoàn bàng h
+Vùng hạ sườn phải cao:
Nếu gan to nhiều làm vùng hsườn phải nhô cao vùng thượng vị củng nhô
cao. Thành bụng quá mỏng có thể nhìn thấy vùng lồi lõm gồ cao ở vùng gan.
+Túi mật to: vị trí túi mật nhìn thấy khối tròn gcao di động theo nhịp thở
giống như bóng đèn đáy tròn
Sờ bụng:
(1) Sgan theo phương pháp di động đầu ngón tay theo nhịp thở. Khi hít
vào sâu bdưới của gan hạ thấp trượt trên đầu ngón tay khi thở ra gây cảm giác
giúp nhận định về tính chất của gan và túi mật.
(2) * Sờ vào bgan và mặt gan nhẵn hay gồ ghề
(3) * Mật độ gan mềm, chắc hay rắn.
(4) * An vào gan cảm giác đau không. Nếu gan to, tìm vtrí đau nhất
hoặc ấn dọc theo khoang liên sườn tương ứng với vị trí của gan mạn sườn phải
để tìm điểm đau, tìm dấu hiệu ấn lõm do phù khu trú.
(5) S gan tư thế nằm ngửa hoặc nằm nghiêng trái. Nguyên tắc s
theo b dưới phía trước của gan.
(6) Nhận định tính chất bờ gan:
(7) * Khuôn hình b gan
(8) * Mềm mại, chắc
(9) * B tròn nhọn, sắc
(10) * Mật độ gồ hay nhẵn
(11) Ở người bình thường chỉ có thể sờ thấy bờ gan ở cạnh ức phải
(12) Nên s gan vào lúc đói để tránh nhằm với vòng cung của dạ dày
bệnh nhân cổ trướng. Phải chọc tháo bớt nước cổ trướng để thành
bụng mềm mại dễ phát hiện gan và bgan. Nếu bụng nhiều nước cổ trướng tìm
dấu hiệu nước đá nổi khi có gan to.
Gõ bụng
Phương pháp gõ bụng xác định ranh giới phía trên phía dưới của
gan.
Gõ gan theo qui tắc định vị:
* Ranh giới tuyệt đối phía trên
thẳng đứng xác định ranh giới giữa tiếng trong của phổi và tiếng
đục của gan. Gõ theo ngón tay giữa, dọc theo các khoang liên sườn. Xác định bờ
trên của gan:
Theo đường cạnh ức phải: liên sườn 5
Theo đường giữa xương đòn: liên sườn 6
Theo đường nách trước: Liên sườn 7
* Ranh giới phía dưới: xác định bờ dưới của gan
Nên gõ nhẹ vì gan tiếp cận với các cơ quan tạng rỗng (dạ dày, ruột). Gõ theo
thế nằm ngang, ngón tay đặt song song với bờ sườn từ rốn lên khi nghe tiếng trong
di chuyển dần lên phía trên đạt tới tiếng gõ đục. Đánh dấu vị trí gan, xác định giới
hạn đục của gan, vẽ bờ dưới của gan
Bình thường ranh phía dưới của gan vòng theo cung của bờ sườn không vượt quá
b sườn, dưới mũi ức cạnh đường ức phải 2cm. không vượt quá đường cạnh
trước, trái.
Vtrí dưới của gan thể khác nhau, do hình dạng lồng ngực thay đổi. Lồng ngực
thành cao thì bdưới của can nằm vị trí cao hơn. Khi lồng ngực xẹp (trong
trường hợp bệnh lý của phổi, hoặc dị dạng lồng ngực, bờ dưới của gan bị đẩy
xuống thấp. Cần xác định kích thước của gan theo diện đục bờ trên và bdưới.
Bình thường diện đục của gan:
* Theo đường nách trước phải từ 10 – 12 cm
* Theo đường giữa xương đòn phải 9 – 11cm
* Theo đường cạnh ức phải 8 11cm
Chẩn đoán gan to:
Muốn chẩn đoán gan to phải xác định ranh giới vùng đục tuyệt đối của gan, kết
hợp với sờ bụng để xác định bờ gan.
Trong khi khám gan, bụng cổ trướng căng hoặc trướng hơi, bờ trên của gan
cũng có thể bị đẩy lên cao
Một số vị trí đặt biệt của gan:
một số người bình thường tùy theo vtrí thế của gan mà bdưới của gan
có ththay đổi.
* Gan nằm đổ ra phía sau. Bờ dưới của gan lên cao. Chiu cao của gan ngắn n
bình thường , nên tuy gan to vẫn không sờ thấy gan.
* Gan đổ ra phía trước. Bờ gan xuống thấp khi khám gan thsờ thấy bờ của
gan mấp mé bờ sườn.
* Gan nằm chếch theo cung sườn nên khi bnh nhân t vào sâu đẩy vòm hoành
xuống cũng có thể sờ thấy gan mấp mé bờ sườn
Nghe gan:
Trong chẩn đoán bệnh của gan mật. Phương pháp nghe ít giá trị,
tuy nhiên chmột số ít trường hợp bệnh của gan thể dùng ống nghe để.
Nghe:
+ Tiếng thổi tâm thu hoặc tiếng thổi liên tục do sự tăng sinh quá mức
của mạch máu trong các bệnh ác tính của gan.
+ Tiếng ồn do cọ xát phúc mạc với mặt gan trong viêm nhim quanh
gan.